Lời cảm ơn đất trời của ... đá (viết mãi và chụp mãi chửa chán, sao lại có miền đá đẹp thế?!
Wednesday, February 17, 2010 4:48:47 PM
Việt Nam đề nghị UNESCO ghi nhận Cao nguyên đá Đồng Văn là “Công viên địa chất toàn cầu”:
Lời cảm ơn đất trời của ... đá !
Tản mạn và chùm ảnh của Đỗ Lãng Quân
Ở miền đá khô khát, hãi hùng, miên man bất tận đó, cuộc sống khắc nghiệt như ở một hành tinh chết xa xôi, nhưng cũng vì thế mà vẻ đẹp của những rừng hoa đá, rừng thú đá, hoang mạc đá, các hẻm vực đệ nhất hùng quan... của nó trở nên quyến rũ lạ thường. Và, dù là Công viên địa chất toàn cầu hay không, dù người sống trên đá chết vùi trong đá có làm giàu được nhờ đá hữu tình kia không, thì ta vẫn phải công nhận rằng: đá, với vẻ gợi cảm mê hồn của mình, đá đang phô diễn một vũ điệu tạ ơn đất trời đã sinh ra... đá. Ai bảo rằng những rừng hoa đá không toả sắc hương? Ai bảo đá vô tri không biết ưỡn ngực đi thẳng đến bàn nghị sự của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) tận bên Pari để đòi nhân loại tiến bộ xưng tụng mình là báu vật của thế gian?
Đó là chuyện của miền đá rộng gần 600 km2 ở tỉnh Hà Giang.
Có rất nhiều cái kỷ lục ở một sự kiện: trên bàn vinh danh di sản địa chất của UNESCO, hiện nay, đang có đề án Công viên địa chất toàn cầu -Cao nguyên đá Đồng Văn - Việt Nam. Với diện tích gần 600km2, miền đá thuộc 4 huyện Yên Minh, Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc của Hà Giang là cao nguyên cao nhất nước ta. Đó cũng là nơi duy nhất của Việt Nam được nể vì, xưng tôn là: “cao nguyên đá”. Một miền đá ngút ngàn, chất ngất, rợn ngợp, đẹp sởn gai ốc. Chỉ cần một cú đi bổ dọc qua cao nguyên đó, bạn đã tiêu tốn mất 200km đường đèo dốc “khủng bố tinh thần” khách du nhất của non sông Việt.
Tôi cứ nghĩ: ở hai đầu mút Nam - Bắc tổ quốc, chúng ta đã có miền sông nước cuối trời Tây Nam Bộ chằng chịt kênh rạch, cứ 2km lại có một cái... cầu; thì nhất định Trời phải sinh ra một miền đá khô khốc và độc chỉ có đá là đá ở tột đỉnh phía Bắc kia để cho nó “cân bằng phong thuỷ”. Thế mới là sơn thuỷ hữu tình chứ. Miền đá đó chính là cao nguyên cao vọi và khô khát nhất, với những con đèo hung hiểm đến độ danh bất hư truyền nhất xứ sở. Cách nay 50 năm, để mở được con đường Hạnh Phúc xuyên qua miền đá liên tu bất tận kia, tuổi trẻ Việt Nam lại có thêm một loạt các kỷ lục đau buồn nữa: đó là con đường tiêu tốn nhiều ngày lao động thủ công nhất trong lịch sử làm đường nước ta - 2,2 triệu ngày (nếu chỉ một người khoét núi mở đèo, thì phải hơn 6.000 năm mới xong); đường vượt đèo Mã Pí Lèng (đỉnh của cao nguyên đá, hơn 2000m so với mực nước biển) những người thợ phải treo mình trên vách đá suốt 11 tháng ròng rã với không ít hy sinh (chuyện chưa từng có này đã được nhà văn Nguyên Ngọc gọi là xây Kim Tự Tháp ở Việt Nam, đã được một số trường Đại học, cao đẳng cho vào giáo trình dạy cho sinh viên, đã được khắc vào bia đá dựng trên đỉnh dốc Mã). Lại kỷ lục nữa: đường Hạnh Phúc ra đời, tổng số người thiệt mạng trong 8 năm thi công, với lưu lượng thường xuyên cả vạn người của 18 dân tộc tham gia đã phải quy tụ vào “thờ” ở một cái nghĩa trang riêng. Và, với 250 nghìn dân đang sinh sống, thuộc 17 dân tộc thiểu số còn quá nhiều khó khăn hiện nay, cao nguyên đá Đồng Văn còn giữ ngôi “quán quân”: là miền đất nghèo khó và quật cường nhất Việt Nam. Có một “nền văn minh” đẽo đá dựng tường, dựng nhà, xây mồ mả bằng đá; vốc từng vốc đất nhểu vào các trận địa đá mênh mông để gieo từng hạt ngô răng ngựa. Đặc biệt, những cuộc “xưng vương lập quốc” đau thương với “vua Mèo” Vương Chí Sình; các cuộc trường chinh đẫm máu của người Pháp qua các “cửa ải đá” một người cố thủ có sức địch đủ thiên binh vạn mã hòng đoạt đất và chiếm vựa thuốc phiện lẫy lừng của vùng Tam Giác Vàng này; cuộc xông pha giải phỏng miền Bắc núi đá Hà Giang khỏi loạn nổi phỉ đóng cổng trời năm 1959... - đó đều là những “kỳ án”, những trang sử miệt rừng vô cùng ám ảnh.
Ai cũng biết, tất cả những điều đó, chung quy đều bởi vì sự dữ dằn, kỳ vĩ, độc nhất vô nhị của cao nguyên đá Đồng Văn mà ra.
Đã bao đời nay, người cao nguyên Đồng Văn cũng như người Hà Giang nói chung vẫn phải thở dài não nề khi nghĩ đến những hoang mạc đá bất tận và cằn cỗi quê mình. Quê hương tôi tự nó đã... cao rồi. Sống trên đá, chết vùi trong đá là câu cửa miệng của bà con, cũng như những người nói và nghĩ về bà con. Ngay cả khi được gọi là “vua Mèo” quyền lực nghiêng đá nghiền giời rồi, kết nghĩa anh em, rồi được Bác Hồ mời về họp Quốc hội hẳn hoi, ông Vương Chí Sình vẫn phải ngồi cáng đi ngựa suốt 3 ngày mới vượt qua khúc núi từ dinh thự ra đến đường ô tô. Năm 1962, ông Sình chết, quan tài ông ấy vẫn phải chông chênh trên vai tráng đinh người Mông đi bộ về cố hương. Đường Hạnh Phúc mở xong, sau 8 năm ròng hàng vạn người đổ mồ hôi xương máu, thì đó là lần đầu tiên, gần 8 vạn đồng bào sống trong hoang rậm của 4 huyện núi đá mới được đặt chân lên cái gọi là đường xe cơ giới. “Có lần, bà con đã chán nản hỏi cán bộ: chúng tôi sống trên đá, chết vùi trong đá, biết làm gì đế sống được làm người đây? Nếu có ai mua, bán được đá đi mà ăn thì may ra mới thoát được đói nghèo? Nhóm nhà địa chất đang bạc mặt ngồi nghĩ kế lập hồ treo trữ nước “giải” cơn khát truyền kiếp cho cao nguyên đá nghe thấy, một vị tiến sỹ bèn mơ màng: ấy, đừng đẽo đá đi bán, hãy giữ lấy đá, ta làm công viên tuyệt đẹp để nhân loại đến đây xem các kỳ quan của đá. Xem đá vô tri đang xưng tụng, hàm ơn Trời Đất đã sinh ra đá như thế nào!” - TSKH Vũ Cao Minh (Viện Địa chất), người đi tiên phong và đã rất thành công trong phương án táo bạo lập “hồ treo giải khát”, cũng như trong hồ sơ về những giá trị đáng tôn vinh cao nguyên đá Đồng Văn kể.
Phải rồi, hôm đó ông Minh và cộng sự đang cao hứng uống rượu ngô với dân bản thì nói “mộng mơ” thế thôi, chứ hồi đó Việt Nam làm gì đã biết đến khái niệm “Công viên địa chất toàn cầu”! Nhưng, câu chuyện đó cũng cho thấy, rõ ràng, ý tưởng về một công viên địa chất cho toàn nhân loại tiến bộ chiêm ngưỡng đã manh nha từ rất lâu. Bởi, bao đời nay, rất tự nhiên thôi, bao tao nhân mặc khách, bao gã quay phim và nhiếp ảnh, bao nhà văn và nhà báo... đã bị cao nguyên đá hớp hồn, “đày đoạ” rồi. Không hò hẹn, không màu mè, tự khắc họ cứ bị cái ma lực của các hoang mạc đá thăm thẳm và vòi vọi kia dụ dỗ, cứ lên lên xuống xuống, cứ ngẩn tò te rồi luẩn quẩn loanh quanh với miền đá.
Loài người, tính đến năm 2009, mới chỉ có 10 công viên địa chất toàn cầu, cả Đông Nam Á duy nhất Malaisia có một cái. Tháng 4 năm 2010, UNESCO sẽ tổ chức họp tại Malaysia và có thể nhân loại văn minh sẽ cùng “nện búa” công nhận miền đá Đồng Văn công viên địa chất toàn cầu đầu tiên cho Việt Nam.
Bạn muốn trò chuyện với Tạo Hoá, muốn biết sự trồi lên thụt xuống, sự vỡ oà, đứt gẫy và bóp nắn tài tình của Bà Bụt đã nặn ra bề mặt trái đất này không? Xin hãy lên với “công viên địa chất toàn cầu - cao nguyên đá Đồng Văn”. Tôi lên Đồng Văn, Mèo Vạc đến thuộc lòng từng khúc cua, từng mỏm núi ven đường, đến mức người ta dùng tư liệu của tôi để “viết sử” cho đường Hạnh Phúc, để lập hồ sơ cho Mã Pí Lèng là được công nhận di sản. Người ta dùng ảnh tôi chụp để “phóng” thành pa-nô, áp phích “lăng xê” Công viên địa chất toàn cầu ở đỉnh Mã Pí Lèng. Lần nào bị đá dụ dỗ lên với mây gió Đồng Văn, Mèo Vạc, tôi cũng tự hỏi: bằng sự tài hoa và những ngụ ý nào, mà Ông Trời đã ban cho muôn đời dân Việt ta một thắng cảnh, kỳ quan lạ lùng đến thế. Có phải 600 triệu năm qua, các hoang mạc đá, tường thành đá, rừng đá và biển đá nơi này đã tự gọt rũa mình, tự trang điểm “rèn đức luyện tài” cho mình để bày tỏ lòng biết ơn Ông Đùng Bà Đoàng đã sinh ra ngợm ngợp họ hàng nhà đá?
Cuối năm 2009, một hội thảo quốc tế về Xây dựng Công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn đã được UBND tỉnh Hà Giang, Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch, Bộ Tài nguyên môi trường phối hợp tổ chức chính trên cao nguyên đá, với sự tham gia của nhiều nhà khoa học danh tiếng về địa chất trên thế giới.
Đây, thẳng cảnh “Núi đôi Quản Bạ” với hai bầu ngực tròn trị, chằn chặn, mơn mởn, xuân thì, gợi cảm. Cặp “vú cô Tiên” hiện ra khi tầm mắt của bạn vừa chạm đến Cổng trời Quản Bạ. “Đứng trên cổng trời Quản Bạ/ Tưởng mình cưỡi gió ngắm trần gian” - cái lúc bạn đang làm tiên ông tiên bà ngắm trần gian đó, chợt trời đất mở ra một thung lũng với bầu ngực thanh tân kỳ lạ rất dễ khiến người ta nghĩ đến chuyến thượng sơn của mình là hành động để “bõ công bác mẹ sinh thành ra ta”!.
Đây, “Hoang mạc đá Sảng Tủng”, đá hoang vu cằn cỗi, như có người khổng lồ vụng về vãi trên mặt núi cả triệu tấn bột mì rồi mặt đất mềm liên tục trồi lên thụt xuống trong các kỳ hoạt động tạo sơn khiến “bột mỳ” vỡ bửa ra, lăn tăn, bất tận, muôn hình vạn trạng. Thế rồi, bột mỳ đông cứng dần; và... chư vị thần linh đã phất cành dương liễu và nước Cam Lồ “hô biến” để tất cả thành đá.
Đây, “Vườn thú đá Lũng Pù”, hàng nghìn con vật hồn nhiên, hoặc khổng lồ hoặc tí tẹo đã mải trốn việc luyện linh đan nhầm chán, rong chơi giữa mây mù rồi bị Thái Thượng Lão Quân (ví dụ thế) nổi giận “bấm quyết niệm chú” biến tất cả thành tượng (thú ) đá.
Đây, “Bãi đá hải cầu Vần Chải” bãi biển xám với hàng vạn con hải cẩu da trơn nhẵn, ngóc đầu, như đang vặn vẹo, uốn lượn tấm thân béo mẫm của mình để tự “tu tiên” hoá đá.
Kia nữa, “Vườn hoa đá Khâu Vai”, “Rừng đá Sà Phìn, Lủng Táo” với những lưỡi mác đá tua tủa, nhọn hoắt xiên thẳng lên nền trời.
Đây, “Tháp kim Pả Vi” với hệ thống đá thân to hình tháp, mũi nhọn hình kim nhọn hoắt, được các chuyên gia coi là hiếm có của Việt Nam và thế giới.
Tiếp đến là các “Rừng măng đá tự nhiên”, các triền núi hình răng cưa, các “Rừng đá phong hoá” biến hóa khôn lường. Đây, dãy đỉnh “Kim tự tháp đá Sà Phìn, Cán Chu Phìn”; các dãy đá hình vảy rồng, những vách đá vôi vào loại cao nhất thế giới ở Tu Sản (các nhà khoa học gọi là “Những hẻm vực Nho Quế”); hệ thống 7 cái hang động kỳ ảo, từ Hang Rồng, đến Hang Mẹ Chúa Ba...
TSKH Vũ Cao Minh nhấn mạnh: “Đặc biệt độc đáo là các hẻm vực sông Nho Quế với mặt cắt địa hình từ khu dân cư ở, xuống đến lòng sông Nho Quế khoảng 1.000m, đây là một đặc thù mà ít có vùng đá nào trên thế giới có được. Các hẻm vực sông Nho Quế là những kỳ quan của loài người, những vách đá vôi cao bậc nhất trên thế giới. Các “cường quốc” về Công viên địa chất như Trung Quốc cũng không có được. Nhiều chuyên gia người Pháp, xưa kia đã kỳ công nghiên cứu khu vực đèo Mã Pì Lèng, người ta gọi đó là những “tượng đài địa chất” tuyệt vời. Người Việt Nam gọi đây là một đệ nhất hùng quan, đứng ở đó, chúng ta mới cảm nhận hết được sự hùng vĩ của cao nguyên đá, cao nguyên cao nhất Việt Nam”. Bà con bản xứ, bao đời nay vẫn đóng cọc trên đỉnh Mã Pí Lèng để bấu víu lúc buộc phải vượt qua, kẻo sợ khi bò qua chín khoanh đèo ven mép vực nghìn mét lồng lộng gió kia, họ sẽ bị... bay xuống sông Nho Quế. Họ gọi đó là Dốc Chín Khoanh, Con Dốc Của Giàng (Trời).
Thật khó để diễn tả hết vẻ đẹp của Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, xin được nhường lời cho những tấm ảnh:
Ảnh 1: Sông Nho Quế bé như sợi chỉ, nhìn từ đệ nhất hùng quan Mã Pí Lèng
Ảnh 2, và 2a: Một “Hẻm vực Nho Quế” từng được người Pháp vinh danh là “tượng đài địa chất”.
Ảnh 3 và Anh 4: Hoang mạc đá ở Cán Chu Phìn, Mèo Vạc.
Ảnh 5: Rừng đá sắc nhọn, hình mũi tên mũi mác chọc lên nền trời ở Lũng Pù, Mèo Vạc.
Ảnh 6: Dốc chữ “em mờ ngược” (W) nổi tiếng ở “Công viên địa chất toàn cầu”.
Ảnh 7: Núi đôi Quản Bạ.
Ảnh 8: Một bông hoa đá “mọc” trơ trọi giữa thảm rừng Quản Bạ.
Ảnh 9: Đá hình kim tự tháp ở Mèo Vạc.
Ảnh 10 và 11: Các vườn đá với hình đàn hoang thú, hình cánh chim tung bay...
Ảnh 12: Một hang động kỳ vĩ bên vách núi bờ sông Nho Quế, xã Khâu Vai, huyện Mèo Vạc, nằm trong hệ thống di sản tôn vinh của Công viên địa chất toàn cầu.
Ảnh 13 và 14: Chợt gặp ở nơi “sống trên đá, chết vùi trong đá”.
Các ảnh 15, 15a, 16, 17, 18, 19, 19a: Các viên đá, những ngọn núi đá, cuộc sống trên các hoang mạc đá luôn làm người ta sửng sốt, bất ngờ.
Ảnh 20 và 21: Miền đá đang trở mình, sửa sang, quảng bá cho Dự án Công viên địa chất toàn cầu đầu tiên ở Việt Nam.












