My Opera is closing 3rd of March

Subscribe to RSS feed

"Gặp đây anh mới hỏi nàng/ cái gì lủng lẳng một gang trong quần" - lời hát ở sân Miếu Trò, tớ không tự nói tục...

Dí dủm ở Miếu Trò...

Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng

Đêm tháng Giêng năm Canh Dần 2010, xóm Trám, xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Thời khắc 0h đã điểm, sương sa nhẹ, tối bịt bùng, um tùm cây cổ thụ trùm phủ cả sân hội, ngót một nghìn người nín thở, đèn điện tắt phụp, chỉ để một ngón nến le lói trong Miếu Trò... Vị trưởng lão cẩn trọng mở chiếc hòm thiêng, bóc các lớp khăn điều lấy ra bộ dùi gỗ tả thực hình dương vật sơn son (nõ) với chiếc mảng gỗ đỏ y chang hình âm vật (nường). Trịnh trọng, kính cẩn trước ban thờ mù mịt khói nhang, người cử hành Lễ Mật trao nõ cho người nam ở trần chít khăn và nường cho người nữ yếm thắm. Tiếng hô “Linh tinh tình phộc, phộc!” đầy hoan hỉ vang lên. Hình hài dương vật và âm vật được đôi nam nữ cầm, đâm phộc vào nhau sau mỗi tiếng hô. Đâm ba lần để cầu nhân khang vật thịnh cho cả một năm. Tiếp sau giờ Lễ Mật là màn Tháo Khoán, bà con chạy quan Miếu Trò 3 vòng ngược chiều kim đồng hồ, vừa chạy vừa hú, trai gái tự tình thoải mái ..., trong bóng đêm sân miếu và các bãi đất, bờ ao...

“Tôi ra với hội đây, kẻo nhớ lắm ông ơi!”


"Ai ơi chớ bảo tôi già/ Tôi còn gánh được năm ba cái lờ... l... ờ...".


Mang cả voi đực, ngà nhọn, vòi dài để đi cày, có lẽ chỉ có ở Tứ Xã!


Bà chị nông dân ghánh chữ Xuân trong trên vai, lại còn hát hò hơi bị... lẳng đấy. "Ai mua tôi bán xuân cho..."/ "Còn xuân thì mua xuân đi/ nay lần mai lữa còn gì là xuân?".

Dí dủm cười, ý nhị cười, cưỡi vỡ miếu vỡ hội hoặc đỏ bừng mặt mũi vì xấu hổ khi mục sở thị các sinh thực khí quá cỡ và sơn son lại được người xưa đẽo gọt quá... thực - đó là cảm giác chung của cả nghìn người dự Trò. Chúng ta đã khá quen với “vỗ mông kén chồng”, chợ tình khoáng đạt “chàng ơi xuống núi cùng em/ nhớ mang theo ngựa và đi một mình”, với các tục lệ cho trai gái sinh hoạt tình ái, tình dục tương đối cởi mở với bạn tình trước và cả sau hôn nhân ở vùng cao. Nhưng, có lẽ, Trò Trám là cái hội hy hữu ở đồng bằng Bắc bộ lại có thể táo bạo đến nhường ấy! Từ thượng cổ, bà vẫn làm như thế, sau thời gian dài bị bài bác là tục tĩu, dâm dật, cần xoá bỏ, năm 2000, lễ hội Trò Trám được nhà nước tổ chức hội thảo xôm trò rồi phục hồi rất xôm hội với quy mô quốc gia. Năm 2010 này, Miếu Trò long trọng đón bằng công nhận di tích cấp tỉnh, ngót một nghìn người về dự với dăm bảy chục nhà báo và nhiếp ảnh gia. Họ tự về, chứ tuyệt nhiên không có ai mời. Hội làng Trám được tổ chức nguyên sơ, nghi lễ cổ sơ, người dân thuần phác - đó, có thể nói là thứ “của hiếm trong thì buổi mà giữa giêng hai cả nước đang đau đầu vì những biến tướng xót xa của văn hoá lễ hội này.

Khách và chủ không phân biệt, họ cùng xôn xao trước những xúc cảm về miền đất cổ trên Đất Tổ (Phú Thọ), cùng truồi lòng với thế giới của các quan niệm phồn thực, sinh sôi, tốt tươi, nhân khang vật thịnh của cổ nhân. Dường như tất cả những người về với Trò Trám đều tự nguyện, nhất tề lột bỏ các “bộ mặt” nào đó trong guồng quay “nền văn minh kỹ trị” của mình, để trở về với cái gì đó thật là nguyên thuỷ. Những cái tên Miếu Đụ Đị (Miếu Trò), Nõ Nường, Lễ Mật, Tháo Khoán, Linh Tinh Tình Phộc..., nó rất gợi, rất là “nhây nhả” (chữ dùng của nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Nhàn), nó khiến người ta không thể nghĩ khác về các quan niệm “phồn thực” cổ xưa nhất, bản chất nhất, hồn nhiên nhất mà không một tộc người nào trên thế giới không từng trải qua. Dù âm vật và dương vật gỗ được người nghệ nhân xưa đẽo tạc, sơn son quá “tả chân”, khiến nhiều người đỏ dừ cả mặt (!), nhưng cảm xúc mà giờ thiêng trước giờ Tắt Đèn Tháo Khoán đầy háo hức kia lại không phải là một cái gì không trong văn vắt. Dẫu rằng, xưa, giờ Tháo Khoán, trai gái tìm hiểu, thậm chí yêu đương rồi trêu ghẹo, sàm sỡ và giao hợp ngay tại sân miếu, sau miếu, rìa miếu, bìa rừng. Họ sinh con đẻ cái, làng rất trân trọng, thậm chí quan viên địa phương còn lên cả kế hoạch săn sóc đặc biệt với những người sinh ra bởi cuộc giao hoan nhân dịp Lễ Mật..., coi đó là bằng chứng về cái việc họ rất nhiệt thành “hành động” để đem khước về cho dân làng.

Từ chiều, người xóm Trám đã náo nức đón khách. Không xuất hiện một thứ dịch vụ, kể cả hàng quán ăn uống, thu vé giữ xe. Bạn bè, du khách có thể tự nhiên vào dự bữa cơm chiều và trò chuyện với bà con ven Miếu Trò như đến nhà người thân. 19 giờ, làng đã náo nức bước chân vào hội, từ phía ao, từ sau miếu, từ phía chợ, người làng và người muôn phương kéo đến. Đông lắm, nhưng không lộn xộn, không thớ lợ kiểu lễ hội chùa Hương hay Yên Tử, Chùa Thầy, không gian quanh Miếu Trò thật trong trẻo. Năm nay, cụ đồ già 97 tuổi Dương Văn Thâm ốm o không thể đến hội, dù “đàn em” của cụ, có người ngồi xe lăn, đội mũ trấn thủ kín tai vẫn bon bon ra cửa miếu trước sự xúc động của các ông kính nhà báo. Từ nửa thế kỷ trước, ông Thâm là người đầu tiên của nước Việt Nam ta thời có chữ quốc ngữ “dám” sưu tầm, nghiên cứu và “dâng sớ” xin nhà nước phục hồi lại Trò Trám. Đầu những năm 1950, anh giáo Dương Văn Thâm từ Bộ Giáo dục hồi hương, thấy Trò Trám tuyệt vời quê mình bị bỏ bẵng, nhớ tuổi thơ lẵng nhẵng theo bố mẹ xem cử hành giờ Lễ Mật thiêng liêng. Anh giáo Thâm bèn cắt giấy nâu ở các bao bì xi-măng, viết công trình, miêu tả cực kỳ chi tiết lại các tấn trò của Hội Trám từ trước Cách mạng Tháng Tám. Là người làng, lại đã trực tiếp xem đủ Bách nghệ khôi hài, Lễ Mật, Tháo Khoán từ năm 1928, nên ông Thâm nhớ cả, nhớ rõ, mười mấy người đóng đủ sỹ nông công thương, ai cầm nõ, ai bê nường để phộc trong miếu. Sau này, có thể nói không ngoa rằng, ít có một nhà nghiên cứu Trò Trám và văn hoá phồn thực nào mà lại không đến gặp “cụ giáo Thâm” để đọc tài liệu, nghe kể chuyện, copy công trình “của nhà làm được” đó. Việc sử dụng công trình, tư liệu kia mà hầu như không mở ngoặc nói đến công lao của cụ Thâm với Trò Trám đã khiến nhiều người hiểu việc tỏ ra bất bình. Ông giáo Thâm chỉ cười ấm áp: mình viết ra, họ đem cái của mình đi khoe với bàn dân thiên hạ, với cả thế giới, mình phải cảm ơn họ mới đúng chứ.

Nhà cụ Thâm đêm hội Trò Trám đông khách lắm. Cơm nước xong, vợ bà ngoài 90 tuổi ghé tai chồng, “ông ở nhà với cái Thiết (con gái), tôi ra xem Trò, không đi nhớ lắm..!”. Đôi mắt đục lờ của bà cụ vời vợi, những đêm Trò mấy mươi năm qua bừng bừng sống dậy, bà lẩm bẩm với khách: “bà đi Hội từ ngày còn ở trong bụng mẹ mà”. Anh Chỉnh, con trai ông Thâm dắt mẹ ra Miếu Trò, năm trước, anh cũng đã chen cật lực để giúp nhạc sỹ Doãn Nho và nhà nghiên cứu Phan Đăng Nhật có thể vào được hội mà quay phim chụp ảnh. Cứ náo nức, dền dứ xua tôi ra với Miếu Trò, ông Thâm rủ rỉ: ra đi cháu, ra đi kẻo muộn. Giờ nhà nước tổ chức được hội, trông thấy người Nhật, Mỹ, Anh, Pháp..., đủ các thứ tiếng và các màu da về với Trò Trám, ông vui lắm. Giờ ông có chết đi, cũng rất là ngậm cười.

“Chúng cháu run lắm các cụ ạ”

Ra đến hội, thỉnh thoảng gặp mấy tráng đinh chít khăn, đóng khố nhảy nhót diễn trò, anh Chỉnh lại rỉ tai tôi: ông này là con “rơi” trong mùa Lễ Mật năm trước, sinh ra không giống bố, giống một ông đi hội trong làng. Sắp nhắm, bố con mới dám nhận nhau đấy. Người già xem hội, dự lễ đông nhất, vì họ có ký ức về những giờ Lễ Mật năm trước, họ nhớ về các đêm tháo khoán khi họ còn xuân thì... Trẻ em thì tò mò. Thanh niên thì háo hức và dí dủm liếc nhau hoặc không liếc ai cũng tủm tủm tự cười. Du khách, khỏi nói, đều hào hứng đặc biệt. Tứ dân chi nghiệp (bách nghệ khôi hài) được diễn hồn nhiên, khiến ai xem lần đầu cũng phải choáng vì sự hài hước, ngộ nghĩnh, thâm Nho của người Tứ Xã bao đời nay. Người Tứ Xã lù lù rước ra trình trò một ông voi khổng lồ, trong bụng voi có tới 4 người bước đi. Ngà trắng toát, nhọn hoắt, da voi đen trũi. Chơi ngông quá, voi đi cày! Cây đàn to hơn người đánh, cái cưa của ông thợ mộc to như cánh cửa, lưỡi cưa sáng choang mà lại dày gần... 5cm. Cái loa bọc giấy điều to bằng bắp đùi, dài như đòn gánh. Tất cả đều giống như bước ra từ tranh biếm họa.

Cái giọng người Tứ Xã rất nặng, hao hao giọng người Thanh Hoá, họ nhấn nhá vào chữ nào là... bật cười nhây nhả rồi đỏ mặt chữ ấy.

Các trò thợ cày, thợ cấy, thợ mộc, câu cá, đánh lờ..., trò nào cũng sắc sảo, đùa cợt sâu cay, ngôn từ điêu luyện “sát sàn sạt” chuyện nam nữ tính giao, thật sảng khoái. Ngoài 350 câu lục bát, còn rất nhiều “thơ” ứng tác tức thì, vẻ như cái gì cũng quy vào nõ và nường rồi “phộc” cả: “Đàn ông tậu ruộng ba bờ/ chớ để kẻ khác mang lờ đến đơm”; cô thợ cấy hát: “Người ta đi cấy lấy công/ tôi nay đi cấy lấy ông chủ nhà/ Đi cấy thì gốc chổng lên/ ngọn thời cắm xuống mới nên mùa màng”. Còn phải nói, anh trai làng chớt nhả bậc nhất: "Gặp đây anh mới hỏi nàng/ Cái gì lủng lẳng một gang trong quần?". Tay đã cầm cái nõ thều lễu khía khấc như thật, chàng lại còn nhảy sang bên nữ, cất giọng hát rất là "khói lửa" nữa: "Bên kia có nứng cùng chăng/ Bên này lủng lẳng như giằng cối xay". Tích trò nào trong bách nghệ cũng có thể quy về chữ "dâm" với hoạt động tính giao cụ thể lắm: “Ước gì em hoá ra trâu/ anh hoá ra chạc xỏ nhau cả ngày”; “Ước gì em hoá lưỡi cày/ anh hoá thành bắp lắp ngay bây giờ”; “Bà già như ruộng đỉnh gò/ đang hạng con gái như kho ruộng mềm”. Đến như cái ông già đi gánh lờ, râu tóc bạc như cước, bước đã chuệnh choạng rồi, cũng nghênh ngang đọc: “Ai ơi chớ bảo tôi già/ Tôi còn gánh nổi cả ba cái lờ!”. Chú thợ mộc chả kém câu nào: “Người ta xẻ gỗ trên ngàn/ anh đây cưa lấy một nàng đương tơ”. Đó là thế giới của những ẩn ngữ nõ nường.

Năm Canh Dân 2010, người Tứ Xã và người muôn phương về dự hội xuân ấm áp, cổ xưa bên Miếu Trò sẽ gặt hái nhiều niềm vui, sẽ được khước sinh sôi lắm. Bởi chưa bao giờ, một năm miếu Đụ Đị lại chứng kiến Nõ và Nường phộc vào nhau tới 6 cái (thay vì 3 cái) với lời hô dõng dạc thế. Hội đồng bô lão phải cho loa đi tìm người nam ở trần đóng khố chít khăn với người nữ yếm thắm thôi chạy trốn, hãy... e dè trở về miếu ngay lập tức. Bởi ban tổ chức trót hứa với các nhà báo, là chúng tôi buộc phải tắt đèn, các vị phải tạm ra khỏi miếu cho chúng tôi thực hiện nghi lễ tối cổ của tổ tông. Tắt đèn, tình phộc trong bóng tối và tiếng hô, tiếng hú như dội về từ mấy nghìn năm văn hoá Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun..., không ai được quay phim chụp ảnh! Các nhà báo, nhà nghiên cứu cứ yên tâm ra ngoài, phộc xong chúng tôi sẽ phộc lại một đận nữa để các vị quay phim chụp ảnh. Thế là, ngoài một bữa tiệc hết bay con lợn béo để thụ lộc giữa sân Miếu Trò, chư khách mến thương thức trắng đêm với người Tứ Xã còn được rất nhiều khước qua 6 lần “phộc”, không lần nào... trượt. Chả trách, hồi mới phục dựng Trò Trám, Tứ Xã không tài nào tìm được cặp nam nữ diễn trò tính giao nõ nường đêm Lễ Mật. Có cặp nghe các bề trên nai lưng vận động đã nhận lời, nghĩ suốt mấy ngày đêm, nghe tin khách Tây, Tàu về rất nhiều, cặp trai tân gái chỉ bèn chắp tay xin lỗi làng: thưa, “linh tinh tình phộc” cho làng thì chúng con chả tiếc, nhưng người ta chụp ảnh quay phim rồi đem đi khắp thế giới, chúng cháu run lắm cụ ơi!

Đ.D.H
(Mời độc giả đón xem chùm 15 ảnh về Trò Trám 2010 trên Lao động điện tử)

Bài trên Lao Động:
http://www.laodong.com.vn/Home/Di-dum-o-mieu-Tro/20102/175532.laodong


February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28