My Opera is closing 3rd of March

Quỳ lạy một nền văn minh đã mất ở Cánh Đồng Chum

[/B](Đã đăng dài kỳ trên tạp chí Doanh nhân)[/B]
Phóng sự ảnh về Cánh đồng Chum:http://www.vietimes.com.vn/vn/dulich/2264/index.viet

Quỳ lạy một nền văn minh đã mất ở Cánh Đồng Chum
Tản mạn của Đỗ Doãn Hoàng
Nếu chưa lang thang ở Cánh Đồng Chum (ba chữ tôi đều viết hoa), thì bạn sẽ cho rằng có thể tôi hoá rồ rồi, lặn lội từ Việt Nam sang Bắc Lào xa xôi trên cao nguyên đầy sương khói này để quỳ lạy mấy cái đống đá nhấp nhô gồm bảy trăm viên: đá ong, đá vôi, đá cẩm thạch. Tôi biết chẳng khó khăn gì để bạn nghĩ như tôi vừa nói. Song, tôi lại vẫn tin rằng, bạn mà sang xứ sở hoa Chăm-pa đó, lặn lội với Cánh Đồng Chum, chắc chắn bạn cũng sẽ phải sụp xuống quỳ lạy 700 cái chum có từ 3.000 năm trước! Như là quỳ lạy biểu tượng của sự bí ẩn đầy kiêu hãnh. Niềm kiêu hãnh của một nền văn minh đã mất được đẽo tạc bằng đá. Và bạn sẽ không cười tôi.
Bạn tự hỏi: di sản văn hoá thế giới này, do trời đất hay một vương triều, một bộ tộc nào tạo tác mà thành? Câu hỏi vẫn còn phong kín cho loài người thả rông trí tưởng tượng của mình mà tiếp tục “thầy bói xem voi”. Thứ đá ấy dậy tình mê tơi lên được. Đó là những trang sử đá kỳ thú mà loài người chưa thể đọc dịch nổi. Thứ mật ngôn mà có thể, chỉ có đá mới hiểu nổi. Tiếc thay, đá không biết nói thứ ngôn ngữ mà một ai trong số khoảng bảy tỉ người của địa cầu này có thể nghe nói được. Cánh Đồng Chum được tạm coi như sứ giả của một nền văn minh không đã mất, nó được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới, năm 2001. Là biểu tượng của đất nước Triệu Voi quyến rũ.

Phôn Sa Vẳn - trước lúc kể chuyện những chiếc chum
Đêm Phôn Sa Vẳn tĩnh lặng tuyệt đối. Xiêng Khoảng rộng nhất nước Lào, nằm ở phía Bắc xứ sở hoa chăm-pa, giáp ranh với tỉnh Nghệ An của Việt Nam. Thị xã Phôn Sa Vẳn cổ kính với những vòm án nhà thưa thớt quanh những quả đồi cỏ savan mỏng mượt, những đàn đại gia súc mơ màng đi trong nắng; nhưng, cái góc sôi động của nó, trong đêm, ở vũ trường sàn nhảy thì lại chẳng kém gì Ma Cao trác táng. Vũ nữ quay cuồng và (nói vụng) người ta cứ chọn các noọng-sáo (em xinh đẹp) rồi quắp đi bán mua tình ở đâu đó một cách tương đối tự do. Chợ Phôn lèo tèo, nhưng có bác bảo vệ súng AK báng gấp lăm lăm. Tinh thần đề phòng phỉ vẫn còn rất cao. Đặc biệt là khi chúng tôi ghé thăm đơn vị quy tập hài cốt liệt sỹ quân tình nguyện Vịêt Nam hy sinh tại chiến trường Lào, anh em vẫn phải ăn dầm ở dề trong rừng hoang, đối mặt với phỉ như cơm bữa. Những chuyến ôtô vượt đèo dốc kinh người cả tuần trời, những chuyến máy bay trực thăng vào thủ phủ của Vàng Pao (mà Long Chẹn chỉ là một ví dụ), ở mỗi khu vực, các chiến sỹ ta vẫn phải lập chốt bảo vệ cẩn mật cho công việc chở cả trăm bộ hài cốt về Phôn Sa Vẳn.
Nhưng, dẫu thế nào thì, đêm nay, Phôn Sa Vẳn vẫn tĩnh lặng tuyệt đối. Koong Kẹo ngoài ba chục tuổi, là chủ một khách sạn lớn, chuyên phục vụ ăn ở và công việc hướng dẫn viên cho khách nước ngoài. Kẹo gầy toong teo, anh Tâm - lái xe của huyện uỷ Kỳ Sơn ngồi với Kẹo ở phố Phôn Xạ Ạt cứ tủm tỉm “phát song ngắn” với tôi rằng: ở nước mình mà gặp thằng này thì ai cũng nghĩ là nó nghiện. Tôi nói điều đó bằng tiếng Anh cho Kẹo nghe (anh Tâm không nghe được), Kẹo cười sảng khoái, cái cười của dân làm ăn quyền biến. Hắn lái xe Zeep của quân đội Mỹ chính hiệu với bộ ba đờ xốc trước xe cong cong như hai lưỡi hái đen ngòm rất găng-xtơ đưa chúng tôi vào vũ trường. Kẹo khoe, theo lối của một hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp: Xiêng Khoảng gồm cả hệ thống đồi núi trập trùng, cao từ 1.600 -2.000m so với mực nước biển. Lào quá rộng, nhưng dân số chỉ… 7 triệu người. Khí hậu lại càng trong lành. Mỗi ngày có đủ bốn mùa, buổi sáng và buổi tối se lạnh, lại bảng lảng sương mơ. Tạo hoá ban cho sự tốt tươi ấy, chẳng hiểu sao Kẹo vẫn gầy. Có thể vì hắn khôn quá nên người quắt lại. Khách sạn của Kẹo, từ cái đĩa đựng nến cũng làm bằng quả lựu đạn chẻ đôi (như nửa quả dưa hấu). Khu trưng bày toàn… bom và súng ống, nhặt từ đống phế liệu của cuộc chiến chống xâm lăng. Người Lào yêu nước (Pa-thét Lào) hy sinh đã nhiều. Riêng quân tình nguyện Việt Nam hy sinh ở Xiêng Khoảng đã là khoảng 12 nghìn người, trong đó hơn 2.000 người vẫn lặng lẽ tủi hờn nằm đâu đó trong hoang rậm rừng Lào. Hầu hết những cánh rừng tít hút đó vẫn có phỉ hành hoành.
Địa phận Xiêng Khoáng có chung biên giới với Việt Nam và đã từng là nội thuộc Việt Nam (1434) cũng như bị sáp nhập vào Việt Nam dưới cái tên Trấn Ninh (1479) ; sau khi vua Souriya Vongsa băng hà (1694), Lào bị chia ra ba vương triều, Xiêng Khoáng lại nội thuộc Việt Nam lần nữa. Năm 1893, hiệp ước Pháp-Xiêm được ký kết, Xiêng Khoáng mới trở lại của Lào thuộc Pháp. Mỹ ném bom xuống Xiêng Khoảng ác liệt nhất là vào cuối những năm 1960 (thế kỷ 20), có trận, sử cũ chép: bom Mỹ đã san phẳng 3.000 ngôi nhà, nhiều ngôi chùa và nhiều kiến trúc nổi tiếng khác của Phôn Sa Vẳn. Cách Phôn Sa Vẳn không xa, Hang Thẩm Piu từng được cả thế giới đau lòng biết đến với việc: năm 1969, không quân Mỹ bắn vào đó 3 quả tên lửa, giết chết trong tích tắc hơn 400 thường dân và bộ đội tình nguyện Việt Nam. Người ta đã tìm thấy trong hang ít nhất 400 bộ xương người bị chết cháy.
(Sưu tầm)

Giữa bối cảnh ấy, Xiêng Khoảng có Cánh Đồng Chum bí ẩn. Bí ẩn như đá và câm lặng như vỏ quả đất đang ngày càng hung hãn của chúng ta vậy. Cánh Đồng Chum ở Lào cũng nổi tiếng như Sa Pa hay Vịnh Hạ Long ở Việt Nam. Tôi, Kẹo và hai cô gái người Anh đẹp ngời ngời ngồi ở góc phố Phôn Xạ Ạt nói về Cánh Đồng Chum. Hai cô khoe, ở nước Anh khu vực kỳ ảo, với những tảng đá nhẵn nhụi, xếp hình rất là ám ảnh (như những bức điêu khắc, như nghệ thuật sắp đặt kỳ khu) trên một khu vực cỏ mượt rộng lớn. Như là bày thạch trận. Kẹo bảo, đá bị xô ngã nó thành hình thế, có gì là lạ. Công viên đá hát ở Tây ư? Đá rỗng, đá chênh vênh, gió hít vào thì đá nó rú hát, có gì lạ. Còn đá ở di sản thế giới nổi tiếng Cánh Đồng Chum của Xiêng Khoảng, 700 cái chum khổng lồ bằng đá, nằm mênh mông rợn ngợp, thách thức trên ba khu “thánh địa” - thật không tài nào lý giải nổi. Khoa học đem về xét nghiệm các-bon (C14), đã chứng minh là chum đá có từ 3.000 năm trước. Trước cả khi chúa ra đời và khi thế giới và Việt Nam có Tây lịch, thứ lịch (mà đến nay nó đã ra đời được 2007 năm). Mà kết luận ấy là do người Tây đưa ra, chứ có phải người Lào tự hào quá mà khoe khoang đâu (kết luận của nhà khảo cổ học nổi tiếng thế giới, bà Colani, nhà khảo cổ nổi tiếng người Pháp, cũng là bà chủ - chuyên gia số một về nền Văn hoá Hoà Bình trải rộng từ Việt Nam đi khắp vùng Đông Nam Á). Các em người Anh tròn mắt đòi lái xe Zeep đi ngay. Chàng trai người Lào đi cùng mê em Sabine mắt xanh như nước biển hút thuốc lá phì phèo quá, cũng dặn ra được một câu tiếng Anh: tôi nghe nói, người ta có thể chết vì một nhan sắc. Xưa, tôi không tin. Nay gặp Sabine, tôi mới tin đó là chuyện có thật trên đời. Khắc-ti-sút - tiếng Lào, nghĩa là yêu đến giọt cuối cùng. Câu nói diễm tình, bập bẹ thật đấy nhưng cũng làm Sabine lóng lánh cảm động. Mắt đảo như chuột ngày. Nàng là sinh viên đi vòng quanh thế giới rồi mê đắm Xiêng Khoảng, nên trong trường tình cũng có vẻ từng trải tợn.
Trong trụ sở của Ban quản lý di tích Cánh Đồng Chum, ngoài treo một cây sào (như sào đuổi vịt của mục đồng), căng một sợi dây nilông lè phè, đầu buộc một hòn gạch chỉ (như cái barie); bên trong là tấm áp phích. Tấm áp phích Cánh Đồng Chum rất lớn, ở đó không cần phải có… ngôn ngữ. Vì nó được ghép bằng những tấm ảnh chụp cực kỳ chuyên nghiệp. Chum đá bạt ngàn, như ngàn vò rượu lớn, nằm ngổn ngang trên cỏ mượt. Xa xa là thung lũng bạt ngàn, là sân bay Phôn Sa Vẳn, cũng nhấp nhổm toàn chum đá. Đây, một người đàn bà ngồi xổm, đăm đắm nhìn vào máy dò mìn xoè như cái mâm lớn trên cỏ mượt. Trong mắt chị, hình như còn sự thảng thốt bởi di hoạ của chiến tranh và cái chết thảm sầu của những người dò mìn trên cánh đồng bom đạn; phía sau chị là lừng lững, ngổn ngang toàn những chiếc chum đá nghìn năm tuổi. Trong ký ức của tôi (người viết bài này), Cánh Đồng Chum là một cái gì thật đó thảm khốc, bởi tôi từng nghe quá nhiều về sự thảm khốc - huỷ diệt do bom đạn qua những vị cựu binh từng chiến đấu ở Bắc Lào kể lại. Anh Bình, hang xóm nhà tôi, dẫu đã bị tâm thần phân liệt, nhưng hễ cứ mở miệng ra là kể về những ngày bời bời bom nổ ở Cánh Đồng Chum. Nơi ấy, bạt ngàn bom đạn, là chết chóc hăm-bơ-gơ (kiểu như đồi thịt băm trong tiểu thuyết “Thân phận tình yêu” (Nỗi buồn chiến tranh) của nhà văn Bảo Ninh). Giờ lại nhìn thấy cảnh đứa trẻ ở trần truồng, bé như cái búp măng non, vịn vào quả bom tấn nằm thuồi luồi như con trâu đằm ở Cánh Đồng Chum xanh rợn. Đầu kia quả bom tấn là một cụ già ngồi ngẩn tò te mà hình như ký ức chiến tranh vẫn còn ngơ ngác, hoảng loạn. Chỗ này là con voi già cặm cụi kéo một quả bom tấn ra khỏi Cánh Đồng Chum. Chỗ kia một ngôi nhà sàn đất Xiêng Khoảng toạ lạc trên ngọn của đám dày đặc những quả bom đứng ken dày sừng sững (thay cho cột nhà). Chẳng đâu xa, những ngày này, ở Phôn Sa Vẳn, chúng tôi vẫn gặp những quán cà phê… dùng bom để trang trí. Những ngôi nhà ba tầng giữa lòng thị xã, trước cổng đỗ chiếc xe Humer như một cỗ xe tăng (mà ở Việt Nam chỉ có vài tỷ phú chơi siêu xe mới dám mua), những chiếc TOYOTA cáu cạnh (bên Lào này toàn aufng xe bán tải để leo dốc, và xe ôtô ở đây rất rẻ, chứ không chịu thuế dã man như ở Việt Nam), nhưng trước cổng cũng cắm ba bốn quả bom. Bom to tới mức, tôi đứng vào chụp ảnh mà cứ ngỡ mình là con nhái ôm củ măng tre to gộc. Tại Việt Nam, chúng ta cũng từng “đào” được quả bom tấn lớn nhất từng có mặt trên toàn cõi Đông Dương, nó có thể san bằng một diện tích rộng 32ha trong chớp mắt. Nó, cũng như quả bom ở Lào, vẫn là bom của đế quốc xâm lăng thôi; Việt Nam và Lào cũng là nạn nhân của trò chơi súng đạn ấy; bom to bom nhỏ thì có gì là lạ - song, cái tôi muốn nói là ký ức của người Xiêng Khoảng, Phôn Sa Vẳn về bom đạn vẫn quá nặng nề và dai dẳng. Nó ám ảnh như bức ảnh đám trẻ nhỏ chạy vô tư lự bên một khu tường rào sin sít nối đuôi nhau những quả bom khổng lồ đứng đuỗn đuỗn, đứng xám ngoét một góc trời ở rìa Cánh Đồng Chum (năm 2001, Cánh Đồng Chum đã được UNESCO công nhận là Di Sản văn hoá thế giới, nó trở thành biểu tượng của đất nước Triệu Voi).
Một du khách sau chuyến đi thăm Cánh Đồng Chum trên mạng Internet:
Trên kia tôi đã nói Cánh Đồng Chum là hấp lực dẫn tôi đến Xiêng Khoáng, nghĩa là trước khi đến vùng đất nầy, tôi đinh ninh chum là đặc sản duy nhất lừng danh thế giới của Xiêng Khoáng. Tản bộ một vòng trong lòng Phonesavanh, tôi phát hiện ra ở đây còn một đặc sản thứ nhì nữa: bom !
Thật vậy. Không ít thì nhiều, nhà nào cũng có sự hiện diện thứ của nợ nầy. Ở khách sạn ST tôi đã thấy cả chục quả bom bi, bom, ổi có, bom dứa có, bom lựu cũng có ... chúng được dùng làm gạt tàn thuốc lá hay làm chân nến. Đương nhiên là thuê vàng tôi cũng không dám gạt tàn thuốc lá vào đó, biết đâu người ta sơ ý chưa gỡ hết thuốc nổ ... Ngoài sân khách sạn có dựng nguyên một quả bom cao hơn thước, bự cũng tròn một vòng ôm người lớn, không xa là cái giàn bắn rocket. Quanh tôi, nhà nào có rào y như rằng các trụ chính là vỏ bom, nguyên có, sẻ đôi có, cao cũng phải 2 thước trở lên. Nhà nầy treo bom bi tòng teng trên cành cây trông như cây thông mùa Giáng sinh. Nhà kia hai cột chính chống cái ban công phía hướng ra đường là hai quả bom khổng lồ, được kê trên hai trụ đá. Tôi chưa sống với chiến tranh 1 giây 1 phút nào nên không biết đó là thứ bom gì, hỏi một ông qua đường, thay vì trả lời ổng lại vuốt vuốt, đập đập hai bàn tay vào nhau như xóc bài cào: B-52 !

Mật ngôn của những viên đá được gọt đẽo thành chum
Điều làm tôi sửng sốt là: em Sabine mắt xanh như nước biển đã lạy những chiếc chum đá. Chum đá ngơ ngác nằm miên man trên cỏ, cỏ và chum dài mãi, như là dài tới tận cuối chân trời. Bất giác tôi nhớ anh nhà thơ làm báo Nguyễn Việt Chiến (Báo Thanh Niên), anh viết tặng Tây Bắc: “Núi như ngàn vò rượu/ xếp ngổn ngang bên đường”. Tôi nghĩ, cái men say với thơ, với cảnh sắc ấy mà gán cho tình yêu Cánh Đồng Chum thì hợp hơn. Đúng như ngàn vò rượu/ nằm ngổn ngang bên đồi. Quả là không thể hiểu nổi. Tôi đã đi, đã gặp rất nhiều dáng núi, dáng đá được tạo tác kỳ lạ, nhưng kỳ lạ đến như những tác phẩm đá của người ngoài hành tinh tạc đẽo bên thảo nguyên gì đó của nước Anh, thì tôi vẫn nguỵ biện rằng: vô tình, trời sinh ra thế. Đến như bãi đá cổ Sa Pa với những nét vẽ nguyên thuỷ mà Việt Nam và thế giới chưa tỏ tường nổi; thì nhiều người vẫn có thể coi là vớ vẩn, đó là nét vẽ nghịch (cả vẽ dương vật và âm hộ) của trẻ mục đồng tục tĩu. Việt Nam cứ làm hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận bãi đá cổ Sa Pa Di sản văn hoá thế giới, tôi vẫn cãi bừa được. Nhưng đến thế giới của những chiếc chum nghìn nghìn năm tuổi ở Xiêng Khoảng, tôi, cũng như người đẹp mắt xanh như giấc mộng Sabine, tôi phải sụp lạy đất trời và một vương triều xa xôi nào đó. Kỳ bí, kỳ bí đến mức không thể cãi chày cối kiểu AQ được. Trời không thể làm ra được những cái chum khổng lồ, đích thị là những cái chum cao tới gần 3m, lòng chum đựng vừa cả con trâu mộng, được tạc bằng đá tự nhiên nguyên khối, chứ không phải là viên đá hình cái chum có từ thuở tạo sơn được. Các thiên tướng của Ngọc Hoàng và các cung nữ do bà Vương Mẫu quản lý, chưa bao giờ tham gia đẽo chum đá kiểu này!
Ai đến Lào cũng hỏi thăm Cánh Đồng Chum, và tỉnh Nghệ An và tỉnh Xiêng Khoảng cũng đã bàn thảo, xúc tiến mở tuyến du lịch TP Vinh - cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn - Kỳ Sơn – Xiêng Khoảng, trong đó, trọng điểm bên phía bạn Lào, dĩ nhiên là Cánh Đồng Chum. Theo số liệu chính thức của các nhà khảo cổ đã công bố, có tới 700 chiếc chum đá kỳ lạ được ghi trong hồ sơ quản lý (kỳ quan thế giới). Điều đặc biệt ở những chiếc chum này là ở khối lượng và kích thước chưa từng có của của chúng. Những chiếc chum được làm từ đá cẩm thạch, đá ong, đá vôi với hình dạng khác nhau: miệng lồi, miệng tròn, chiếc vẹn nguyên như chum đựng thóc của bà con Bắc bộ Việt Nam, chiếc tan hoang chẻ ra từng miếng đá lớn do bom Mỹ đánh trúng giữa từ hồi nơi này còn là chiến trường cách đây gần nửa thế kỷ. 700 chiếc chum, mỗi chiếc nặng trung bình 6 tấn, đường kính 0,8m và cao tới 2,5m. Sau khi được đo cac-bon (giám định niên đại), số chum khổng lồ này được xác định có tuổi cách ngày nay khoảng 3.000 nănm (niên đại tương đương hoặc cổ hơn cả nền văn hoá Đông Sơn của Việt Nam). Người ta, ai cũng phải sững sờ khi đứng trước những cái chum đá liền khối được khoét một cách khó hiểu, mà đường kính của nó tới 3m; chiều cao hơn 3m. Đám trẻ con công kênh nhau leo lên miệng những chiếc chum rồi lại công kênh nhau xuống như là… leo núi đá. Dễ đến chục đứa trẻ chơi ú tim có thể ngồi vừa trong đó. Chúng ngồi trên miệng chum, như con mèo nằm trong cái nong phơi thóc.
Chất liệu đá tự nhiên, cổ kính, chum tạc nguyên khối đứng sững sững giữa trời đất mấy nghìn năm qua, một vẻ đẹp bể dâu quyến rũ. Các nhà khoa học, từ đầu thế kỷ 20, đã dày công nghiên cứu và đặc biệt, kể từ khi UNESCO công nhận Cánh Đồng Chum là di sản văn hoá thế giới, thì những câu hỏi về nguồn gốc của những chiếc chum ngày càng trở nên day dứt, thách thức hơn bao giờ hết. Hệ thống chuyên gia hàng đầu của loài người, đã khảo sát 65 trên tổng số 109 địa điểm được phát hiện có sự xuất hiện của những chiếc chum cổ. Hầu hết chúng nằm bí ẩn trong rừng sâu hoặc những quả núi, cánh đồng hẻo lánh. Vì bom đạn còn quá nhiều trên đất Lào nói chung và Cánh Đồng Chum nói riêng, cho nên, đến bây giờ, đất Triệu Voi mới chỉ cho voi kéo bom ra, dọn làm khu du lịch có thể an toàn phục vụ du khách được ở 3 địa điểm phân bố di sản… chum đá. Địa điểm thứ nhất là Bản Ang, cách Phôn Sa Vẳn 12km; địa điểm thứ hai là bản Lắt Sén, địa điểm thứ ba là Bản Sua (đều cách Phôn Sa Vẳn khoảng 20-30km). Chưa biết, đến bao giờ người Lào mới tháo hết bom mìn phục kích tiếp tục giết người do thằng Mỹ “gài” lại để du khách có thể đến với cả thảy 700 cái chum đá khổng lồ, kỳ bí kia? Điều thú vị là: không phát hiện thấy bất cứ cái chum đá dạng Cánh Đồng Chum nào ngoài tỉnh Xiêng Khoảng của Lào.
Cánh Đồng Chum là tên dịch từ tiếng lào Thôồng Háy Hín; tiếng Pháp: Plaine des Jarres ; tiếng Anh: Plains of Jars. Theo truyền thuyết, truyện cổ của người Lào thì, chiếc chum đã được đẽo gọt từ đá tảng nguyên khối từ hơn 3000 năm trước. Bộ tộc người của nước Lào (bộ tộc Puon) đã tổ chức đẽo gọt ra những chiếc chum sau này thành Di sản văn hoá cho thế giới văn minh của thế kỷ 21 chỉ việc làm hồ sơ công nhận ấy. Chuyện khác lại kể, các nghệ sỹ điêu khắc làm chum đến từ một bộ tộc người khổng lồ. Bước chân của họ đi thành ao hồ vùng Xiêng Khoảng mênh mông, nhiều trái núi do người khổng lồ bốc đất đá dựng nên vẫn sừng sững cùng non cao của những dãy núi Bắc Trường Sơn hiện nay. Và trong một trận chiến chống ngoại xâm để bảo vệ nòi giống, khi chiến thắng, họ đã đẽo đá làm chum làm coóng đựng rượu, làm ché uống rượu khao quân. Các chum bé chum lớn đều có thể làm chén uống rượu của người khổng lồ. Theo đó, nhiều cái chum vỡ là do người khổng lồ tuý tửu (say rượu), “quẳng chén làm hiệu” giết kẻ thù. Truyền thuyết khác lại kể, bộ tộc đẽo chum là bộ tộc Lao Thoeng. Tất nhiên, câu chuyện vơ với mù mịt hơn cả sương khói này sẽ bị khoa học tỏ ý chưa tin tưởng (!). Dân tộc nào, bộ tộc nào, bản làng nào chả có truyền thuyết, truyền thuyết sử thi có giá trị nhân văn không thể thay thế của nó, nhưng nó rất ít có giá trị với các nhà khoa học quen đi đào mồ đếm xương đem vào phòng thí nghiệm.
Các nhà khoa học bảo: làm gì có người khổng lồ. Mà ai lại khao quân bằng cách đẽo chum đá khổng lồ? Mà đẽo cả chục năm trời với lực lượng là hàng vạn chiến binh có kỹ nghệ tạc đá điêu luyện may ra mới được ngần ấy cái chum lớn. Đấy là chưa kể, đá ở để tạc đẽo chum cổ không phải là thứ đá có phân bố ở vùng Cánh Đồng Chum. Phải đi cõng về từ rất xa. Nếu đẽo ở chỗ có đá hoặc đẽo ở ngay trên cánh đồng nơi thế giới chum vại đang tồn tại thì kiểu gì cũng phải có hàng vạn con voi làm nhiệm vụ vận tải chum về rải khắp các cánh đồng, trên diện tích mấy chục cây số vuông. “Cần cẩu” lấy ở đâu ra nhỉ? Sao lại phải kỳ công như thế để phục vụ cho việc khao quân? Đấy là chưa kể, nếu là khao quân, thì phải khao ngay, chứ sao lại đợi đẽo nhiều năm xong ngần ấy cái chum đựng rượu rồi mới khao thì có mà “nguội” hết cái nóng hổi của khúc ca khải hoàn? Các nhà khảo cổ mải mê bác bỏ “truyền thuyết” người khổng lồ nhưng cũng chẳng đủ để thuyết phục trí tưởng tượng hồn nhiên đến nguyên sơ, nguyên thuỷ bên bếp lửa của những người “trị vì” bộ tộc. Cụ cười móm mém “khốp cháy la la” (cảm ơn rất nhiều, tiếng Lào) các nhà khảo cổ đã thương yêu bộ tộc chúng tao, rồi vị tộc trưởng vuốt râu cười lớn: đã bảo người khổng lồ mà, họ dẵm chân thành ao hồ, vứt đá thành núi cao của Xiêng Khoảng mây mù, thì có gì trong một ngày, một chiến binh chả đẽo được một cái chum. Cũng như người hiện đại chúng ta bỏ một buổi sang chặt sọ dừa làm cái gáo dừa uống rượu với nhau ấy mà, bảy trăm cái gáo dừa thì “mỗ” (tao, tôi) làm trong mấy nả. Thế là khao quân thôi (hề hề - các cụ cười.
Các nhà khảo cổ lại hì hụi đào bới và kiếm tìm. Họ tìm thấy truyền thống chôn người trong chum của bộ tộc Puon (thật ra, ngay tại Việt Nam ta, các nhà khảo cổ cũng tìm thấy nhiều vùng có truyền thống chôn người trong mộ chum), rồi họ lại đào được xương người, răng người; những chiếc vòng đeo tay làm bằng đồng thau, những hạt chuỗi bằng thủy tinh và bằng cả đá quý carnelian ... trong những chiếc chum khổng lồ. Lại tìm thấy cả những nồi đất đựng xương người chôn chung quanh những chiếc chum đá. Đúng như nhà khảo cổ học Colani miêu tả, ở Bản Ang, nơi có những chiếc chum lớn và nổi tiếng nhất, có một cái hang lớn, tôi (người viết bài này) cũng đã vào trong lòng hang đó. Trong hang có ban thờ, hoa cúng vẫn tươi, lòng hang ám khói, và có hai lỗ tròn như hai họng súng lớn nhằm thẳng lên nền trời. Cuối cùng, bà Colani phỏng đoán rằng, các cái chum đá lớn kia là những cái mộ chôn người chết. Thi thể người ta được táng ở chum đó, còn cái hang kia là nơi đốt xác người về trời, khói vẫn bám trong lòng hang đen ngòm, hai lỗ thông thiên tròn vo kia là cái ống khói của lò hoả thiêu (kiểu như đài hoá thân Hoàn Vũ ở ta?).
Cá nhân người viết bài này, thì thấy rằng, giả thuyết trên có lý ở chỗ: người khổng lồ thì không có rồi, nhưng người ta, nếu đã kỳ công tạc những cái chum mà thế giới phải nghiêng mình kính nể vì nghệ thuật và sự công phu thế này thì không thể là “chế tác” để phục vụ người sống được. Phải là chế tác cho người chết. Phải là một tín ngưỡng thì người ta mới có mãnh lực đến thế để thực hiện (đấy là giả sử, thế giới chum đá kia đã thật sự đã được chế tạo bởi bàn tay người của hành tinh thuộc hệ mặt trời mà chúng ta đang sống này). Tôi tin nữa là bởi vì tôi vô cùng ngưỡng vọng, kính trọng bà Madeleine Colani, bà làm việc cho trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp (Ecole Française d'Extrême - Orient). Bà, dường như đã hiến dâng đời mình cho công việc tìm tòi và tôn vinh nhiều giá trị tuyệt vời của Việt Nam cùng nhiều nơi trên thế giới. Nhiều vùng miền ở Việt Nam, người ta đã và sẽ tạc tượng bà trong các công trình hàn lâm, trang trọng nhất.
Sau cả nghìn năm tồn tại và được giải ảo (hay vun đắp sự ảo) bằng truyền thuyết người khổng lồ khao quân, đến một ngày của năm 1923, một nhân viên thu thuế người Pháp (xâm lược Lào) tên là Vinet đã tình cờ đến và sửng sốt (không biết có lạy chum như Sabine) nhận thấy sự kỳ lạ không thể lý giải của Cánh Đồng Chum. Vị khách tò mò này đã đủ sắc sảo để nhận ra một Di sản Văn hoá thế giới, thay vì mê đắm tin vào bước chân của người khổng lồ đẽo gáo dừa (bằng đá, đường kính tới 3m) khao quân. Giới khoa học trên thế giới đã giật thột từ bấy. Đến năm 1930, bà Colani bắt đầu công việc nghiên cứu lao tâm khổ tứ của mình trên Cánh Đồng Chum. Tôi càng kính trọng bà Colani hơn, khi mà, dẫu sống chết bảo vệ quan điểm khoa học của mình, song, trong 2 cuốn Mégalithes du Haut - Laos (Cự Thạch Cổ của Bắc Lào, xuất bản năm 1935) bà Madeleine Colani một mặt cho rằng, chum là một loại mộ, chôn người trong chum là một táng thức. Nhưng, một mặt, bà cũng sòng phẳng chấp nhận đưa câu chuyện bước thụt (tiến?) một nửa trở lại với đám mây huyền thoại về những người khổng lồ khao quân bằng chum rượu đá – khi mà bà thú nhận: khi phân tích các-bon thì tuổi xương người tìm thấy gần cái chum lại còn cao hơn cả tuổi của những cái chum. Vậy là sao? Là người ta đã chết từ rất lâu rồi, vô tình hay hữu ý bộ xương ấy mới “lạc” vào trong chum? Không thể gọi là “cải cát” bỏ từ quan tài gỗ vào tiểu sành như người Việt Nam (sau ba năm) được, vì khoảng cách tuổi của chum và tuổi (niên đại) của bộ xương quá xa nhau. Cách lý giải: chum đá là sản phẩm của một táng thức từ đó bị nhiều người bác bỏ. Song, gì thì gì, đến giờ phút này, nó vẫn là cách hiểu được nhiều người đồng tình hơn cả. (Cá nhân người viết bài này, xin nhắc lại, dù rất kính trọng người phụ nữ Pháp mỏi mòn lang thang, hiến thân cho lý tưởng – bà Colani, nhưng vẫn thiển nghĩ rằng: lò thiêu xác, khói ám, hay những di vật gợi cho người ta suy nghĩ về tục táng người trong chum đá chưa… thuyết phục. Đó là một cách hiểu áp đặt. Mộ chum tìm thấy ở Việt Nam bé như cái tiểu sành, chứ đâu có cao hơn 3m, đường kính 3m như hệ thống chum đá “độc nhất vô nhị” trên toàn thế gian của Cánh Đồng Chum? Câu chuyện về bộ tộc Puon chôn người trong chum đá, nếu có, cũng chỉ là… truyền thuyết. Chúng ta hãy cứ bình tĩnh chờ đợi, một lúc nào đó, khoa học sẽ mời được những trang sử đá cất lên tiếng nói mến thương và thuyết phục hơn. Di sản văn hoá thế giới kia, chắc chắn, sẽ không vì đám mây huyền ảo kia mà bớt phần quyến mời). Ngay cả khi đem khoa học ra đọ với truyền thuyết người khổng lồ phủ đầy sương khói cổ tích của người Lào, khoa học cũng vạch ra một điều “đá” lại lý lẽ của vị tộc trưởng bên bếp lửa: tuổi của những chiếc chum đá bí ẩn, nó còn “già” gấp đôi tuổi của truyền thuyết. Hoá ra, truyền thuyết và khoa học, chưa ai thua, cũng chửa ai thắng.
Mấy chục cái địa điểm có chum cổ, chum vẫn khổng lồ, vẫn kiêu hãnh trơ gan thách thức loài người và trêu đùa cả hoá công. Chum thách thức Trời và Người bằng thứ đá triệu năm tuổi, và bằng sự bí ẩn của mình. Tôi lạc vào những khu rừng hoang, ở đó chum đá lớn bị bom Mỹ đánh vỡ, rồi cây rừng húc lên như muôn ngón tay bóp nát đá sỏi. Bom Mỹ chưa nổ vẫn hăm hia phục kích dưới tán rừng đòi giết người sau khi đã đánh gục những cái chum. Cuối cùng, nhân loại vẫn nợ nhau một câu hỏi: ai đã đẽo chum đá, đẽo để làm gì, đẽo bằng cái gì mà tài thế? 77 năm trôi qua, kể từ khi bà Colani chính thức sang sống mái với bí ẩn của Cánh Đồng Chum, thế giới vẫn bó tay với cái Di sản văn hoá nổi tiếng mà Loài người đã phải nghiêng mình công nhận. Trí tuệ của 7 tỷ người của quả đất còn chào thua những chiếc chum của người khổng lồ, thì gã lãng du như tôi, Sabine - cô gái còn quá trẻ mắt xanh như nước biển trong một cơn mơ vắng vẻ kia làm sao lý giải nổi.
Cánh Đồng Chum còn bí ẩn hơn cả tiếng gió rít trong đêm cao nguyên Phôn Sa Vẳn. Khó hiểu hơn cả việc Sabine mắt xanh, tóc bạch kim nức nở lạy cái chum ba nghìn tuổi, cái chum nằm ngâm một nửa mình cổ kính xuống đất sâu và cỏ mướt. Cái chum nằm nghiêng bên miệng hố bom lớn có cắm biển bằng chữ Lào loằng ngoằng như những cọng giá đỗ, không biết chữ ấy chiết tự ra nó có nghĩa rằng khéo ngã xuống hố bom sâu, hay là khéo khéo dưới hố còn bom chưa nổ. Khó hiểu như khi chàng trai Lào thốt nhiên dặn ra được câu tiếng Anh, rằng từ khi gặp Sabine, cậu ấy mới ngộ được rằng thì là mà, sao người ta có thể chết vì một ánh mắt đẹp. Thôi, Chăn Tay à, cậu tán là Hắc ti sút đi, tiếng Lào nghĩa là yêu đến giọt cuối cùng rồi còn gì nữa. Mà đêm Phôn Sa Vẳn bình yên, chẳng cần phải nói gì đâu, cứ im lặng như cao nguyên rải rác bảy trăm cái chum đến từ thời thượng cổ, thế có khi lại là tốt hơn hết…
Nhớ Phôn Sa Vẳn, rạng sáng 24/5/2007

Bày bán thịt thú rừng công khai ven quốc lộ 3Non thiêng Yên Tử

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28