My Opera is closing 3rd of March

Cao nguyên đá và giấc mơ đèn lồng đỏ

Cao nguyên đá và giấc mơ đèn lồng đỏ…
Phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng
Tôi đã nhiều lần lang thang trên hàng trăm cây số núi cao vực sâu của biển đá dựng trời xám ngoét của bắc ải Hà Giang. Cảm giác: tạo hóa thật không hiểu nổi. Công trình đá tai mèo xếp giăng qua mấy lần cổng trời đệ nhất nước Nam quá đẹp; đẹp đến nhói lòng - bởi, thế nghĩa là cuộc sống trên đá khắc nghiệt cũng là đệ nhất. Thảng hoặc cũng có những nương bạc hà diễm lệ, những ruộng tam giác mạch quyến rũ phối sắc với cái sặc sỡ của váy áo Mông, Lô Lô, Pu Péo... Nhưng trên hết là sự rợn ngợp của núi đá. Không ai nghĩ, sẽ có được một đêm phố cổ với đèn lồng đỏ huyền ảo vờn quanh những ngôi nhà cổ 100 và hơn 100 năm tuổi ở nơi này. May ra, người ta chỉ có thể gặp những nương ngô trỉa trên dúm đất kẹ của các hốc đá kỳ vĩ đang vào mùa ngô "chín treo đèn”. Đó là lúc ngô đã vào mùa thu hoạch, bà con đã cắt ngọn, vặt lá cây ngô đi, bẹ râu ngô cong vếch xòe ra như cái đèn lồng xám treo lưng chừng núi đá.
Không ai có thể ngờ được ở biển đá nổi tiếng của cao nguyên Đồng Văn lại đang có một khu phố cổ được nhà nước phát đèn lồng đỏ để nhóm lên đêm hội hằng tháng đón du khách trong và ngoài nước. Một Hội An của Hà Giang đã và sẽ ra đời. Phố cổ Đồng Văn và giấc mơ đèn lồng đang hiện hữu đỏ đèn đều đặn mà vẫn khiến nhiều người khó tin. Nếu ngược lại lịch sử, khoảng năm 1964 con đường Đồng Văn – Hà Giang mới thông xe để lần đầu tiên 8 vạn bà con ở phía sau ba cái cổng trời biết thế nào là bánh xe hình tròn của ô tô - xe máy; thì chúng ta mới hiểu được nỗi da diết se lòng của giấc mơ đèn lồng đỏ trên cao nguyên đá hiện nay…

Cõng “Phố cổ Hội An” lên núi đá tai mèo
Trong hành trình điệp trùng từ “vó ngựa biên cương lộng gió ngàn” Quản Bạ ngược Mèo Vạc quành Mã Pí Lèng sang Đồng Văn, thi thoảng bạn cũng sẽ gặp những dãy phố đượm cái kiến trúc của người Việt, người Hoa gợi nét đẹp dặm trường. Gợi cái vẻ phong trần xa ngái. Mái nhà cong nghiêng, chình đất, gạch ống, lát đá hoa xanh đen. Cây lơ phơ của xứ lạnh. Người sù sụ áo khăn chống rét biên thùy. Đó là Phố Bảng với cái rét như có ai cầm kim đâm vào mười đầu ngón tay bạn khiến chiến sỹ biên phòng phải đem củi lửa đến đốt vào ống nước đóng băng ở đồn để nước chảy ra cho khách rửa mặt. Đó là thị trấn Mèo Vạc lúp xúp những căn phố Tàu xám mốc. Chàng trai Mông dắt ngựa, đội nón tu lờ, đi lại vạm vỡ như đến từ một bến nước Lương Sơn…
Nhưng kinh đô của những kiến trúc khiến các nhà văn hóa phải xúc tiến lập hồ sơ tôn vinh là di sản văn hóa quốc gia thì phải là phố cổ Đồng Văn (trung tâm huyện lỵ Đồng Văn hiện nay). Xã Đồng Văn xưa thuộc tổng Đông Quan, châu Nguyên Bình, phủ Tường Yên, tỉnh Tuyên Quang. Sau đó tách nhập vào châu Bảo Lạc do một thổ quan người Tày họ Nông cai quản như một lãnh địa riêng. Khu vực xã Đồng Văn hiện nay là nơi cư trú lâu đời của các dân tộc Kinh, Tày, Mông, Hoa, Lô Lô, Giấy..., chủ yếu do các thổ ty họ Lương và họ Nguyễn (người Tày) cai quản. Đến khi thực dân Pháp chiếm đóng Hà Giang (năm 1887), tức là cách ngày nay 120 năm, chúng đã nắm lấy các thổ ty phong kiến địa phương lập ra bộ máy thống trị từ tỉnh đến các châu, tổng, xã, thực hiện chính sách chia để trị. Đồng Văn được chia ra làm 4 khu vực cho các thổ ty nắm giữ. Vùng xã Đồng Văn hiện nay chủ yếu do thổ ty Nguyễn Chấn Quay cai quản (đây cũng là người cho xây không ít các ngôi nhà cổ vẫn còn nguyên vẹn cho Phố cổ Đồng Văn bây giờ); vùng Phó Bảng – Sà Phìn do thổ ty Vương Chí Sình (bấy giờ, tục gọi là "Vua Mèo") cai quản. Phố cổ Đồng Văn được hình thành từ độ ấy.
Chợ Đồng Văn, mới tinh sương đã sặc sỡ khăn áo người Mông trong những dãy cột đá lừng lững. Ngói ống ngói vảy theo phong cách kiến trúc Việt- Hoa, khiến cho chợ thâm u bí ẩn như những ngôi chùa cổ. Cột đá vuông vức dài cả chục mét, chu vi hai ba người ôm. Đá ám khói của những bễ rèn lửa than dao kiếm (khoa học từng chứng minh người Mông có nghệ thuật rèn sắt vào loại nhất nhì thế giới), những chảo thắng cố nghi ngút hàng vạn phiên chợ đã qua. Chợ đã được người bản xứ và người Pháp xây từ lâu lắm, đến Tết Nguyên Đán năm 1923, trong một trận hỏa hoạn dữ dằn, chợ và nhiều dãy nhà lợp tranh đã bị thiêu trui. Và người Pháp đã tiến hành quy hoạch và các thổ ty người Tày, người Mông đã phải cho người sang tận Tứ Xuyên, Trung Quốc mời các hiệp thợ tài hoa về tái thiết "phố chợ”. Hai đại công trình là Chợ Đồng Văn, với kết cấu hình chữ U tráng lệ, thâm u với những kiến trúc đá bất hủ như hiện nay và khu nhà Cung phàng (nay là trụ sở Công an huyện Đồng Văn) đã được hoàn thành trong thời gian 1925-1928.
Cũng trong khoảng thời gian từ 1923 – 1940, rất nhiều ngôi nhà cổ lần lượt được thợ người địa phương, thợ người Tứ Xuyên hoàn thành, tạo nên diện mạo cơ bản của khu phố cổ Đồng Văn hiện nay. Đường nhựa uốn lượn như dây võng qua phố thị tứ thời se lạnh của Đồng Văn. Bất kỳ ai đến nơi này đều phải đem theo khăn áo ấm. Người bản xứ thì bất di bất dịch với đồ chống rét ngộ nghĩnh. Mũ nồi, mũ trấn thủ sùm sụp kín tai, khăn vằn vện với những gam màu mạnh, áo bông. Chợ vừa nhóm, hoả lò đã rực lửa. Bà con sà vào phở, thắng cố, mèn mén, phần vì cần cái ăn, phần vì ngọn lửa sưởi ấm giữa giá sương. Chợ Đồng Văn cổ kính hơn cái tuổi gần bách niên của mình bởi khói lửa hoả lò, bễ rèn, và các chảo thắng cố. Có ông cụ áo chàm, đội mũ nồi vừa đi vừa tủm tỉm cười, vai khoác mười mấy cái khèn Mông, khách Tây, khách xuôi xấn đến hỏi gì cụ cũng chỉ "chư pâu”. Không biết đâu! Cụ là người Mông ở Vần Chải, quê hương của các nghệ nhân làm khèn Mông nức tiếng Hà Giang. Có đám thanh niên ngồi xổm ngắm khách xa mà thắc mắc không hiểu sao chợ Đồng Văn quê mình dạo này đông người lạ thế. Khách ra hiệu chỉ tay vào đám thanh niên, lại chỉ tay vào tấm biển xanh trên nền trắng, giơ máy ảnh lên, ý rằng đứng vào đây cho mình chụp một pô ảnh nào. Đám thanh niên kéo đến xúm xít quanh tấm biển. Đèn loé lên trong mù mịt sương sớm. Tiếng cười hào sảng vang lên. Khách chỉ vào chữ "Phố cổ Đồng Văn” và mũi tên chỉ dẫn, hỏi, chữ gì đây biết không. "Chư pâu”. Họ hồn nhiên đến với phố cổ, phố cổ Đồng Văn quyến rũ hơn là bởi thế. Có gã trai nghèo đi từ đầu chợ đến cuối chợ, qua dãy hang của các cô Mỷ (bông Hoa, người Mông rất rất nhiều con gái tên là Mỷ), gặp cô nào cũng nhìn vũng vĩnh vào đôi mắt ướt, rồi xin nếm một bát rượu ngô. Đi đến cuối chợ thì chàng đã say khượt. Bước chân lật khật, khăn màu xổ xuống như dằn dỗi. "Phải uống say thôi, không thì về nhà vợ nó lại hỏi: Thế hôm nay không phải đi chợ à? Đi chợ gì mà không say?”. Nó chê mình không biết say, lại còn nghi mình đi bỏ nó lên nương, xuống chợ đi với gái. Thế là chàng cùng các chàng khác hẹn nhau ở cái quán chốt hạ cuối con đường lớn, trước khi nó tỏa nhánh về các bản. Đó là nơi ai chưa say hẳn thì uống nốt cho say, họ thanh toán nợ nần với rượu trong chợ phiên lần này. Để lần sau lại lành lẽ say. Chị vợ nhẫn nại dắt ngựa đứng chờ. Con ngựa thỉnh thoảng lại tung vó muốn về bản trước khi trời tối, nó hí lên, dây cương căng rồi lại chùng liên tục như dằn dỗi…
Cuộc sống ấy chảy trong phố cổ ngót một thế kỷ qua. Nó là linh hồn để chúng ta tôn vinh những căn nhà cổ ở Đồng Văn hiện nay. Chợ cổ, "nhà công vụ” cổ, các dãy phố lợp ngói vảy ngói ống cổ ềm ệp trong sương mờ giữa thung lũng Đồng Văn. Ngày ngày, ngọn núi cao nhất khu vực đổ bóng xuống khu phố cổ. Phố tựa lưng vào với núi, đá xám, đá màu của vách núi mấy trăm mét dựng đứng như một phông nền kỳ ảo. Lần nào nhìn vào màu đá mênh mông dựng ven phố cổ ấy, tôi cũng có cảm giác, cả hoàng hôn, cả bình minh đa sắc của cao nguyên Đồng Văn đã gửi vẻ màu của mình ở trong đá. Váy áo người Mông Đông Văn không rực rõ như những vùng khác. Họ đi lại âm thầm, chợ cũng ít tiếng lao xao kiểu hai người đàn bà thành một cái chợ dưới xuôi. Họ di chuyển như những quân cờ im lặng, như đã được lập trình, như đang thực hiện một buổi hành lễ không quá vui cũng chẳng quá trịnh trọng. Họ, bất ngờ thay, là những cư dân bản xứ, họ đi chợ như từ nhiều đời nay lòng họ vẫn mở hội khi phiên chợ vùng cao tới hẹn; nhưng bây giờ, họ còn là thành viên nhóm lên lễ lạt của phiên chợ phố cổ dưới sự chỉ đạo rốt ráo của UBND huyện Đồng Văn cùng các ngành chức năng. Đây là nhóm người đến từ xã Lũng Phìn, Phố Bảng họ náo nức trình diễn (và bán hàng) công nghệ dệt vải, nhuộm vải, may áo tà pủ (trang phục truyền thống của người Mông); đây là "cánh” người Cờ Lao ở Sinh Lủng, họ lếch thếch đi bộ từ gà gáy giờ mới ngả bàn ra chợ hành nghề chế tạo thì gỗ, chõ gỗ đồ mèn mén (thức ăn làm bằng bột ngô); đặc biệt, cái chỗ đỏ lửa như cõi của Bà la sát kia là mấy chàng người Mông Lũng Phìn, họ rèn nông cụ, kể cả dao kiếm, kể cả khoan nòng sung kíp nếu cần trình diễn. Riêng mấy cụ ông cụ bà nhẹ nhàng ngồi tựa khăn khố vào cột đá vuông vức của khu chợ thâm u kia là người của vùng Thiên Hương, đang mưu sinh bằng nghề khâu giày vải hoa. Cái cụ ông vừa lượn qua mắt ta với mớ khèn Mông ngồ ngộ của bản Vần Chải vẫn cứ đi như kẻ mộng du, có vẻ chưa chắc cụ đã đến chợ để bán khèn. Bất giác tôi nhớ câu thơ của thi sĩ Đỗ Thị Tấc, bài "Chợ rừng một tháng ba phiên":
"Một tháng ba phiên
Ông lão đi khắp chợ
Mắt như ánh lửa
Nhìn mặt từng người
Chỉ dừng bước giữa trưa ăn bát phở
Ai mời mua gì cũng lắc
Ai hỏi mua sàng không bán
Hết chợ lại gọi người cho
(…)
(Rồi đến cái ngày)
"Tóc ông
Râu ông
Lông mày, lông mi
Bạc trắng.
Ông vẫn đi khắp chợ,
nhìn mặt từng người
Luôn mồm lẩm bẩm
"Em hẹn ta góa bụa về già.
Nếu thành ma cũng về báo mộng
Ta đã góa
Người ta bảo rằng em cũng góa.
Mộng chẳng thấy
Người không về
Sàng ơi".

Những vần thơ, giọt nước mắt khóc nhìn xuống cái sàng trong phiên chợ đời người ấy, hình như nó cũng chỉ cô đơn như Đỗ Thị Tấc mà thôi.
Để trở thành phố cổ, yếu tố cực kỳ quan trọng nữa là những ngôi nhà cổ và cộng đồng cư dân sống theo nếp cũ Đồng Văn. Bên cạnh chợ Đồng Văn bằng đá tảng xanh lát nền (nay đã bị ai đó thiển cận lát lên một lớp vôi vữa xi măng, các nhà bảo tồn đang yêu cầu bóc đi để tôn vinh di sản!), bên cạnh nức mùi núi rừng của mèn mén, thắng cố, thịt bò nướng ướp kiểu miền rừng; bên cạnh hơn ba chục nghệ nhân trình diễn ca vũ đậm hồn sơn cước ở phía sau mấy cái cổng trời, còn là những nếp nhà có lớp có trang của cả trăm năm sử núi!
Theo tài liệu của UBND huyện Đồng Văn, phố cổ Đồng Văn ướp trong mình một tiềm năng du lịch lớn. Kiến trúc nhà mềm mại mà oai phong, hình thành từ trên dưới một trăm năm trước, kết hợp hài hòa giữa kiến trúc Việt Nam và Trung Hoa. Cổ mà đẹp đệ nhất ở phố cổ Đồng Văn hiện nay có lẽ là nhà của bà Tân đang cư trú ở thôn Quyết Tiến (xã Đồng Văn). Chính dòng họ Lương người Tày, đứng đầu là thổ ty Lương Trung Nhân nức tiếng một thời đã đứng ra thuê thợ từ Tứ Xuyên (Trung Quốc) về thiết kế căn nhà này vào năm 1890. Dù đã bị xuống cấp ít nhiều ở phần tường hậu, nhưng vẻ mềm mại oai phong, cổ kính của nó thì vẫn còn nguyên. Từ khi UBND huyện Đồng Văn có văn bản quyết định tổ chức đêm phố cổ Đồng Văn hằng tháng và cấp cho chủ mỗi ngôi nhà cổ vài chiếc đèn lồng đỏ treo để thắp trước nhà, ngôi nhà của thổ ty Dương Trung Nhân (bà Tân đang sử dụng) lại có thêm một vẻ đẹp mới. Nó như hương quế giữa rừng già giờ đã được chắp cánh tôn vinh ở nơi đô hội. Người vùng cao mến khách, nền nã, các bạn ngoại quốc rất mê. Giọng người Mông, người Tày vùng Đồng Văn, từ trong các cấu tạo thanh quản đến cách láy lưỡi rất giống lối phát âm của người nói tiếng Anh ngoại quốc, nên việc giao lưu có vẻ ngày càng trở nên thận lợi. Việc nhiều bà con biết nói tiếng Anh bồi để bán hang, để cùng cười hóm với khách (như kiểu ở Sa Pa) chắc sẽ không còn lâu nữa.
Cách biệt thự trình đất và viền đá tảng của Dương Trung Nhân (cũng là chủ nhân của khu dinh thự nổi tiếng hiện còn là di tích ở Mèo Vạc) là biệt phủ của thổ ty người Tày Nguyễn Đình Cương (1865-1928) và dòng họ Nguyễn. Ông này cũng chẳng thua chị kém em, cũng sang tận Tứ Xuyên vời một hiệp thợ xây tòa nhà lớn vào năm 1920. Sau này, dinh thự ấy được ông con trai thổ ty tên là Nguyễn Chấn Quay sử dụng rồi bán cho nhà nước vào năm 1958. Tiếp đó, toà biệt thự cổ trở thành trường cấp 1 xã Đồng Văn (1960-1978), rồi là trụ sở UBND xã Đồng Văn (1979-1984). Ngôi nhà xây năm 1925, do một chức sắc địa phương có cái tên dữ dằn Tạ Hổ Thần cai quản trong nhiều thập kỷ, hiện nay bà Phạm Thị Thư đang sử dụng. Trong rất nhiều ngôi nhà cổ ở Đồng Văn hiện nay đang được đem ra phục vụ du lịch, còn phải kể đến những ngôi nhà có lý lịch di tích rõ rang như: nhà do ông Nguyễn Gia Hiệp đang sử dụng (xây năm 1900), nhà ông Nguyến Chấn Hiếu đang sử dụng, xây năm 1887. Rất nhiều khi, cái quyến rũ hơn cả vẻ đẹp kiến trúc phối nhà cổ vào cảnh núi cao rừng già của Đồng Văn còn là lý lịch ít nhiều chứa được cả vòng quay một thời của số phận con người vùng cao nguyên đá.
Giấc mơ phố cổ thật thân thương !


Những kiến trúc nhà cổ và chợ Đồng Văn 100 năm tuổi trên cao nguyên đá.
Anh Nghiệp, cán bộ phòng văn hóa huyện Đồng Văn cực kỳ tâm huyết với việc lập hồ sơ, tổ chức đêm hội phố cổ hằng tháng tại Đồng Văn (từ 21-25 dương lịch hằng tháng). UBND huyện đã họp dân, đã giao cho các ban ngành chức năng tuyên truyền, chung tay giải quyết các vấn đề nóng đang đặt ra ở phố cổ. Họ còn có công văn giao cho đài truyền thanh huyện tuyên truyên ráo riết việc đưa màu đèn lồng đỏ thắp trong đêm phố cổ phục vụ công nghiệp không khói ở phía sau cổng trời ăn sâu vào tiềm thức của bà con. Ông Sùng Đại Hùng, Chủ tịch UBND huyện là người rất tâm đắc với việc cõng Phố cổ Hội An ngược núi lên cao nguyên đá Đồng Văn. Tua du lịch ở vùng đất huyền thoại: Đứng trên cổng trời Quản Bạ/ Nhìn xuống cánh đồng Thèn Pả/ Tưởng mình cưỡi gió ngắm trần gian. Quản Bạ được mệnh danh là "vó ngựa biên cương lộng gió ngàn” của địa đầu phía Bắc Việt Nam. Qua cổng trời Quản Bạ, cổng trời Yên Minh, cổng Trời Cán Tỷ, vượt con dốc kinh hoàng mà lãng mạn cực kỳ Mã Pí Lèng, chúng ta lạc vào xứ sở của những nương tam giác mạch, thung lũng sa mộc và bạc hà tím mát. Đó là vùng đất giá lạnh, cổ kính, đẫm huyền sử Đồng Văn. Một tua du lịch vừa văn hóa, vừa mạo hiểm, vừa êm đềm ra đời, và chưa bao giờ nó được quất roi căng cương lồng lên như lúc này: đi từ thị xã "Hà Giang quê hương tôi” (nhạc Thanh Phúc) đi đến Mèo Vạc qua mấy cái cổng trời; ngược chợ tình khuất nẻo, hoang sơ, ăn khách nhất VN Khâu Vai; vượt Mã Pí Lèng, sang Đồng Văn với phố cổ trăm năm tuổi; về Sà Phìn với di tích nhà Vương (dinh thự của "vua Mèo” Vương Chí Sình, con trai Bang tá Vương Chính Đức) vừa được nâng cấp với kinh phí gần chục tỷ đồng; ngược điểm tột Bắc Việt Nam thăm cột cờ Lũng Cú với xóm Séo Lủng tột đất Việt Nam của người Lô Lô đang được huấn luyện để làm "điểm đến” tuyệt vời…
Điểm nhấn của tua du lịch ngắm núi, ngắm mấy, xem sợi dây chão trắng song Nho Quế sẽ là một miền văn hóa Phố cổ Đồng Văn. Ông Nguyễn Trùng Thương, Giám đốc Sở VHTT Hà Giang trịnh trọng thông báo: địa phương đã lo được quỹ đất cho bà con dãn dân ra khỏi phố cổ Đồng Văn để hình thành phố đi bộ, phố trình diễn ẩm thực, làng nghề, dân ca dân vũ đậm chất biên cương, sơn cước của Đồng Văn. Đã có hội thảo, phòng tài chính huyện đã đo đạc tính đếm di dân, đền bù. Chuyên gia văn hóa đã lập hồ sơ di tích. Chúng tôi đang gấp rút hoàn thành hồ sơ để xin Bộ xem xét cấp bằng di tích quốc gia cho phố cổ Đồng Văn, phải làm gấp để kịp kế hoạch năm nay, chứ muộn một hai tháng là coi như muộn mất chuyến tàu kinh phí tu bổ di tích hai năm một lần đấy. Chờ hai năm thì gay lắm. Nhạc sĩ Trùng Thương tâm huyết, nói bằng cái giọng rất thiết thực. Bởi anh đã lăn lộn ở phố cổ Đồng Văn nhiều. Đoàn cán bộ địa phương cũng đã nhiều lần bàn kế hoạch đi Hội An, Đường Lâm (những di tích quốc gia tương tự) để học hỏi kinh nghiệm. Đã ngót chục lần, trong dăm bảy tháng qua, đều đặn, lễ hội đêm phố cổ Đồng Văn được tổ chức. Bà con mừng lắm. Du khách ngỡ ngàng trước một đặc sản phố núi. Phố núi không tên/ Mà đậm in trong trí nhớ bao người. Bài hát cũ, hình như hát cả về Đồng Văn hôm nay.
Sự ngỡ ngàng, xúc động của du khách khi gặp giấc mở đèn lồng đỏ ở một phố núi điệp trùng đá xám tai mèo như Đồng Văn, cũng đồng nghĩa với việc còn rất nhiều khó khăn mà những người tâm huyết với mô hình Đêm phố cổ nơi này phải vượt qua. Họ làm du lịch ở nơi rừng xanh núi đỏ, nơi khô khát bậc nhất Việt Nam. Họ muốn đem nghệ nhân, các tích trò, các nghề quen, các điệu dân ca dân vũ riêng có ra trình diễn phục vụ du khách song tất cả các "chất liệu” kể trên đều cực kỳ ở tình trạng hết sức hồn nhiên. Con người thì thậm chí chưa sõi tiếng Kinh, không biết chữ. Các "tiết mục” thì đều ở dạng hoang sơ, chưa bao giờ biết đến khái niệm trình diễn hay bất cứ điều gì giống như sự chuyên nghiệp. Giá trị của đêm phố cổ Đồng Văn nằm ở đó; và khó khăn cũng nằm ở đó. Lại thêm thực trạng nữa: nhận thức của bà con về vấn đề bảo tồn, phát huy di sản còn nhiều hạn chế. Ai đó đã rất có lý khi cho rằng: thôi thì việc đưa ra những đêm đỏ đèn tôn vinh phố cổ, trước hết chỉ cầu cho bà con hiểu rằng bà con đang giữ một giá trị ít nhiều có giá trị! Thế đã là đủ rồi. Bà Tân đưa chúng tôi thăm hệ thống toà ngang dãy dọc của "biệt thự” dòng dõi thổ ty phong kiến nhà mình với không ít lo toan. Bà cứ lành lẽ sống trong không gian cổ kính xuống cấp nghiêm trọng ấy giống như một nhà sư giữ chùa cổ. Móng nhà, đường hiên và không ít hạng mục quý được đẽo bằng đá tảng xanh, kể cả những trụ đá trắng dậy lên nước thời gian xưa cũ. Tường nhà được chình bởi đất trộn cát, vôi, đường mật phên, giấy bản hoặc nhiều góc xây bằng gạch nung, gạch mộc. Cửa ra vào thiết kế dưới dạng cửa vòm và cửa vuông có ốp đá. Cột nhà làm bằng gỗ nghiến, sàn gác cũng bằng gỗ quý. Ngôi nhà là một khúc ca về sự trù phú của lãnh chúa phong kiến một thời. Nhưng nay nó đã xuống cấp khiến bà Tân phải kè chống tứ bề. Tường hậu ngôi nhà nghiêng, các cây chống không đỡ được, khiến bà và con cháu phải đan dây thép buộc hàng chục viên đá tảng treo bung biêng ven tường hậu để lấy lại vị thế cân bằng cho di sản. Cái đẹp giật mình của khu khuôn viên nhà thổ ty Lương Trung Nhân lúc này lại là một ngôi nhà xây dở. Chủ nhà định xây một ngôi nhà khác cho người con trai nữa, thì loạn ly bắt đầu, ngôi nhà bị bỏ dở với những bức tường thành tráng lệ bằng đá trắng, đá xanh xếp chất ngất, cỏ mọc chen nhau tua tủa qua một thế kỷ dở dang. Những bậc cầu thang đá tròn, cong lát khít khao đăng đối như mở lối vào một hoàng cung thuở trước. Vô tình sự dở dang ấy lại đem phô diễn trước khách du cả công nghệ, cả bếp núc của việc tạo tác các "vila” của lãnh chúa trên cao nguyên đá một thời!
Đấy là bà Tân và mấy chục chủ nhân của các ngôi nhà cổ còn có ý thức giữ gìn. Chứ phố cổ Đồng Văn đã kinh qua quá nhiều sự tàn sát di sản lắm. Trên đỉnh núi vòi vọi đổ bóng xuống chợ Đồng Văn kia là một pháo đài khổng lồ của Pháp, với hệ thống công sự kiên cố, với kiến trúc hết sức độc đáo. Và dưới chân núi là hệ thống "phố cổ nhà cổ” do người Pháp thuê thợ Trung Hoa và Việt Nam xây dựng nguy nga. Hầu hết trong số này đã biến mất, thiết tưởng cũng cần phải mô tả ra đây để chúng ta thấy phố cổ Đồng Văn còn quyến rũ hơn cái lễ hội đèn lồng được tổ chức mỗi mùa trăng một lần bây giờ rất nhiều. Anh Nhất, lãnh đạo trung tâm văn hoá Đồng Văn là người ưa hoài niệm với những nếp "biệt thự” cổ này hơn cả. Anh khoát tay: cách đây 20 năm, phố cổ Đồng Văn tuyệt vời. Môi anh bĩu xuống tiếc nuối. Bên giao thông của huyện họ tiếp quản khu nhà đất trình tường, cột gỗ 2 tầng của Pháp. Bên Công an cũng đã phá đi một tòa biệt thự xây trụ sở, đó là nhà Cung Phàng nổi tiếng, bị đánh sập năm 1984. Chỗ kho bạc mới xây kia vốn là nhà hạnh phúc của các cặp vợ chồng binh lính Pháp hồi xưa, rất tráng lệ, oai phong, cổ kính. Khu trường Mầm non kia kìa, vốn là một toà nhà 10 gian vốn là cái trường học cho con em người Pháp khi họ đồn trú ở Đồng Văn, vẻ đẹp của nó, nếu bây giờ mà còn thì không bút mực nào tả xiết. Tường bằng đá, chình đất, lợp ngói máng xám cổ. Cách đây hơn hai chục năm, khi quyết định rỡ bỏ căn nhà bị xuống cấp này, cán bộ địa phương phải cho một chiếc xe GAT dữ dội buộc dây cáp kéo mãi mà không đổ. Chiếc xe Gat lộn nhào méo xẹo mà không kéo đổ được ngôi nhà hoang phế khiến bà con ai cũng bảo thế mới biết, thợ xây ngày xưa thật là có lương tâm! Trước đồn binh Pháp có một cái nhà cũng đẹp, đó là nhà bưu điện của Pháp. Tức là ai lặn lội vào Đồng Văn đi nữa, cũng chưa được vào đồn ngay, mà phải đứng ở nhà dây thép gọi điện vào trình bày lý do. Nhà ấy đã bị phá, nó nằm gần khu vực giải tỏa để xây trụ sở Huyện ủy bây giờ. Một bức tường rất đẹp nằm tiếp giáp với chợ Đồng Văn bây giờ vẫn còn như một dấu tích cổ! Khu huyện ủy vốn là khu vực của Pháp xây, gồm 3-4 dãy nhà (nằm trong quy hoạch kiến trúc của phố cổ Đồng Văn) nguy nga. Đường ngang dãy dọc, có những vườn vạn niên thanh đẹp; mãi sau giải phóng khu vực "vườn tiên” này vẫn còn. Hồi Pháp thống trị, chỉ dịp lễ lạt hội hè, bà con mới được vào "công viên” này tham quan!
Một chút phố cổ Đồng Văn và khu chợ như bằng đá, ngói ống kia cũng đã đủ để ta tổ chức đêm phố cổ. Bà con sẽ giàu vì làm du lịch, Đồng Văn sẽ thêm một lần được đánh thức vì sự náo nức khi nhan sắc phố núi dậy hương lên. Nhưng để làm được điều đó cần bài bản, nghiệp vụ và một thái độ đến nơi đến chốn. Ví dụ như nỗi đau nhà mới xanh đỏ bốn năm tầng vẫn mọc lên ngay trong khu phố cổ. Có nhiều ngôi nhà mọc lên sau khi huyện có chủ trương hạn chế xây cất để làm du lịch, đó là một sự vô lối. Song, những ngôi nhà mọc lên từ trước thì sao. Những người năng động đã mua đất mặt phố, đã cơi nới nhà cổ ra, bôi chát xi măng làm bàn sạp để buôn bán, thì họ cũng có lý tưởng kiếm cơm của họ. Họ đã xây nhà trước khi có chủ trương phát đèn lồng cho dân nhóm họp đêm phố cổ. Vấn đề là có chính sách đồng bộ, giãn dân, đền bù giải toả. Quả là không dễ dàng gì. Nhưng mà phải làm, nếu chúng ta thực sự muốn bảo vệ giá trị của Phố cổ Đồng Văn, muốn công nhận giá trị này là Di tích cấp quốc gia.
Đêm lang thang phố cổ Đồng Văn, lữ khách sẽ gặp rất nhiều điều lạ. Cái rét ngọt và sương giăng cả tứ mùa sẽ khiến du khách nhận ra một điều ít ai để ý: miền Bắc núi đá của mảnh đất tột Bắc Việt Nam này đang sở hữu những cao nguyên cao nhất Việt Nam. Đá điệp trùng đá, đá dậy lên như sóng biển; gian nan với áo cơm, khát nước và khát đất để trỉa ngô. Người ta hay nhắc về những chuyện thường ngày này của Đồng Văn, mà ít nhắc tới nguyên nhân của những tình trạng này: vùng cao nguyên quá cao so với mực nước biển. Dãy phố cũ, thềm đá, nền đá và những cây cột đá ám khói mèn mén, thắng cố và bễ lò rèn của phiên chợ miền rừng này, trong đêm như có hồn. Như một món cổ vật ướp ủ trong giá lạnh, sương muối và những cơn gió cao nguyên khoáng đạt. Phố cổ Đồng Văn, thâm nâu, thâm trầm mà vạm vỡ. Đèn lồng đỏ mới chỉ được khai mở ít ngày. Bước đi lẫm chẫm, lúng túng, ít nhiều vụng về của đêm phố cổ, nếu có, thì cũng là dễ hiểu. Chỉ riêng cái việc biết thương hoa tiếc ngọc quyết tâm mở hội đèn lồng tôn vinh phố cổ Đồng Văn đã là một cái gì thật mến thương rồi. Vạn bất đắc dĩ, sự đời, nếu có Tâm, thì khắc đi khắc đến - đúng theo cái lý của bà con vùng cao nguyên đá…

Một số ngôi nhà cổ do hoàn cảnh lịch sử đã được mua đi bán lại và (rồi) phá đi để xây mới bằng chất liệu bê tông cốt thép. Như dãy nhà từ nhà bà Nhung – Thâm đến nhà ông Chiến ở cuối phố đã có tới 6 ngôi nhà được xây bằng bê tông kiến cố từ 2-3 tầng xen kẽ vào các ngôi nhà cổ trên dưới một trăm tuổi. Dãy nhà từ UBND xã Đồng Văn cũ đến nhà ông Phàng, các ngôi nhà đều xây dựng ra phía trước với các hạng mục kiên cố hoặc bán kiên cố để ở hoặc kinh doanh, gây khó khăn cho việc quản lý điều chỉnh. Công tác quản lý, quy hoạch, tôn tạo các dãy phố cổ ở Đồng Văn còn chậm hoặc lung túng do tâm lý trông chờ ỷ lại vào các nguồn đầu tư của nhà nước… (Trích tài liệu từ Hội thảo Bảo vệ phố cổ Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, tháng 6-2006)
Kỷ niệm Đồng Văn, lạnh giá cuối năm 2006
Đ.D.H


http://www.laodong.com.vn/Home/phongsu/2006/12/15335.laodong

"Cột đá giết người" ở Đường ThượngChiếc lá thu phai

Comments

Unregistered user Thursday, December 21, 2006 9:40:46 AM

TT writes: Anh viết rất hay. Em lên CNĐ tháng 11, lúc chớm lạnh, dạo ba đêm chợ phố cổ, định viết và biết là phải viết gì nhưng viết ko nổi vì ko có nhiều tư liệu hay như anh...và hông giỏi như anh!

Đỗ Doãn Hoàngdodoanhoang Monday, January 1, 2007 4:34:41 PM

cảm ơn nhé. Thật lòng, mấy năm trở lại Đồng Văn, anh rất cảm xúc, nhưng dường như cuộc sống với anh ngày càng hối hả hơn. Để tĩnh tâm lại, để thu xếp mình lại mà viết theo đúng ý mình, đúng như sự lãng mạn và niềm mê mải của mình, ngày càng khó khăn. Có một cơn chấn động nào đó, hình như mình buồn vì điều đó, nhưng hình như cũng chả phải thế. Có lẽ đó là cuộc sốg. Và mình vẫn phải nghe ngóng bản thân mình để tiếp tục sống và viết....
Nghe lời khen của em, thật vui smile

Unregistered user Thursday, January 4, 2007 6:02:27 AM

Anonymous writes: Đọc bài của anh thật thích! Em có cảm giác nhựa sống luôn chảy trong tâm hồn anh vậy. Chúc anh thành công hơn nữa.

Unregistered user Thursday, January 21, 2010 6:46:38 AM

Anonymous writes: Còn nhớ chị hông? Hoàn diệu Oanh, báo 11. Em đã và đang thành công rồi, đừng dừng bước nhé, hãy cháy đến khi không còn gì để cháy nữa nha. Chúc em luôn chân cứng, tim mềm để bài viết lúc nào cũng dạt dào trắc ẩn. Chị

Đỗ Doãn Hoàngdodoanhoang Thursday, January 21, 2010 10:03:35 AM

ôi, chị Oanh à. Bây giờ chị làm ở đâu, như thế nào? Hồi sinh viên, em toàn nhìn bài to tướng và cái tên to tướng (dài thượt) của chị trên báo để... làm theo. Cứ ước ao có ngày mình viết được bài to và dài như thế. Quên làm sao được. Cho em địa chỉ của chị nhé.
doanhoang@gmail.com
February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28