Chầm chậm với “già làng” Minh Thư…
Friday, July 6, 2007 4:44:50 AM
(Đã đăng trên tạp chí Doanh Nhân)
Chầm chậm với “già làng” Minh Thư…
Lời giới thiệu của nhà báo Đỗ Doãn Hoàng (Báo Lao Động)
(Lời giới thiệu tập phóng sự “Chuyện động mường” của nhà báo La Minh Thư (Báo Nhân Dân) do NXB Hội Nhà văn và Công ty Hà Thế phối hợp xuất bản, Hà Nội – tháng 6 năm 2007)
Trưởng bản làm những con ngựa phải gõ móng
Với đám trẻ chẳng bao giờ dành hết nửa buổi chiều để nghĩ về một điều gì cho đến đầu đến đũa chúng tôi, thì nhà báo Minh Thư là người rất… mất thì giờ. Anh sinh ra ở heo hút miền Tây Nam xứ Nghệ. Nói chậm, ăn chậm, có nhõn uống rượu là cứ “hết nhé, hết nhé!” y như đang ngồi với sơn nữ ấy, chẳng chịu nhâm nhi tí nào.
Chầm chậm với “già làng” Minh Thư…
Lời giới thiệu của nhà báo Đỗ Doãn Hoàng (Báo Lao Động)
(Lời giới thiệu tập phóng sự “Chuyện động mường” của nhà báo La Minh Thư (Báo Nhân Dân) do NXB Hội Nhà văn và Công ty Hà Thế phối hợp xuất bản, Hà Nội – tháng 6 năm 2007)
Trưởng bản làm những con ngựa phải gõ móng
Với đám trẻ chẳng bao giờ dành hết nửa buổi chiều để nghĩ về một điều gì cho đến đầu đến đũa chúng tôi, thì nhà báo Minh Thư là người rất… mất thì giờ. Anh sinh ra ở heo hút miền Tây Nam xứ Nghệ. Nói chậm, ăn chậm, có nhõn uống rượu là cứ “hết nhé, hết nhé!” y như đang ngồi với sơn nữ ấy, chẳng chịu nhâm nhi tí nào.
Cuộc sống của anh, hình như là dấu cộng mến thương của những chuyến lang thang chín bản mười mường. Mường dưới rồi lại Mường trên, Mường Trung châu (miền xuôi) anh không mặn mà lắm. Tiếng Nghệ An đậm đặc, giọng anh cứ rủ rỉ, như đếm được từng tiếng vậy. Minh Thư nói được tiếng của người Mông, người Thái, người Khơ Mú, người Đan Lai, người Lào… như tiếng mẹ Kinh. Hôm lang thang Cánh đồng Chum bên Lào với tôi, gặp mấy em người Anh quốc mắt xanh dịu dàng như nước biển, Minh Thư bỗng ước ao biết được hê-lô, bai-bai (nếu học nốt tiếng Anh). Tính anh cũng thật thà, sống có hậu với mọi người như chính cái giọng nói ề à, cái nụ cười hề hề khệ khệ hai với hai là bốn đó, nhưng phóng sự của anh thì rất sắc, khả năng sử dụng ngôn ngữ và lẩy bẻ chi tiết thì… thôi rồi. Nhỏ nhẻ, chắt gặn từng giọt đời sống vừa hoang sơ lại vừa sực ấm của những miền rừng hoang, ghi chép - phóng sự của anh làm cánh nhà báo chúng tôi trở cảm thấy cuồng chân, có cái gì đó như là… ghen tị. Bạn tôi, có lần, cứ gõ giày cồm cộp vào hộc bàn máy lạnh như con ngựa chồn chân vì bị buộc dưới gốc táo đầu xã Mường Ải đang gõ móng; rồi hắn ngửa mặt than rằng: sao mình khổ thế, lão Minh Thư lại lên với dốc cổng trời Mường Lống, lại lên miền rét sương Mường Xén, lại sang với đêm bình yên Phôn Sa Vẳn nước Lào rồi kìa. Tôi nghe mà mừng cho cái đời lang bạt của Minh Thư. Đó cũng là lý do để những phóng sự “đặc sản” núi rừng của Minh Thư được rất nhiều giải thưởng. Riêng giải thưởng do Báo Lao Động chúng tôi trao đã kể hết năm đầu ngón tay chưa đủ.
Lý lịch đặc biệt của chàng giáo viên cắm bản đi viết báo
Nếu nói Nghệ An là nơi “đô hội” của báo chí chỉ thua có Hà Nội, Sài Gòn và một hai thành phố khác, tôi nghĩ không có gì là quá đáng. Xứ Nghệ là mảnh đất trời sinh ra đã màu mỡ cho báo chí rồi, bởi biển cũng rộng mà rừng thì quá hoang. Chuyện cũ cần khảo cổ cũng nhiều mà chuyện mới đôi khi nháo nhào cũng lắm. Các tờ báo lớn đều có văn phòng đại diện ở đây. Minh Thư giờ là đại diện cho báo Nhân Dân, thường trú tại Nghệ An. Nhưng. Anh em chúng tôi vẫn quen gọi anh là “trưởng bản” Minh Thư. Cái chất già làng trưởng bản toát lên từ ngoại hình râu ria xồm xoàm, từ giọng nói lẫm chẫm. Bởi anh là người sinh ra lớn lên ở heo hút miền Tây xứ Nghệ, đó là Phủ Tương ngày cũ (giờ là huyện Con Cuông, cách TP Vinh khoảng 150km). Tôi từng vượt cái dốc Bù Ông, khe Mọi để vào xã Môn Sơn sương phủ trắng bản mờ rừng ấy từ khi chưa biết mặt Minh Thư. Nhà anh ở cửa rừng quốc gia Pù Mát, khu rừng nguyên sinh và rộng lớn đệ nhất của nước ta. Nhà anh ở ven con sông Giăng, con sông có cái tên thơ mộng nhất Việt Nam (lại nhất). Từ nhỏ, anh sống với người Thái và người Đan Lai (cái cộng đồng người ‘theo dấu chân nai đi trồng hạt lúa, theo dấu chân cọp đi trồng hạt ngô”, “nằm ngửa thấy ong nằm nghiêng thấy cá” ngay trong vùng lõi của Vườn quốc gia, đến tận giờ phút này vẫn còn thao thiết chưa xong công cuộc hạ sơn lập bản). Học xong cấp ba vào bộ đội, Minh Thư là lính xế trên những chiến xa. Rồi bỗng dưng rẽ ngoặt đi học sư phạm, ba năm làm giáo viên cắm bản theo đúng nghĩa đen (sau này anh đã trở lại cái bản đó và viết phóng sự rất hay). 10 năm làm Đài Phát thanh- Truyền hình huyện, “leo” lên đến Trưởng đài. 10 năm làm báo Nghệ An. Khẳng định mình ở thể loại ghi chép- phóng sự Báo Lao Động. Nay đang làm cho báo Nhân Dân. Cái lý lịch này làm cho phóng sự của Minh Thư có phong vị của những câu chuyện bên bếp lửa của vị già làng. Già làng sinh ra không phải để kể chuyện. Vui thì già kể một chút mà thôi. Không biết trong lý lịch nhà báo của làng báo Việt Nam, có đồng chí nào đậm chất già làng như Minh Thư không nhỉ?
Tôi đã rùng mình khi biên tập phóng sự “đánh phù dung”
Tôi, thú thật, đã rùng mình khi biên tập cái đoạn phóng sự này của anh (để đăng trên trang phóng sự Báo Lao Động). Đủ sức leo núi phá cây thuốc phiện trồng trái phép đã là dạ sắt gan vàng với bài viết lắm rồi. Nhưng, máu thịt với vùng đất, với phận người nơi biên ải đến như thế này thì hoạ hoằn chỉ có già làng Minh Thư. Anh viết, nguyên văn: “Tôi còn nhớ cũng vào cữ mùa giá buốt này (năm xưa, tôi) đã liều mình theo đoàn công tác liên ngành của huyện Kỳ Sơn do anh Moong Biên Phòng, hồi đó là uỷ viên Ban thường vụ huyện uỷ, Trưởng Ban dân vận làm trưởng đoàn bấm chân vượt đèo dốc Nậm Càn lên xã Na Ngoi (…). Chiều hôm sau, chúng tôi lọt trong hun hút đại ngàn bốn bề sương giăng của một vùng rừng thuộc bản Kẹo Bắc. Đi tới lúc sương vừa tan, mới giật mình thấy dưới chân muôn vàn hoa anh túc đang khoe sắc. Sự cố xẩy ra buổi sáng hôm đó cứ ám ảnh mãi trong tôi và những người đi làm nhiệm vụ diệt trừ nàng tiên nâu. Ông trưởng bản Kẻo Bắc đang cùng đoàn công tác phá nhổ một nương thuốc phiện, không may đột ngột trúng gió gục chết ngay trên nương thuốc phiện. Ông Moong Biên Phòng và đoàn công tác bị một số kẻ xấu lợi dụng xúi giục dân bản vây bắt về làm con tin “đền mạng” cho ông trưởng bản. Đêm đó, chúng tôi thức trắng đêm cùng với cái đói, rét thấu xương của miền biên ải. Mất một ngày sau nữa chúng tôi mới được giải thoát và cùng làm tang ma cho ông trưởng bản Kẻo Bắc. Ngỡ lần đó là lần cuối cùng phải lên Na Ngoi chứng kiến việc đi phá nhổ cây thuốc phiện (nào ngờ…)”.
(Trích phóng sự “Lên Na Khướng đánh phù dung”)
Cái chết của ông trưởng bản. Những nương thuốc phiện, cuộc đói rét thập tử nhất sinh mà Minh Thư đã trải nghiệm năm xưa, tất cả đã làm cho câu kết nhẹ mà xót như một cung đàn giỏ máu mà tác giả tấu lên: “Thì ra nỗi nhớ ả phù dung ở vùng biên ải này vẫn còn khắc khoải chưa nguôi”.
Minh Thư cũng làm tôi thấy thèm được đi chín bản mười mường, khi anh táo bạo nằm trong những cái bản ma tuý mà ở đó “chỉ có đàn bà trẻ em và… con nghiện”. Khi anh đột kích lên ngọn núi chết người mà bọn xấu buôn ma tuý hàng tải với sung ống lẫy lừng. Anh đau đáu với “ảo mộng miền rét sương” qua việc người ta (vì đói, thiếu hiểu biết) bị kẻ xấu dụ dỗ vượt biên đi tìm miền đất hứa. Tôi cứ nghĩ, khi ở với dân bản lâu đến mức thuộc câu hát của người Lào về một “náo moọc mương Pu” (nghĩa là miền rét sương) để rút thành tít bài, thì nghĩa là Minh Thư đã đủ tự tin bạo gan đưa ra kết luận về tình trạng “vô chính phủ” của chính quyền cấp cơ sở khi để xảy ra tình trạng trên. Tôi nhớ, bấy giờ nhà báo sắc như dao Trần Đức Chính, Phó Tổng Biên tập Báo Lao Động đã viết lời giới thiệu cho phóng sự trên, ông hạ bút: tác giả “dùng kiến nghị về tình trạng vô chính phủ này thay cho đoạn kết. Tôi (T.Đ.C) cũng nghĩ vậy thôi”. Không khổ sở với miệt rừng từ tấm bé, làm sao Minh Thư dám viết trong đêm Mường Xén với giọng văn rỉ rả kể về những ngày đến cổng… huyện uỷ đã thấy mùi thuốc phiện thơm thơm. Những ngày anh lăn lộn ở cổng trời Mường Lống. Anh đi đến đầu ngọn dòng Nậm Quàng để cay xót với cái nghèo và lãng đãng với vẻ đẹp mê đắm của thiên nhiên biên thuỳ Quế Phong. Cũng trong những đêm tịch mịch đèn dầu ấy, anh đã được trưởng bản Vừ Vả Rùa kể cho câu chuyện huyền hoặc để viết phóng sự “Chảo gang không còn trên Pù Quặc nữa”. Bài nào của anh cũng mơ màng cổ tích, đẫm màu xanh diệp lục, rồi anh lẩm bẩm chỉ cho tôi, Mường Lống này, Lưu Thông này, chỗ này ngày xưa trồng cây anh túc, nó cho nhựa “ngon” (chất lượng cao) lắm này. Xưa, đất cằn, anh túc kém hoa là bà con lại bẩy cái chảo gang ra khỏi bếp lò, thế là tiếng gọi của cuộc thiên di phóng khoáng đã cất lên, có trời cũng chả ngăn được người Mông đi phá rừng lập bản mới. Họ cõng chảo gang ra đi, đi lặc lè như con rùa mai đen, nhưng chẳng có ngọn núi nào vắng được dấu chân họ. Rồi cũng trong một đêm như thế, anh nhà báo vốn giáo viên cắm bản đã thảng thốt, viết: tôi xuống núi, chia tay các cô giáo viên cắm bản trong tâm thế của một người chạy trốn. Chạy trốn bởi nỗi đau cay xé lòng, như lời cô giáo cắm bản nghiện rượu Lê Thị Châu nói: “Đã là năm thứ mười em dạy ở Bắc Lý. Bọn em lên đây “cắm” bản một mình nhiều đêm buồn khóc một mình, khóc chán đành nghĩ cách đem rượu ra ngậm. Ngậm rồi nuốt, mỗi đêm một chút đến nghiện lúc nào không hay”. (PS: Những “mầm già” trên Phà Coóng)
Lại trong một đêm rừng già u tịch, nghe tiếng hát của em gái người Lào, Minh Thư khao khát viết thêm đoạn hai cho bút ký “Dưới cánh hoa Chăm pa”, rồi anh mê đắm bởi vể đẹp của cô gái tóc thơm – Nang phổm hom (trong truyện cổ của người Lào). Lại đến ngày, anh rút cái tít vừa trúc trắc vừa quyến mời: “Nang phổm hom bản Ang đuổi ma”. Phóng sự về các nàng tóc thơm ở bản Ang đuổi cái con ma tuý gặm nát các cô, chồng con và bản làng của các cô.
Vẻ đẹp của một dải rừng hoang
Lận đận với miền rừng miền Tây xứ Nghệ, Minh Thư đến với thể loại phóng sự hơi muộn so với cái tuổi ngũ thập hôm nay của anh. Song, cũng như khi anh mụ mị đưa tôi băng qua rừng săng lẻ cổ thô, đi mãi dọc Đường Bảy huyền thoại, đi đến nơi dòng sông Lam được sinh ra, đi hết cả Nậm Nơn, Nậm Mộ lên Mường Lống, “ngược Ơ Đu”, sang với đất bạn Xiêng Khoảng; cũng như khi khóc với cô giáo ngậm rượu giải sầu mà nghiện, khi đưa tang ông trưởng bản dẫn cán bộ đi phá cây thuốc phiện bị chết trên nương… - những lúc ấy, Minh Thư quan niệm rất rõ: sống đã rồi hẵng viết. Tôi tin, lúc đó anh đã tạm quên mình là nhà báo. Đơn giản, anh là người con của miền sông Lam núi Hồng. Quê anh là miền Trà Lân trúc chẻ tro bay mà ông Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô đại cáo. Anh đưa tôi ra thăm cái pho cổng cũ cây dại phủ trùm xoà của “Phủ Tương” thuở trước. “Bấy giờ cả miền Tây xứ Nghệ này là đất của Phủ Tương”, nói rồi, Minh Thư tựa lưng vào đại ngàn Pù Mát, phóng mắt ra sông Lam. Tại nơi này, anh đã sống với người Lào từ nhỏ. Người Đan Lai ở gần xã anh, năm đến lại khắc một vệt lên cán dao rừng để đếm tuổi mình, tối đến ngoắc cái “cắng” (chạc cây) vào cằm để ngủ ngồi phòng thú dữ và giặc dã. Anh đã là cán bộ huyện, là giáo viên cắm bản. Anh đã học năm sáu “nội ngữ” ấy từ thuở lọt lòng.
Hoá ra, chỉ riêng kể chuyện đời mình, chuyện quê mình, Minh Thư đã viết đến bạc đầu chưa hết.
Tôi muốn nói, gắn tâm hồn mình, những bài viết lay động lòng người của mình với những vùng đất hoang biệt còn nhiều cam khó, đó là sự lựa chọn chân thành, khảng khái và mến thương của Minh Thư. Cái Tình và vẻ đẹp của ghi chép phóng sự Minh Thư đã lấp lánh ở đó. Như hoa dại giữa những triền rừng hoang.
Hà Nội, rạng sáng ngày 10/5/2007













Thái Bảo Anhthaibaoanh88 # Thursday, November 12, 2009 12:52:54 AM