My Opera is closing 3rd of March

Chữ của vua... (đăng trên Lao Động Tết)

Chữ của vua...

Đỗ Doãn Hoàng

Đi miên man ở biên viễn, núi non, phên giậu, đôi khi, người ta phải thổn thức vì gặp được chữ của vua chúa phong kiến khắc trên các mái đá tuyệt kỹ của đất nước ông bà. Chữ của vua ngưng đọng trên các vách đá, mái đá sơn thuỷ hữu tình sau khi các vị ấy “lưng đeo gươm/ tay mềm mại bút hoa” đi dẹp xâm lăng, đi tiễu trừ nghịch tặc, rồi du sơn du thuỷ ngẫu hứng rút gươm khắc đá đề thơ. Những áng hùng văn đầy tinh anh, dũng khí của người đứng đầu đất nước đó là những báu vật của chúng ta. Nhưng tiếc thay, kho di sản ấy không phải lúc nào cũng được tôn vinh xứng tầm.

“Tiếng gió thổi hạc kêu cũng làm quân giặc kinh sợ”

Xưa, Tây Bắc đường bộ rất hiểm trở. Các chuyến kinh lý của triều đình, bên cạnh đường bộ trắc trở, vẫn thường lấy đường chính là từ Hà Nội, đi dọc sông Hồng, chẽ theo sông Đà, đi mãi qua Hà Tây, Phú Thọ, Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu... Chính vì lẽ đó, mà sông Đà và tả hữu ngạn của nó, dẫu ghềnh thác dữ dằn thế, vẫn rạng danh là sợi chỉ đỏ xâu chuỗi các miền đất linh thiêng lưu giữ chữ của vua.


Cảm ơn Liêm, anh bạn người Thái sinh ra trên xứ Mường đã dẫn tôi lên với chữ của vua Lê "ngự" giữa xứ Thái hoa ban Sơn La smile - giới thiệu loằng ngoằng nhỉ.



Cảm thán: sao cái chữ ngày xưa, cái chữ của ông hoàng bà chúa nó sang trọng thế nhỉ, chữ khắc trên đá, mà ngẫu hứng là rút gươm, lau đá, thổn thức "ma nhai" nóng hôi hổi. Chữ ấy, kiểu gì cũng thiêng. Không nghĩ đến nhuận bút, kể cả khi viết chữ hay ho của mình lên đá đến đổ mồ hôi hột, thế mới là kẻ sỹ chứ lị smile. Nếu là vua, có nhẽ khối anh cũng viết lách mà không bao giờ đi lấy nhuận bút hoặc chờ người ta gửi tiền vào thẻ ATM.

Tôi không đủ chuyên môn để dám chắc rằng, hồi ấy, các ông vua, sau các chiến công hiển hách dẹp yên bờ cõi, thì nhằm ngày đẹp trời, dừng chiến thuyền, rũ hoàng bào, các ông vua sẽ tự trổ gươm lên vách đá lưu bút tích, hay ngài chỉ ngẫu hứng sáng tác rồi giao cho quần thần chịu trách nhiệm “ma nhai” (hình thức khắc chữ lên vách đá). Nhưng, có điều chắc chắn rằng, chữ trên vách đá kia là chữ của vua. Các sách chính sử đều chép rõ: 1432, bấy giờ, Bình Định Vương Lê Lợi - Lam Sơn động chủ - cất đại binh đi dẹp “bầy tôi phản loạn” là Đèo Cát Hãn ở vùng Mường Lễ (Tây Bắc). Đèo Cát Hát là một tù trưởng oán thán nhà Hồ “chính sự phiền hà” (như lời Bình ngô đại cáo), rồi quy hàng nhà Minh, dâng đất miền phên giậu cho giặc! Trước mối hiểm hoạ đó, lên ngôi được 4 năm, Sơn Lam động chủ Lê Lợi đã phải thân chinh vượt sơn lam chướng khí trừ kẻ phản loạn, giữ yên vùng biên cương hiểm yếu nhất. Dẹp xong cái loạn Đèo Cát Hãn, đường về, thảnh thơi, phong cảnh hữu tình, vua đã cho chọn vách đá đẹp nhất của dòng sông huyền thoại, rút kiếm, lau cọ vách đá, đề văn chữ.
Bài “tiêu dẫn” của vua Lê Thái Tổ, in trên vách đá xám ngó xuống mơ màng con sông Đà huyền thoại (ở xã Hào Tráng, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình) thật là một áng hùng văn lay động hồn người ở mọi thời. Khối đá có chữ của vua ấy, sau khi công trình thế kỷ Thủy điện Hoà Bình ngăn đập dâng nước, đã được bứng nguyên khối về Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Hoà Bình từ những năm 1980. Chữ của vua hiện còn nguyên vẹn, dịch ra như sau:

“Năm Nhâm Tý 1432, Thuận Thiên thứ 5, tháng 3, ngày tốt.
Ta đi đánh Đèo Cát Hãn về qua đây, làm một bài thơ để đời sau được biết về đạo lý đánh giặc:

Bọn phản nghịch ở Mường Lễ (Sơn La) mặt người dạ thú, nếu ngang ngạnh, không chịu theo đức hoá thì phải dẹp ngay cho dứt. Ta chẳng sợ gì hiểm trở và sơn lam chướng khí. Như thế là vì lo nghĩ đến sinh linh trong thiên hạ. Còn phương lược ra quân thì hai đạo Thao - Đà, đường thuỷ là đường tiến binh tốt nhất.

Đường hiểm gập ghềnh không ngại khó
Tuổi già ta vẫn còn tấm gan sắt
Nghĩa khí quét sạch nghìn đám mây mù
Tráng tâm san cách muôn trùng núi
Phải trù liệu phương lược làm tốt việc biên phòng.
Phải toan tính sao cho xã tắc dài lâu yên ổn
Ba trăm khúc thác ghềnh nguy hiểm - lời nói ấy kể chi.
Nay ta chỉ thấy nước chảy thuận dòng”.

Đường lên Mường Lễ bao xa/ Trăm bảy mươi thác trăm ba mươi ghềnh. Mặc kệ! “Ba trăm khúc thác ghềnh hiểm nguy, lời nói ấy kể chi/ Nay ta chỉ thấy nước chảy thuận dòng” - cụ Lê Thái Tổ cãi lại câu ca oán thán ghềnh thác sông Đà ăn thịt người từ thượng cổ của các dân tộc Tây Bắc. Ghềnh thác xá chi, sơn lam chướng khí không nề, việc lo cho dân cho nước, vì “các sinh linh trong thiên hạ”, ông phải thân chinh đi dẹp loạn. Dẹp tan cái nạn phản nghịch Đèo Cát Hãn, thế là yên một mối nguy lớn nhãn tiền; nhưng vua lại còn đang tính đến sức mạnh của con chữ. Con chữ án ngữ ở nơi hiểm yếu và hữu tình đó, sẽ làm quân giặc và kẻ nghịch thần phải mãi mãi kinh sợ!
Sự thể là thế này: trước khi có bài “Tiêu dẫn” kể trên 2 tháng, vào tháng 1 năm 1432, ông Lê Lợi đã để lại một bài thơ chữ Hán tít trên thượng du sông Đà. Bài thơ khắc ở vách đá bản Trang, xã Lê Lợi (xã mang tên ông vua đã để lại chữ), huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, được viết bằng chữ Hán gồm 132 chữ, viết trên vách đá rất đẹp, trong khuôn khổ hình chữ nhật, một chiều 1,2m; chiều kia 80cm - dịch nghĩa như sau:
“Thơ rằng: “Bọn giặc cuồng sao dám trốn tránh. Tội đáng giết. Dân ngoại biên đã từ lâu ta đợi đến cứu sống, kẻ bầy tôi làm phản từ xưa vẫn có. Đất đai hiểm trở từ nay không còn (bọn chúng nữa). Hình bóng cỏ cây và tiếng gió thổi hạc kêu cũng làm quân giặc kinh sợ. Non sông này nhập vào một bản đồ, đề thơ khắc lên núi đá. Chắn giữ phía Tây nước Việt ta. Ngày lành tháng Chạp năm Tân Hợi, tức tháng 1 năm 1432”.

Lần đầu, tần ngần trước khối đá đẹp khắc chữ của vua, tôi đã thảng thốt: cái tráng chí ấy, cái cốt cách xả thân của vị vua như thế, làm sao thiên hạ không thái bình! Từ nhỏ tôi đã được học trong sách giáo khoa, “Đến đời Thái Tổ, Thái Tông, thóc lúa đầy đồng trâu chẳng buồn ăn”. Trời ạ, hai vị vua đem thóc lúa đầy đồng cho trăm họ kia lại cũng chính là hai đấng quân vương đã kiêu hùng rút gươm báu vạch chữ lên đá ven sông Đà lưu lại văn bút cho muôn đời con cháu. Bia Lê Lợi, có lẽ là những dòng chữ của một vị vua phong kiến Việt Nam ở xa Kinh thành nhất, ở nơi rừng sâu núi hiểm nhất mà chúng ta từng biết.

Sự quần cường, ngút trời nghĩa khí, sự dũng mãnh của lưỡi gươm chinh phạt và con chữ của đấng quân vương, đúng là “Hình bóng cỏ cây và tiếng gió thổi hạc kêu cũng làm quân giặc kinh sợ”. Khen chữ của vua thì đúng là khen phò mã tốt áo, nói rằng bạn đã và sẽ phải xúc động ra sao khi đọc chữ của vua ở ngã ba sông đẹp nhất Việt Nam, nơi sông Đà và sông Nậm Na gặp nhau ấy, cũng là thừa. Nơi ấy, là chỗ để “vua Thái” Đèo Văn Long xây dinh thự, đó là nơi người Pháp chọn làm tỉnh lỵ Lai Châu, là cái đô thị diễm tình nhất, khí hậu tuyệt vời của Tây Bắc. Tiếc thay, đây lại là cái thị xã đầu tiên của Việt Nam vĩnh viễn biến mất trong hàng tỉ mét khối nước của lòng hồ thủy điện Sơn La trong ít ngày nữa. Bia Lê Lợi, di tích quốc gia ấy cũng lại vướng phải cái hoạ bứng đi nơi khác, sau hơn 577 năm yên ổn, thiêng liêng, náo nức các con dân và khách du đến chiêm bái, khói nhang. Vua viết chữ lên vách đá ngã ba sông, là vì phong cảnh ơ đó khiến lòng vua không thôi xúc cảm; nay đẽo chữ cõng về bảo tàng, thì có khác gì vặt hết lông cánh của loài đại bàng núi?

“Thế gian đã có anh hùng chúa/ thiên hạ ai tha kẻ nghịch thần”


Có một mái đá, ở vách núi đẹp đến nỗi, một lần nữa, một vị vua Lê phải trầm trồ ngự lại rồi đẽo đá đề thơ; thơ ấy giờ là linh hồn của một di tích quốc gia ở tỉnh Sơn La. Bài thơ chữ Hán “Quế Lâm Ngự Chế” của vua Lê Thái Tông (1423 - 1442) được khắc trên mái đá cao vào năm 1440, khi ông thân chinh dẫn đại binh đánh dẹp một thổ tù tên là Thượng Nghiễm cấu kết với giặc Ai Lao làm phản ở vùng Thuận Châu. Sử cũ chép: vua Lê đã ngủ lại trong động đá một đêm, sáng ra, từ trên đỉnh đá, phóng tầm mắt ra bốn bề tràn ngập mây mù, các vách đá với màu sắc kỳ ảo, không khí mát lạnh, hang động hun hút, cây cổ thụ trùm xoà, các bức tường và các cuộn ống bằng đá gõ vào tiếng kêu như... giàn nhạc đá - thật là một quang cảnh hữu tình hiếm có, ngài đã làm thơ, khắc luôn lên vách đá thiêng. Tôi đến với thế giới chữ khảm mình trong đá của vị vua anh minh Lê Thái Tông, khi mà “cửa động, đầu non, đường lối cũ/ ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi” đó vẫn còn ẩn tàng trong nắng sớm, chữ của vua thiêng quý ngự tít trên đỉnh trời (tạm dịch):

“Nghĩ đến người xa đêm khổ tâm
Thổ tù sao lại dám quên thân
Thế gian đã có anh hùng chúa
Thiên hạ ai tha kẻ nghịch thần
Đường xá khó khăn đừng cậy hiểm
Hang cùng đã ấm áp hơi xuân.
Yên được dân lành (những) nhơ nhớp (đã) hết
Dân xa được hưởng tấm lòng nhân”.

(thơ khắc trên đá, năm 1440, chép theo bản dịch khắc trên đá dựng tại di tích).

Cháu nội ông Lê Lợi, vua Lê Thánh Tông cũng khắc đá đề một bài thơ nổi tiếng ở thắng cảnh Núi Bài Thơ, ở trong lòng Di sản thế giới Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, với những lời mà “khẩu khí” chả kém gì cha ông:

“... Nay một tay mặc sức tung hoành, quyền uy như thần gió
Phía bắc, bọn giặc giã như hùm beo đã dẹp yên
Vùng biển phía đông, khói chiến tranh đã tắt
Muôn thuở trời Nam, non sông bền vững
Bây giờ chính là lúc giảm việc võ, tu sửa việc văn”.

Bia đá cổ (thế kỷ 15) ở xã Bình Long, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng khắc ghi việc Lê Thái Tổ “Đường xa chẳng quản ngại ra quân” để “Trời đất chẳng dung phường phản tặc” (lời lẽ trong bia) dẹp nghịch tặc ở châu Thái Nguyên... vừa suýt biến mất bởi nạn phá đá, cấp phép phá đá “bất tri lý” của những kẻ sấp mặt vì tiền. Chữ của vua Lê ở Hoà Bình bị bứng từ vách đá đẹp từng khiến ông Lê Lợi ngẩn ngơ lưu bút tích về... sân bảo tàng tỉnh. Nay bảo tàng chuyển, chữ của vua cũng lếch thếch đi theo, đến một chỗ dấm dúi tạm bợ đến buốt lòng. Chữ của vua theo đúng nghĩa đen, sao lại khổ thế nhỉ?


Giữa bối cảnh ấy, trong một ban mai, tôi đã giật mình, xúc động khi gặp cảnh các học sinh trường THCS Chiềng Lề tri ân chữ của vua tại bia “Quế Lâm ngự chế”. “Thế gian đã có anh hùng chúa/ thiên hạ ai tha kẻ nghịch thần” - thầy cô giáo cầm mi-cờ-rô phân tích vẻ đẹp của thiên nhiên nơi có mái đá vua Lê từng nghỉ chân để lại “thủ bút”, giới thiệu hoàn cảnh lịch sử sinh ra kẻ phản nghịch cấu kết với giặc Ai Lao, vinh danh các chiến công của vua Lê Thái Tông và các ông hoàng triều Lê, đọc và chú giải bài thơ chữ Hán... Các em học sinh miệt mài ghi chép, các cháu thơ ngây kính trọng quan sát chữ của một ông hoàng đến từ hơn 500 năm trước. Việc các cháu yêu kính lịch sử nước nhà, tôn vinh chữ của đấng quân vương quả cảm rời lầu son gác tía thân chinh dẹp yên miền phên giậu đã khiến tôi nao lòng! Chợt thấy ai đó đọc “vè” xách mé: “Dân ta phải biết sử ta/ chỗ nào không biết thì tra gu- gờ (google)” là vơ đũa cả nắm. Chợt trong tôi lại da diết, muốn làm một cái việc mà biết đâu nhiều người sẽ thấy hơi... “lập dị”, là: viết một bản đề xuất, sưu tầm (hoặc xui ai đó làm), chắp nối, chú giải đủ một kho tư liệu điền dã về những dòng chữ của vua còn để lại trên vách đá khắp non sông Việt, ngõ hầu muốn di sản độc đáo đó được tôn vinh xứng tầm. Đánh thức chữ của các bậc đế vương.

Đ.D.H

Kèm chùm ảnh chữ của Vua trên các mái đá trên đất Việt.

A: Bài “Tiêu dẫn” của vua Lê Lợi khắc trên vách đá ven sông Đà, thuộc xã Hào Tráng, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình bị “bứng” về Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Hoà Bình, nay bảo tàng chuyển, lại tiếp tục... bứng đi, rất tội nghiệp.


B: Bia Quế Lâm Ngự Chế của vua Lê Thái Tông, hiện lưu giữ cẩn thận ở thị xã tỉnh lỵ Sơn La, với tư cách là một Di tích quốc gia. Hằng ngày, các cháu học sinh đến tham quan, học tập, nghiên cứu, với nhiều hình ảnh rất xúc động!

C: Chữ của vua Lê ở tỉnh Lai Châu, ven sông Đà (cuối năm 2009 cũng đã bị bứng đi nơi khác, sau hơn 500 năm an vị).




Vài tấm ảnh loăng quăng, vài xúc cảm trong đêm xứ Đoài, thật mênh mang...Thương mến gửi các em gái tơ "lẳng" tính (quê tôi gọi là "đĩ tính")...

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28