"Cuộc đời yêu như vợ ta ơi"
Wednesday, March 28, 2007 6:08:41 PM
“Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi”
“Ta đau lắm những nỗi đau sinh nở
Cuộc đời thân như hơi thở ta ơi
Ta yêu lắm những niềm vui cởi mở
Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi”
(Thơ Việt Phương)[/I]
Tản mạn của Đỗ Doãn Hoàng
Vẻ đẹp trời không làm ra được, người cũng không làm ra được!
Đôi khi ngồi xem lại kho ảnh, kho kỷ niệm khổng lồ mà mình đã chụp (gặp) trên bước đường lang bang xuôi ngược, mới càng thấm thía cái câu cửa miệng (đã cũ) của nhiều người: vẻ đẹp không nằm trên má hồng người thiếu nữ, mà nằm trong con mắt kẻ si tình. Hóa ra không phải vợ của một ông hoàng (nhà vua) Bắc Âu, hóa ra không phải những đương kim hoa hậu hoa khôi gây cho tôi những cái giật mình về nhan sắc. Hóa ra sự thụ hưởng vẻ đẹp diệu kỳ đến thiêng liêng của tạo hóa kia chẳng chịu sự can thiệp của bất cứ danh hiệu hay trò lăng-xê trần tục nào cả.
“Ta đau lắm những nỗi đau sinh nở
Cuộc đời thân như hơi thở ta ơi
Ta yêu lắm những niềm vui cởi mở
Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi”
(Thơ Việt Phương)[/I]
Tản mạn của Đỗ Doãn Hoàng
Vẻ đẹp trời không làm ra được, người cũng không làm ra được!
Đôi khi ngồi xem lại kho ảnh, kho kỷ niệm khổng lồ mà mình đã chụp (gặp) trên bước đường lang bang xuôi ngược, mới càng thấm thía cái câu cửa miệng (đã cũ) của nhiều người: vẻ đẹp không nằm trên má hồng người thiếu nữ, mà nằm trong con mắt kẻ si tình. Hóa ra không phải vợ của một ông hoàng (nhà vua) Bắc Âu, hóa ra không phải những đương kim hoa hậu hoa khôi gây cho tôi những cái giật mình về nhan sắc. Hóa ra sự thụ hưởng vẻ đẹp diệu kỳ đến thiêng liêng của tạo hóa kia chẳng chịu sự can thiệp của bất cứ danh hiệu hay trò lăng-xê trần tục nào cả.
Bạn đã bao giờ đi loanh quanh trong đêm tối và đám đông bãi chiếu bóng trong một khe núi hẹp để vô vọng tìm một nhan sắc mà bạn biết rất rõ rằng mình đang đi tìm không phải vì xác thịt hay một ham hố chiếm dụng nào, đi tìm chỉ vì đó là nhan sắc lạ lùng; và bạn tin, nếu không gặp lại người ấy thì bạn sẽ đau đáu suốt cả một đời? Rồi ông trưởng bản cười ề à, cháu lại đi tìm con Mai chứ gì, vẻ đẹp của nó luôn làm người ta giật mình. Hình như tôi bị vẻ đẹp bí ẩn của Mai bỏ bùa; và người làm bùa, ai ngờ lại chính là ông trưởng bản đang ngồi giữa “tim đen” tôi mà phán này đây. Tôi có cảm giác rất rõ rằng, tôi đã sững lại, trán như húc vào một thanh gỗ lớn chắn ngang cái khung cửa nhà chình đất quá thấp; rồi chân như vấp phải một hòn đá lớn án ngữ ở đầu bản Sín Chéng trong đêm giá lạnh. Trưởng bản vẫn ề à: vẻ đẹp của con Mai là vẻ đẹp một mình ông trời không tạo ra được, một mình con người cũng không làm ra được. Nó là vẻ đẹp của nó. Của Trời và Người. Sùng Thị Mai cõng theo một đứa con nhỏ, nền nã đi giữa xanh rì khu chợ rau cỏ họp bên triền núi thấp thểnh. Em váy áo di chuyển như một đốm lửa sặc sỡ sắc màu. Đường Mai đi, bên này là rau cải xanh, rau đã xuống chợ rồi mà vẫn lộng lẫy hoa vàng; bên kia là trâu, ngựa, lợn, chó, mèo - những con vật bị đem xuống chợ bán mà vẫn cứ loăng quăng, phe phẩy, hồn nhiên ngó nghiêng sự bán mua của con người. Cứ như là bọn súc vật đang mở một bữa tiệc núi để chuẩn bị mua bán con người (chứ không phải ngược lại) ấy. Tiếng hát của chàng người Mông đã mềm môi vì rượu ngô vẳng lại, “nghe nơi ấy có cô em lừng danh xinh đẹp/ anh chàng bèn làm hoạ mi cất bước ra đi”. Tôi nói vài câu tiếng Mông học lỏm được, mắt Mai lóng lánh: “Anh từ xa đến à?”; “Thế ở Hà Nội, nhà anh ở bản gì?”. “Hà Nội chỉ có phố, không có bản Mai à”. “Anh nói thật với em đi, anh ở bản gì. Người ở Sín Chéng quê em khổ lắm, mà lúc nào cũng sống thật. Đừng nói dối em nữa…”. Mai nhìn xa xăm, thằng bé trên lưng mai cứ ngoài người ra ngắm những chiếc lồng chim hoạ mi bày dọc một bờ ruộng bậc thang uốn lượn. Mai cười, chiếc răng vàng sáng lóng lánh. “Nếu anh không vào bản em chơi, anh về Hà Nội, thì đến tận khi già yếu, chắc gì anh đã lên bản em chơi được một lần? Hà Nội có đông người bằng cả huyện chúng em không?”. Chợ càng trưa càng đông, phụ nữ vùng cao rặt một màu áo, một loại loại áo, tôi đi tìm Mai rồi chợt nhận ra, đi chợ vùng cao người ta vì thế mà người ta dễ lạc nhau hơn. Khó tìm thấy nhau hơn. Nên thế mới cần đến chợ tình năm có một phiên?
Chợt gặp lại, Mai đang mua đôi dép bé xíu cho một đứa bé chân cóng lạnh ngập dưới bùn đất chợ Sín Chéng. “Em mua cho nó, nhà nó nghèo quá mà. Nó đang ốm. Lạnh thế này, nó chết mất…”. Tôi sững sờ. Đôi mắt Mai ấm sực, mênh mang buồn. Hoá ra váy áo người Mông không chỉ loè xoè, rợp sắc như trong điệu dân vũ “(múa) sinh tiền”, mà áo chẽn xanh bó cổ cao ba ngấn của Mai thật gợi cảm. Gương mặt Mai, nhìn kỹ, giống như một quý bà trong các lâu đài cổ Tây phương. Êm đềm, sáng trong, hứa hẹn. Vẻ đẹp mà người đàn ông trong tôi cảm thấy nhói lòng (không hiểu vì sao nữa!). Bạn tôi buột miệng đọc thơ phố xá của ai đó: “Em hơi bị đẹp, anh hơi bị nhàu”. Trước những nhan sắc ngần ấy, người ta dễ tủi tủi vì mình không có đủ tự tin “nghe nơi ấy có cô em lừng danh xinh đẹp/ anh chàng bèn làm hoạ mi cất bước ra đi” (như trong bài hát của người Mông kể trên). Không thể hình dung được, Mai đã lớn lên, đã khoe sắc trên cái vùng đất mà cách đây hơn một năm trời, đường vẫn khảm lơ lơ giữa núi, đường chỉ bé bằng bụng ngựa. Đời em toả hương trên đá, bên những chảo mèn mén đạm bạc đến đau thương? Có một cái gì hơn cả nhan sắc lan toả trong tôi. Cả đoàn công tác chúng tôi chạy lại “xem” người đẹp rờ rỡ giữa chợ rộn rã sắc màu. Đêm ấy, khi đoàn văn công đang diễn Quan âm Thị Kính, “nay mười tư mai đã là rằm/ ai muốn ăn oản thì năng lên chùa”, Mai cũng đến. Em đứng lặng lẽ trong sương mù, Mai vẫn địu con, nụ cười lấp loá cái răng vàng. Cả đoàn chúng tôi lại hăm hở đi tìm Mai để… ngó lại người đẹp. Bấy giờ, anh cán bộ địa phương tủm tỉm giới thiệu: Sùng Thị Mai là vợ anh Thành, Phó Chủ tịch UBND xã. Mai là tấm gương trong toàn vùng về tài nữ công gia chánh (theo lối nói của người xuôi ta) và có tấm lòng nhân ái với nhiều cử chỉ dẫu nhỏ lẻ nhưng rất cụ thể cho người nghèo ở địa phương (ví dụ như mua đôi dép tí xíu cho đứa trẻ con nhà nghèo). Điều này rất hiếm gặp ở những phụ nữ đôi khi bị đè nặng quan niệm phụ quyền để rồi quá quen với cảnh sống khép mình, âm thầm, chẳng bao giờ chấp nhận nói một câu tiếng Kinh với khách xuôi mà chúng tôi hay gặp.
Mấy người phố thị chạy loanh quanh bên Mai đòi chụp ảnh chung. Em như một cái gì đó, mà chúng tôi sợ đến gần thì em sẽ tan biến. Như triền rau cải hoa vàng đầu núi, như đám nương hoa bạc hà, hoa tam giác mạch tím mát trong thung. Mai là người vợ tảo tần. Dậy sớm, thắt khăn xanh lưng váy, nấu rượu cho chồng và khách uống rồi lặng lẽ lên nương, nụ cười vẫn lấp loá cái răng bịt vàng. Khăn áo xùm xoà không giấu được vẻ đẹp rờ rỡ của một đoá hoa đương độ, đoá hoa mà một mình trời cũng không làm được, một mình người ta cũng không làm ra được. Ai đó đem khoe ảnh Mai rất xinh ra với lãnh đạo huyện, mấy bác cười hể hả, tếu: “vợ lãnh đạo xã đấy, cây nhà người trái nhà người/ chớ trông mỏi mắt, chớ chòi mỏi tay!”. Vậy ra, vẻ đẹp của Mai đã được loan truyền trong cả khu vực, chẳng ai lạ gì. Cuộc tranh luận bắt đầu nổ ra: vẻ đẹp trời không làm ra được, người không làm ra được ấy, không thể dùng để ngồi canh cái nồi rượu xình xịch suốt ngày trong xó bếp phục vụ mấy anh chồng ngồi uống rượu lười nhác với sương mờ non cao; càng không thể để em chôn vùi trong những khoảnh nương xa ngút trỉa trồng trên biển đá tai mèo. Cũng không thể mang em đi thi hoa hậu hoa khôi rồi vướng vào những chuyện đau lòng với đám đại gia. Cuối cùng con mắt xanh của đồng chí Phó Chủ tịch xã vẫn là một con đường khả dĩ để Mai tiếp tục êm đềm và nhân ái đi mua đôi dép nhỏ xíu cho bàn chân nhỏ xíu đứng ngập bùn lạnh ở chợ Sín Chéng. Mai lành lẽ khi em toả hương, địu con khiến chúng tôi nháo nhác đi tìm trong đêm văn công xóm núi bịt bùng sương phủ. Để một ngày, biết đâu, anh Phó Chủ tịch xã thức dậy, lòng ào lên cái xúc cảm kiểu như “cuộc đời yêu như vợ của ta ơi” mà thi sỹ Việt Phương đã viết, để một ngày Mai hỏi tôi nhất nhất là anh phải ở cái bản gì dưới Hà Nội - thế cũng là đủ con đường lành lẽ cho một kiếp hoa, Mai nhỉ. Em quá đẹp, song biết thế nào là “bõ công bác mẹ sinh thành ra ta”, phải không Mai. Em thấy vui là đời thấy vui rồi.
Nếu chưa gặp cô Phùa thì coi như chưa leo núi ngược Tà Xùa
Mai làm tôi nhớ đến Phùa. Cũng 20 tuổi như Mai, trên đỉnh Tà Xùa cao 2.500m so với mặt nước biển, nhà Phùa (tiếng Mông tức là loài hoa) thuộc vào cái ngôi nhà “ăn trên ngồi chốc” vòi vọi nhất nước ta. Phùa bảo: Ba năm nữa em có về bản em chơi không? Một trăm năm nữa chúng ta sẽ nói chuyện gì với nhau nhỉ? Một trăm năm nữa có khi em là một cái cây, còn anh đang mê mải là một cánh chim thu lạc cuối ngàn. Sao em hỏi giống… Nguyễn Du thế – tôi chợt nghĩ, rồi cũng chẳng nói ra điều đó. Vì nói ra, chắc gì Phùa đã hiểu. Một trăm năm nữa? - Phùa hỏi bâng quơ mà loài người ai cũng phải thấy cay xót đấy. Phùa đẹp vẻ đẹp hoang dã của người du mục trong tiểu thuyết xa xôi. Đẹp đến mức người địa phương có câu đại ý: lên Tà Xùa mà chưa gặp em Phùa thì coi như vẫn… ở nhà. (Cũng như, đi chợ huyện mỗi tháng một phiên mà đàn ông không say rượu thì về vợ hỏi đi với đứa con gái nào mà mình lại chẳng say thế hả chồng?). Phùa mặc áo váy sặc sỡ như một con bươm bướm rừng; mắt to, sắc và ướt sượt. Tiếng cười của Phùa trong vắt, nó khiến bạn phải quay sang tả hữu vói mắt lục tìm xem hình như còn rất nhiều cô gái khác cũng đang vui vầy tiên cảnh giữa viền rừng hoa voan trắng… Đêm ấy, không có cả ngọn đèn dầu để vào mâm rượu, Hạng A Sử bảo vợ chẻ tấm gỗ pơmu ra làm đóm, đốt lên soi cho khách vào nhà mình. Khói pơmu ấm và thơm như nhang trầm.
Phùa cầm đóm, đứng ở góc nhà giúp khách giót rượu ra bát. Ngọn lửa trên tay Phùa tròn mọng như giọt nước hồng chảy giữa đêm đen bất tận. Trông em như cô gái Huế cầm hoa đăng trình bày vũ khúc gì đó của Nhã nhạc cung đình. Sao lại có sự chịu thương chịu khó, hầu hạ chồng đến ngần ấy, hả rừng xanh? Chồng của Phùa gầy choắt, tai như tai chuột, nhưng điệp điệp núi rừng nằm cả trong lòng tay hắn. Hắn đưa tôi lạc vào những nương hoa thuốc phiện tím mê mải, cây thuốc phiện được nhổ về cho Phùa luộc lên, ăn thanh tao đến mức không ai nghĩ đó là loài cây đem đến sự lầm lạc ma quái cho cuộc đời. A Sử lại đưa tôi đi tìm hoa lá ngón vàng, đẹp não nùng (hoa đẹp bao giờ cũng là hoa ăn thịt người?); vào với những gốc cây pơmu đường kính dài khoảng 1,5m mà làng báo Việt Nam hình như chưa bao giờ có ai vào đó và chụp được một cái ảnh. Tôi đùa, Sử à, mày là A Sử, A Sử đánh Mỵ rất ghê trong cái truyện “Vợ chồng A Phủ” ngày xưa chúng tao được học. Mày có đánh vợ Phùa bao giờ không? “Vợ đẹp thế, ai mà nỡ đánh, mày biết rồi còn gì”. Phùa chắc không bao giờ quên được đêm hôm ấy. Khi mà mưa đá ào về ném nát những cánh rừng, cả trăm căn nhà tốc mái; em gái Phùa đã bị sét đánh chết. Sáng ra, Phùa leo lên tá hoả với đám bồ hóng trên gác bếp đem từng đon lúa (để cả bông bó vào) xuống đập bụi mù, rồi em bỏ lúa vào cối giã, chuẩn bị làm cơm đãi khách. Tôi không ngủ được, muốn giúp cái gì, Phùa cũng gạt ra. Đám lợn dăm con, đám chó ba bốn con bị thúc dậy sớm, chúng đang kêu đói và cứ xán vào bà chủ, Phùa cũng gạt ra. Gạt một cách dịu dàng. Con trai Phùa bé tẹo, nằm ở gần đám lá ngô mép lửa. Củi bằng gỗ pơmu thơm phức, mỗi lúc lửa già nóng quá, cháu lại nhăn nhó lăn xa bếp lửa một tẹo. Hai má nó đỏ như đôi trái dâu tây. Tôi hỏi chuyện gì, Phùa cũng chỉ cười, “chư pâu” (không biết). Phùa hỏi gì, tôi lúng túng, cũng đành nói chư pâu. Em nói tiếng Kinh không tồi, nhưng hình như em không muốn nói chuyện lúc cơm sôi lửa thốc? Chợt có người đến rú rít nói loảng xoảng điều gì ngoài triền dốc hiên nhà. Phùa khóc rầm rĩ, em cầm bó đóm bằng gỗ pơmu tách nêm dài thượt lao vụt ra màn đêm rả rích mưa. Ông mặt trời chưa dậy. Bó đuốc lao đi trong đêm núi rừng. Không thấy Phùa đâu, chỉ còn ngọn lửa hình giọt nước, màu hồng, khổng lồ, bay xiên xiên ra phía suối Sập như ma trơi. A Sử chồm dậy, lẩm bẩm: em gái của Phùa bị sét đánh chết lúc trời đổ mưa đá.
Tôi xuống núi, và như lời Phùa nói, biết bao giờ anh mới ngược đỉnh Tà Xùa nữa đây. Phùa cứ ngồi tựa cột nhà cuốn lanh khâu váy; cứ cầm đóm pơmu thắp lửa cho dăm bảy người đàn ông nhà chồng uống rượu. Trời chưa sáng em đã cõng gùi câm lặng cùng con ngựa ngược lên đỉnh núi với nắm cơm nhỏ trong tay, vừa đi vừa ăn sáng. Ngày nào cũng vậy, khi em từ rừng trở về thì rừng đã tối. Dẫu thế, người Phù Yên vẫn bảo, lên Tà Xùa mà chưa gặp em Phùa thì coi như chưa lên núi. Dẫu thế, cũng chẳng thể nói rằng hoa khối đỉnh núi Tà Xùa không đẹp, không sung sướng bằng hoa hậu Việt Nam, hoa hậu thế giới được. Ai êm ấm, bình yên và làm ấm lòng người khác hơn ai nhỉ? Bài hát mời rượu mà Phùa mời chúng tôi, dịch ra nghĩa là thế này: “Rượu đây em mời/ uống đầu làng cuối bản hãy còn thơm/ uống ba năm rượu hãy còn say/ rượu đây tay ngà…”. Ai bảo Phùa và A Sử không biết làm thơ? Ai bảo cái câu hỏi: một trăm năm nữa Phùa và anh sẽ nói với nhau chuyện gì không phải là sự gặp gỡ giữa Phùa và cụ Nguyễn Du đa tình nhỉ? Mùa xuân, hoa trạng nguyên nở đỏ rực các triền núi của Tà Xùa, đêm nay, có thể nồi rượu nấu cho nhà chồng của Phùa lại xình xịch nổi lửa bằng gỗ pơmu. Mẻ rượu đầu, Phùa và cả bản cùng uống, câu hát ấy cất lên. Phùa cũng chẳng biết mình xinh đẹp đến nhường nào, bởi có thể suốt đời em chẳng ra khỏi đỉnh núi trước nhà. Và những người đàn ông vạm vỡ như đại bàng núi sau biển mây mù ở nơi xa xôi ấy, họ cũng không có thói quen cân đong xem người đàn bà địu con nhà A Sử đẹp đến thế nào. Chỉ biết em là Phùa, Phùa tức là tiếng để chỉ những loài hoa làm sang núi sáng rừng của người Mông. Loài hoa không bao giờ tủi phận bởi mình chỉ là hoa dại. Cũng không bao giờ thắc mắc vì sao mình không được trồng tỉa khoe sắc ở nơi lầu son gác tía. Loài hoa ấy sinh ra để dịu dàng, nhỏ nhẻ; để mỉm cười cả trong bình minh lẫn lúc hoàng hôn.
Không có một ai lên núi cao chụp ảnh Phùa. Có thể kiếp sau (nếu có) Phùa là cây cỏ hay là một cánh chim mê mải giữa rừng già. Phùa và Mai chẳng bao giờ gặp nhau. Họ là vợ của những người đàn ông bình thường, những ông chồng thích múa khèn, uống rượu, thích lặng lẽ như một triền núi xa xa. Vợ của một ông hoàng ông chúa hay vợ của một anh đánh dậm, một chàng hát sẩm thì cũng chẳng biết nàng nào sẽ tuyệt vời hơn nàng nào? Mỗi lần nhớ tới Mai, Phùa hay rất rất nhiều nhan sắc âm thầm ở những miền rừng khuất nẻo khác, tôi cứ ao ước: giá mà có cách nào chúng ta lưu giữ được vẻ đẹp tự khắc trời không làm ra được, người không làm ra được ấy? Một cách lành lẽ nhất, trông thấy họ (có thể chỉ là qua một tấm ảnh hay một đoạn phim video), bạn sẽ thấy cuộc đời đẹp đến diệu kỳ, đẹp hơn cả những gì bạn đang thấy. Trong mắt Phùa và Mai, tôi nghe thấy lời thương yêu của cây cỏ.
Đ.D.H













VTC Newsvtcnews # Tuesday, April 3, 2007 2:32:50 AM
VTC Newsvtcnews # Tuesday, April 3, 2007 3:32:13 AM
Anh có thể làm ơn bày cho tối cái cách làm thế nào để chia các bài viết theo chủ đề đặt bên tay phải, như anh đặt thành ''Phóng sự'', ''Bút ký'', ''Phỏng vấn'', ''Tản mạn tuỳ bút'' ...
Cảm ơn anh nhiều
Đỗ Doãn Hoàngdodoanhoang # Wednesday, April 4, 2007 3:13:42 PM