Cực Tây
Monday, March 7, 2011 4:36:01 PM
Kiệt sức ở cực Tây tổ quốc
Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng
Trên biên giới bộ của Việt Nam ta, chỉ có 2 cái cột mốc ba mặt cạnh, mỗi mặt hướng về một quốc gia. Đó là mốc ngã ba biên giới A Pa Chải, đặt ở xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, nơi giáp gianh 3 nước: Việt Nam - Trung Quốc - Lào. Cách đó gần 2.000 km, là cột mốc ngã ba Đông Dương, mỗi cạnh của cột mốc ngoảnh về một nước, gồm Việt Nam, Lào và Cam Pu Chia, thuộc địa phận xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. 8 năm trước, tôi từng đi bộ 15 ngày vào khu rừng thiêng Thập Tầng Đại Sơn để rồi khôn nguôi thổn thức và ám ảnh; đầu năm 2011 này, lại ngạc nhiên trước cảnh bà con ta đã có thể ngồi ô tô vào đến tận cái ba-ri-e bước một bước là sang nước bạn Trung Hoa. Tuy nhiên, bây giờ, vẫn phải mất 8 tiếng cắm mặt leo núi dốc, kiệt sức luồn rừng nguyên sinh nữa thì cột mốc ba cạnh mới hiện ra. Đó là điểm cực Tây thiêng liêng của Tổ quốc…
Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng
Trên biên giới bộ của Việt Nam ta, chỉ có 2 cái cột mốc ba mặt cạnh, mỗi mặt hướng về một quốc gia. Đó là mốc ngã ba biên giới A Pa Chải, đặt ở xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, nơi giáp gianh 3 nước: Việt Nam - Trung Quốc - Lào. Cách đó gần 2.000 km, là cột mốc ngã ba Đông Dương, mỗi cạnh của cột mốc ngoảnh về một nước, gồm Việt Nam, Lào và Cam Pu Chia, thuộc địa phận xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. 8 năm trước, tôi từng đi bộ 15 ngày vào khu rừng thiêng Thập Tầng Đại Sơn để rồi khôn nguôi thổn thức và ám ảnh; đầu năm 2011 này, lại ngạc nhiên trước cảnh bà con ta đã có thể ngồi ô tô vào đến tận cái ba-ri-e bước một bước là sang nước bạn Trung Hoa. Tuy nhiên, bây giờ, vẫn phải mất 8 tiếng cắm mặt leo núi dốc, kiệt sức luồn rừng nguyên sinh nữa thì cột mốc ba cạnh mới hiện ra. Đó là điểm cực Tây thiêng liêng của Tổ quốc…
Cái giá của sự hoang sơ 9 năm về trước
Từ Hà Nội vượt gần 800 km lên cực Tây tổ quốc, nơi một tiếng gà gáy cũng tự hào mang trong mình ba quốc tịch ấy, đường núi có khá khẩm lên từng ngày. Tuy nhiên, kể từ đầu thế kỷ 20, khi viên công sứ Sanh Pu Lốp dùng roi cặc bò và báng súng lớn cưỡng chế phu phen người Việt mở đường lên Tây Bắc (rồi con đường có thời mang tên Sanh Pu Lốp) đến giờ, cái mà nay ta gọi là Quốc lộ số Sáu chưa bao giờ thôi đèo dốc và rình rập tai ương. Đèo Pha Đin 32km, ở vào địa phận huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên, người ta còn dựng một tấm bia bê tông, tưởng nhớ các người tử nạn trong vụ chiếc xe khách… không dưng rơi tan tành dưới vực. Đi hết 500km, lọt vào cánh đồng Mường Thanh rộng lớn và màu mỡ nhất Tây Bắc, chúng tôi tự cho phép mình ngủ một đêm thả phanh, để ngày mai vượt gần 300 cây số đường ổ khủng long nữa mới vào đến cái huyện xa xôi và nghèo khó bậc nhất Việt Nam: Mường Nhé.
Mường Nhé chiếm nhiều cái kỷ lục vui và buồn. Vừa tách ra khỏi Mường Tè, huyện nghèo này lại liên tục phải tách đôi tách ba các xã của mình bởi nạn di dân tự do phá vỡ mọi thứ mô hình dân cư, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục. Có năm, huyện phải xin nhà nước cho lập thêm gần 40 cái bản làng mới, bởi bà con nhảy dù vào phá rừng, dựng nhà, đánh biên phòng và công an, tóm lại là không làm sao… đuổi được. Bây giờ, năm 2011, trở lại miền cương thổ Mường Nhé, thấy đường ô tô được mở đến tận cái chợ biên ải lèo tèo mà công dân hai nước Việt Nam và Trung Quốc ngày nào cũng chung tay nhóm họp kia! Lại thêm sóng điện thoại di động ò í e réo tưng bừng trên tay bà con Hà Nhì chưa nói sõi tiếng Kinh kia nữa. Đúng là tôi phải ngẩn ngơ mất nửa ngày, vì không dám tin vào những “giấc mộng” lạ lùng kiểu “bãi bể nương dâu” như vậy. Rừng bị phá dã man, phá ở mức kỷ lục của Việt Nam. Cái chỗ mà cách đây 9 năm tôi phải đi bộ chừng 15 ngày mới tới, đi như gặn chắt đến giọt mồ hôi và nghị lực sống cuối cùng trong gã trai đôi mươi của mình để xuyên qua khu bảo tồn thiên nhiên lớn nhất Việt Nam (rộng 300 nghìn héc-ta); thì nay ô tô có thể chạy vèo vèo.
9 năm trước, khi tôi đến, toàn bộ vùng ngã ba biên giới mênh mông này, chưa có bất cứ cái bánh xe hình tròn của xe đạp, xe máy, hay ô tô… nào chạm đến. Mỗi lúc loạn ly, đói rét, thiên tai, thì nhà nước phải dùng máy bay trực thăng vượt mấy trăm cây số rừng hoang núi thẳm vào cứu trợ. Bởi thế nên đầu các bản như Leng Su Sìn, Tả Kho Khừ, A Pa Chải bây giờ vẫn cứ sang trọng có một cái bãi đất bằng gọi là… sân bay trực thăng. Chú phi công oai hùng bước xuống, cứu trợ muối, gạo nước hay quần áo rét cho bà con xong, có khi ông Pờ Sỹ Tài - một trí thức thuộc dòng dõi “quý tộc” của toàn bộ khu vực - lại hò trai bản khênh cả tấn mật ong, cả bộ da hổ vàng óng ả ra tặng những người lái “đàn chim sắt” (trực thăng) mang về làm quà.
Tôi và tòa báo của mình từng rất gắn bó với vùng ngã ba biên giới, có khi vận động xây cả trường học nhiều trăm triệu cho trẻ nghèo, có khi xây thư viện hay đưa cả trưởng bản ngồi máy bay từ Điện Biên, về nhà mình ở Hà Nội để chữa bệnh. Nhớ mãi câu chuyện về ông Pờ Sỹ Tài, người đã làm lễ đặt cho tôi cái tên Hà Nhì là Lỳ Sé Hoàng, người được tôi gọi bằng bố trong suốt những năm qua. Khi về BV Việt Xô (Hà Nội) khám, bác sỹ bảo: ông bị đái tháo đường, bố Tài trợn mắt: “Con à, ta đã ăn đường bao giờ đâu mà đái ra nó? Cả đời ta ở rừng, ăn muối, uống rượu, ăn thịt nai và ăn cơm nữa thôi mà. Thề có núi rừng biên cương, 10 năm không một giấc ngủ ngon, vác súng đi tiễu phỉ, ta thề không ăn một hạt đường…”. Về nhà tôi ở, vợ tôi căn dặn, bác Tài bị cả ổ bệnh, ở tuổi ngoài 70, bác nặng gần 1 tạ, giờ phải chịu khó đi bộ tập thể dục, như bố mẹ cháu ở quê ấy, ông Tài khúc chiết: “80 năm qua, bác toàn đi bộ mà. Ở các bản ngã ba biên giới, cả đời người, bà con chỉ đi bộ, không đi bộ thì cưỡi ngựa, cưỡi trâu, chứ đã bao giờ có đường để đi xe cộ gì đâu hả cháu?”. Vợ tôi tiu nghỉu, đúng là cười ứa nước mắt.
Nay trở lại, thấy trên mái gianh nhiều ngôi nhà vẫn cài tấm ảnh tôi chụp chung với chủ nhà (ngày trước tôi đã gửi đường bưu điện tặng họ), xúc động thay. Sau này, nhiều nhà báo, nhiều bạn trẻ coi ngã ba biên giới là một điểm chinh phục hoang sơ, kỳ thú (kiểu như leo nóc nhà Đông Dương, Phan Xi Păng), đi đâu họ cũng nghe người Hà Nhì hỏi thăm về một gã nhà báo thật lùn, hay uống rượu và cứ say rượu là đòi ngủ dưới bếp. Mỗi lần nghe kể “xấu” về mình như vậy, tôi lại xôn xao nhớ những bản làng hoang sơ tột độ, hoang đến độ trước khi dấn thân mười mấy ngày đi bộ vào đó, tôi đã phải viết thư cho em trai mình rằng, anh đi chuyến ngày, ngộ nhỡ có chuyện gì thì… Bấy giờ, suối sâu, vắt nhảy tanh tách, trời rét cắt da cắt thịt, tôi hay uống rượu và thích rúc vào các khu bếp muôn đời đỏ lửa của bà con để say, sưởi ấm và hơ quần áo ướt. Mỗi bản làng, tôi trú chân một đêm, tiếp lương thực, nhờ người dẫn đường, thay một công an xã (mang theo súng) và thay một biên phòng cắm bản… rồi cả ba lại lếch thếch lên đường.
Cái giá của hoang sơ là thế.
Lâng lâng với tết Cô Nhẹ Chà
Các trầm tích văn hóa, tấm tình của người Hà Nhì, người Mông, người Si La vùng ngã ba biên giới đã hút hồn tôi và nhiều người. Có lẽ vì thế mà ngày gặp lại cố nhân A Pa Chải của tôi năm nay thổn thức quá, lại đúng vào dịp Tết của người Hà Nhì, gọi là tết Cô Nhẹ Chà nữa chứ. Bà con làm Cô Nhẹ Chà to như tết Nguyên Đán của người dưới xuôi vậy. Sương mơ bảng lảng, gió lạnh như kim châm, suối Mo Phí ào ào nước chảy qua kẽ đá ngầm, đêm hội xòe chập chờn ánh lửa. Những quả tú cầu trên mũ, trên khăn, ở tay cầm đèn pin chơi đêm của các a nhí (em gái) Hà Nhì cứ lung linh như say rượu. Tôi không biết có cộng đồng nhỏ bé, xa xôi, cam khó nào mà dịp Tết cổ truyền của họ, họ lại “phải” (được) đón nhiều vị khách Hà Nội, Sài Gòn không mời mà đến nhiều như người Hà Nhì ở ngã ba biên giới này không? Chỉ có ba bốn bản làng, mà điểm mặt đủ các nhà báo, nhà văn, nhà nhiếp ảnh, sinh viên, dân “xê dịch” tứ chiếng tụ về. Các điệu hồn vi tế đó, không ai bảo ai, không vì cái gì ngoài những xúc cảm thương mến với cộng đồng người Hà Nhì hoa ở biên ải Mường Nhé, họ cứ đến và hát, mở rộng vòng xòe, chia thêm chén mắt trâu để nhâm nhi chung rượu men lá. Năm xưa, gã đàn ông Hà Nhì Sừng Sừng Khai từng cùng tôi cưỡi ngựa, xách súng kíp, cầm dây thừng lớn thả vó tung mình trên thảo nguyên Tá Miếu để… bắt bò về mở tiệc. Hơn 100 con bò thả thung thăng, tự yêu nhau, tự đẻ con trong rừng già, chúng ăn cỏ của 3 quốc gia mà vạm vỡ như bò tót. Lễ cấm bản đến, những cây gạo có gai nhọn được cắm ngoài đầu bản để dọa ma quỷ, đầu chó, đầu lợn, đầu dê, đầu gà còn ròng ròng máu cũng treo ở đó; cả lựu đạn và vỏ đạn pháo của phỉ cũng được nhặt từ núi Tướng Phỉ về treo ở đó - treo lên để dọa, để cấm tiệt cái bọn ma tà đi vào phá hoại sự bình yên của bản làng; cũng không cho ai ra khỏi bản (tức là sẽ ngập trong rượu!) trong 3 ngày lễ đó. Đơn giản, bà con sợ cổng bản mà mở thì gió độc nó sẽ ùa vào mất. Trước lễ, Sừng Khai cưỡi ngựa rượt đuổi, tay cầm dây thừng quăng thia lia trói chân bò, giật mạnh, rồi nổ súng tự chế bắn chết con bò nhà mình, xẻ thành tức súc thịt khoác lên gùi về bản. Phải gùi dần thôi, chứ sức người làm sao cõng được con bò mộng? Chứng kiến cảnh đó, tôi cứ ngỡ mình đang ở bên một túp lều du mục trên thảo nguyên Mông Cổ đầy huyền thoại. Nay gặp lại, bản Leng Su Sìn đã tách thành xã riêng, Sừng Khai làm Bí thư kiêm Chủ tịch UBND xã.
Tôi đang kể câu chuyện mình chinh phục ngã ba biên giới A Pa Chải vào thời điểm năm 2002. Như thế đủ thấy, hơn 40 năm trước, vào năm 1959, khi anh Trần Văn Thọ, cán bộ vận động quần chúng đồn biên phòng Leng Su Sìn lên với bà con Hà Nhì thì sự hoang vu còn đến mức nào. Dốc Mai Lình hôm nay, người ta đặt tên vậy, là để nhớ cái vụ hút chết của ông Chang Mai Lình (nay sống ở xã Chung Chải) bị gấu tấn công dữ dội, ông đánh thắng gấu rồi bỏ chạy suốt một ngày về đến bản vẫn không tin mình còn sống. Hổ ăn thịt người ở ngay cửa đồn Leng Su Sìn hôm nay, 6 con hổ ăn một lúc hai bà cháu gồm mẹ đẻ và con gái ông Chang Gố Chừ, ông Chừ giờ vẫn sống ở Sín Thầu, khe suối hãi hùng đó giờ vẫn ăm ắp nước, được đặt tên là khe Hai Bà Cháu. Chính anh Thọ và cán bộ đồn phải gài bẫy súng thì mới tiêu diệt được bầy hổ hoang ranh mãnh như đã thành tinh. Anh Thọ mang lưỡi cày lên dạy dân cày ruộng nước, cai nghiện ma túy cho bà con, đưa người Hà Nhì đầu tiên đến trường, vất vả đến mức vài năm sau, sốt rét ác tính của rừng già đã mang anh đi vĩnh viễn Người Hà Nhì biết ơn, đặt tên ngọn núi ở Leng Su Sìn, là Núi Ông Thọ, con dốc có phần mộ anh gọi là Dốc Ông Thọ. Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, sách viết về tấm gương Trần Văn Thọ đã được in hàng vạn bản, bỏ vào thùng đạn của chiến sỹ lúc vào Nam chiến đấu, khẩu hiệu ai cũng thuộc một thời “Anh hùng như Nguyễn Văn Trỗi, dũng cảm như Nguyên Viết Xuân, tận tụy với dân như Trần Văn Thọ”. Anh Trần Văn Thọ trở thành người anh hùng đầu tiên của lực lượng công an vũ trang cả nước Việt Nam (bấy giờ ngành công an và biên phòng chưa tách làm đôi), tên anh bây giờ được đặt thành tên một con phố ngoài thành phố Điện Biên Phủ, nối giữa Sở Công an và Chỉ huy Biên phòng tỉnh.
Tương tự như vậy, ở vùng ngã ba biên giới còn gắn liền với sự cống hiến vĩ đại của một con người khả kính khác là thầy giáo Nguyễn Văn Bôn. Xung phong đi bộ nửa tháng trời từ Mường Lay vào xã Mù Cả, tự đẵn tre, dựng trường, gọi học sinh đến mở lớp học đầu tiên cho người Hà Nhì, anh giáo Bôn còn dạy phụ nữ Hà Nhì cách mặc xu chiêng, báo cáo tổ chức vận động thanh thiếu niên bỏ tục quần hôn, anh dùng tiền lương của mình mua chăn ấm cho học sinh đắp khi băng giá thống trị miền rừng. Trường xã vùng ngã ba biên giới trở thành nơi đầu tiên của rẻo cao Việt Nam được xóa mù và phổ cập tiểu học, Nguyễn Văn Bôn trở thành anh hùng giáo dục đầu tiên của Việt Nam. Vào năm 1962, ông được đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ký tặng “Bảng vàng”. Tỉnh ủy Lai Châu, gần đây đã có “nghị quyết” chính thức về việc sẽ đặt một con đường mang tên Nguyễn Văn Bôn tại trung tâm tỉnh lỵ.
Đất ngã ba biên giới Việt - Trung - Lào quyến người lắm. Con người, bản sắc, thiên nhiên nơi này như một vỉa quặng lớn, có sức hút đặc biệt. Anh hùng lực lượng công an vũ trang đầu tiên, anh hùng giáo dục đầu tiên của nước Việt Nam, tại sao đều cống hiến, trưởng thành, thầm lặng hy sinh cho mảnh đất tận cùng xa xôi chỉ gồm có vài xã với vài nhóm dân cư này? Bao văn nghệ sỹ, bao trí thức và nhiều bạn trẻ đã gắn bó, đã coi Mù Cả, Sín Thầu, ngã ba biên giới A Pa Chải là mái nhà thương yêu, là quê hương thứ hai của mình, họ cứ cảm thấy như vậy mà rất ít khi thấy cần phải lý giải nguyên nhân. Như bữa cơm đón Tết Cô Nhẹ Chà trong mưa bay, trong bịt bùng mây núi, trong tiếng hát lí lơi ôm vòng xòe mờ ảo kia, người của bao miền đất, không ai bảo ai đều thượng sơn để tham dự. Chúng tôi ăn, trò chuyện rồi ngủ lại ở bất kỳ ngôi nhà Hà Nhì nào, không toan tính, không tị hiềm, không lo toan, người nào cũng là bạn, ngôi nhà nào dường như cũng là ngôi nhà của mình vậy.
Hôm nay cả bản vui lắm, bởi sau bữa tiệc là những cuộc leo núi đi tìm cột mốc ba cạnh của chư vị khách xa.
(còn nữa)
Đi tìm cột mốc ba cạnh
Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng
(tiếp theo và hết)
Ba trăm năm trước, người Hà Nhì mới đến đất Việt Nam này, cộng đồng của họ còn đông đảo lắm ở bên Trung Hoa, vì thế bà con dùng tiếng Quan hỏa và thích Hán tự lắm. Ông Sỹ Tài bảo “hữu bằng tự viễn phương lai/ bất lạc diệc hồ”, bạn từ phương xa đến chẳng vui lắm sao. Tiễn các vị leo lên điểm núi thiêng có cột mốc ngã ba biên giới, vừa vui, già Sỹ Tài vừa buồn. Vì hơn 70 tuổi, từ giờ đến lúc về giời, nếu nhà nước làm đường ô tô lên cột mốc, thì may ra tôi mới đi được, chứ đi bộ 8 tiếng, thì người trẻ mới đi được thôi mà.
Thêm nhiều lần “choáng váng” giữa rừng
Ngày xưa tôi còn khỏe, thì cột mốc chưa xây, chỗ đỉnh núi một tiếng gà ba nước cùng nghe kia, chỉ là một đống đá, có cái trụ đá ba cạnh hướng mặt sang ba nước đã bị cụt. Năm 2005, nhà nước thuê người Hà Nhì gùi từng túi xi măng, từng viên gạch viên đá vào xây, nghe nói mốc to lắm, các anh biên phòng và nhiều người am hiểu đều bảo: đó là cột mốc đẹp nhất (trước hết về thẩm mỹ) của toàn cõi Đông Dương. Chỗ ấy, bên phía ta gọi là núi Khoang Lao San, theo tiếng Quan hỏa tức là vùng rừng lạnh, vùng mây mù vây bủa quanh năm. Chỗ đó, cao khoảng 1.864m so với mực nước biển; bên phía Trung Quốc, bạn gọi là khu “Thập tầng đại sơn”, 10 đỉnh núi lớn; phía Lào, ở khu giáp ranh toàn đồi cỏ tranh bạt ngàn, họ gọi là gì tôi không tường tận lắm. Hồi tôi còn đi săn hổ, săn gấu, cõng những con nai lớn về chia cho cả bản ăn, rừng ở khu vực cột mốc ngã ba biên giới vẫn như bây giờ. Bởi bà con không dám đẵn gỗ ở đó, bước chân người di cư tự do đến tận bây giờ cũng chưa vào được đến đấy. Núi thiêng, bà con sẽ phải bảo vệ bằng mọi giá chứ. Ngoài bản Tá Miếu là cỏ tranh bạt ngàn, những quả đồi cao, đầy mây, ẩm ướt, nhưng chưa bao giờ có rừng già cả. Chỉ toàn cỏ tranh, có khi con hoẵng đi trong rừng, cái sừng nó còn nhấp nhô, khúc khuỷu thò lên trời, cứ như có con gà trống đang đi dạo rồi thò mào lên ngó chúng tôi. Chỗ giáp ranh ba nước, rừng phía ta dày và nguyên sinh, những cây gỗ lớn phủ toàn rêu xanh trông như con thú lông mượt đang đứng đợi khách ven lối mòn, đẹp lắm lắm, Lỳ Sé Hoàng à. Ông Tài nói rồi tiếc rẻ nhìn lên đỉnh trời có cột mốc ba cạnh, “ta đã già rồi, không đủ sức để lên đó cùng con được”.
Tôi và nhiều người gắn bó với A Pa Chải đều cảm thấy thiêu thiếu nếu chưa một lần được đặt chân lên cột mốc ba cạnh ngã ba biên giới thiêng liêng đó. Khi tôi còn dầu dãi ăn rừng ngủ thác với Sín Thầu lắc lơ, thì cột mốc chưa xây (mới dựng năm 2005). Lúc có mốc rồi, thì đời càng bận rộn thêm, thật khó để dọn mình cho mấy ngày leo núi (từ Hà Nội, ít nhất 5 ngày vừa đi xe vừa đi bộ). Giờ mang cả kho thiết bị và ê kíp hùng hậu lên để làm phim tài liệu, thì trời lại đổ mưa, khi lắc rắc khi hạt nặng như có ai đứng trên giời ném ngô vào mặt lá. Giá rét căm căm, đúng là phải cắn răng liều một chuyến, thì chúng tôi mới dám đặt cơm nắm và thịt gà rang, muối vừng làm lương thảo phục vụ cho hành trình cầm chắc là vô cùng vất vả đó. Khuất Văn Dũng, trạm trưởng biên phòng A Pa Chải xung phong vác AK đi dẫn đường, lại thêm Toán Chu Cà, lính đồn 317 được chỉ huy cắt cử đi khuân vác máy móc và khoác súng bảo vệ đoàn…, sự ân cần đó, khiến cho những người phố thị có sức ỳ lười nhác nhất cũng không có đường thoái lui.
“Chúng ta cần dậy từ 4h sáng, nắm cơm, chuẩn bị hành lý, gậy leo núi, túi bọc máy móc vượt rừng mưa. Phải đi sớm, nếu không muốn ngủ lại trong hốc cây, mái đá giữa rừng, người khỏe đi 8 tiếng, đoàn này… thì, nếu xuất phát từ khi trời chưa sáng, may ra về được trước khi trời tối”, Khuất Văn Dũng nói như ra lệnh cho lính mới của mình vậy. Giá rét, đồn biên phòng thì dĩ nhiên không có nước… ấm kiểu bình nóng lạnh. Đến rửa mặt bằng nước lạnh mấy chàng quay phim công tử còn không dám, nói gì đến tự tin leo núi. Nhiều đoàn chinh phục cột mốc ba cạnh đã phải ngủ lại trong rừng, có người khóc lóc bỏ cuộc chơi, có người luồn rừng đêm, ra đến đồn thì trời đã… sáng.
Cũng may là trời mù mịt mây trắng, cây cỏ chỉ ánh lên đen đủi trong tầm nhìn hơn chục mét, nên trạm trưởng biên phòng Dũng thoải mái “phủ dụ” các thành viên trong đoàn là gần lắm, gần lắm, cố mà đi đi nhé, sắp cán đích đến nơi rồi. Mây làm người leo núi như những kẻ khiếm thị, thế hóa ra lại hay, chứ biết rõ lộ trình, khối người không đủ dũng khí lê bước khi các kẽ ngón chân đã tứa máu tươi vì dốc núi. Cứ nhè các lối mòn, các gốc cây cổ thụ, các tảng đá trơn rêu xanh mà bước, Toán Chu Cà là gã trai Hà Nhì từ lúc sinh ra đến giờ chưa bao giờ rời vùng ngã ba biên giới, nên hắn cứ đi như con thú hoang nhảy nhót, hắn thuộc rừng như lòng bàn tay của chính mình vậy. Hắn được trạm trưởng “dàn quân” cho đi “đoạn hậu”, luôn miệng động viên và… giả vờ trách móc (theo mánh “người đấm người xoa”): “các anh cố bước đi, để em còn đi nữa chứ, các anh bị lạc hay là phải ngủ rừng là em bị kỷ luật đấy”. Các đồi cỏ tranh mục nát, cỏ sắc và nhám đến ghê răng, mưa rả rích thê lương, chúng tôi cứ ngã như… đập mẹt. Minh, chàng quay phim của chương trình phát thanh có hình (vov tivi) cứ bay như vũ công nhào lộn, ngã đến mức chán nản, cậu ta cứ ẩy mình cho trôi trong bùn và cỏ mục, có khi trôi vèo vèo vào những khúc cua dài dặc đến mức chúng tôi không còn nhìn thấy cậu ta nữa. Cái mệt làm cho tiếng gọi thảng thốt của chúng tôi như tiếng rên, cậu ta có nghe thấy cũng chẳng buồn giả nhời. Đúng là con ruồi đậu vào mép không buồn đuổi. Đi bằng mông. Bù lại, rừng già tuyệt đẹp, những cây cổ thụ khổng lồ, rêu mốc, cây ký sinh bám dày từ gốc lên ngọn, từ thân sang cành nhánh, chúng ủ trong mây từ thượng cổ cứ sinh ra và chết đi theo lời truyền dạy của hóa công. Cây cứ sống, cứ chết với tuế nguyệt, mà chưa bao giờ chịu một sự “xẻ thịt” nào của con người. Vào đến rừng nguyên sinh vùng ngã ba biên giới này, dẫu leo núi đến bạc mặt, dẫu không dám tin mình còn đủ sức để đi và về đến chỗ cần đến, tôi bỗng dưng thấy đau đớn. Đau đớn vì rằng, hóa ra khu bảo tồn thiên nhiên lớn nhất Việt Nam này từng giàu có quá, mỗi tàng cây là một kho báu sinh thái kỳ thú, nó là tài sản tuyệt vời của con người. Ba trăm nghìn héc-ta rừng đã được khoanh lại cho dự án bảo tồn, đây là khu rừng đặc dụng lớn nhất của lịch sử giữ rừng Việt Nam; nhưng rồi người ta đã thả sức phá, thả buông cho kẻ khác phá, phá đến mức năm 2008, UBND tỉnh Điện Biên chậm chạp ra một cái quyết định thành lập Khu bảo tồn, bấy giờ rừng chỉ còn có 45.000 ha (chỉ còn chừng 1/7). Toàn bộ vùng mênh mông cả trăm cây số tôi đã đi qua, rừng trụi thùi lụi, núi chênh vênh trọc lốc như cái cằm vừa cạo hết râu của người đàn ông nào đó. Chao ôi là khủng khiếp, đại biểu Quốc hội Nguyễn Đình Xuân ơi, (khi đọc loạt bài “Choáng váng với rừng ở Mường Nhé” trên Lao Động rồi phát biểu trong Quốc hội), ông nói đúng quá, nói quá đúng ngay cả khi ông chưa được có mặt ở rừng nguyên sinh vùng ngã ba biên giới như tôi lúc này đây…, rằng: nếu cứ để di dân tự do và phá rừng như lâu nay, thì câu hỏi đặt ra là “liệu chúng ta có còn luật pháp nữa hay không?”. Sau 9 năm tôi đem ảnh cũ và ảnh mới, ký ức và hiện tại ra so sánh, thì là một trời một vực, rừng bị tận diệt đến… buốt lòng. Tôi không còn dám tin bao hoang sơ năm trước là thứ có thật ở trên đời nữa.
Khoang Lao San quyến rũ!
Hang ổ cuối cùng của rừng già, rừng nguyên sinh chính là khu vực đỉnh núi Khoang Lao San này đây. Rừng lạnh, rừng mây mù, và rừng ở cái nơi mà chỉ vài bước nhảng chân là bạn có thể từ quốc gia nọ bước sang hai quốc gia láng giềng kia một cách dễ dàng. Rừng rậm rịt, suối gầm thét, cây cổ thụ đầy dây leo chằng chịt như ngàn vạn con mãng xà án ngữ lối đi, màu xanh miên man bất tận, xanh đến nao lòng, kỳ hoa dị thảo tầng tầng lớp lớp trưng bày nhan sắc và sự muôn hình vạn trạng của mình ra 6 phía (bốn phía cộng với trên trời, mặt đất). Rừng Việt, rừng Lào và rừng Trung Quốc nối tiếp nhau. Thỉnh thoảng lắm mới có vết chân con trâu thả bán hoang dã của người nước nào đó in trên nền đất, trên thân cây đôi lúc có vệt cào của con gấu hoang, lắm lúc có dấu tích của nai hoẵng ở mái đá nhẵn thín, lại có những quả rừng in hình răng sóc, khỉ, vượn. Sự tĩnh lặng tuyệt đối giữa mây mù đó khiến người ta muốn gào lên vì khi được hít căng phồng lồng ngực những gì tinh túy nhất của thiên nhiên. Trên đỉnh núi cao nhất, mây bủa kín các gốc cổ thụ cách chỗ đứng của người ta chỉ 20m, gió rít u u, lạnh thấu tim óc, trên đó là cột mốc ngã ba biên giới đầy huyền thoại. Dũng bảo, có nhiều chàng biên phòng, trước khi hết thời hạn đồn trú, dù nhiệm vụ không cần phải cuốc bộ lội núi cật lực 8 tiếng vào cột mốc này, nhưng họ vẫn xin với chỉ huy cho phép được lên điểm cực Tây thiêng liêng của tổ quốc một lần, rút điện thoại ra bấm một kiểu ảnh, để tìm nghe xem cái tiếng gà gáy ba nước cùng nghe kia có thật hay không. Cũng như Dũng, Cà, họ tự hào và hạnh phúc lắm, khi được đồn trú ở nơi này. Tôi cũng sững người, sau bao năm gắn bó, cắt máu tay thụ lễ đặt tên thành người Hà Nhì rồi, giờ mới đến được cái vị trí đặc biệt này.
Đặt trang trọng trên bệ vuông lát đá granit rộng tới 36m2, cột mốc ngã ba biên giới A Pa Chải (thường gọi là mốc O) có chiều cao 2m, làm bằng đá hoa cương, hình lăng trụ, 3 mặt đá, mỗi mặt viết bằng chữ quốc ngữ và có quốc huy của mỗi nước (gồm Việt Nam, Trung Quốc và Lào). Bên ta điệp trùng rừng rậm, bên Trung Quốc, từ cột mốc bước xuống là các bậc thang bê tông xây khang trang đi tít hút vào miền rừng khá nhiều cây cổ thụ; phía Lào, là bạt ngàn các đồi cỏ tranh, chỉ toàn là cỏ tranh, gió thổi như có cỗ máy hung dữ đang đuổi mưa nặng hạt và gió lạnh quất từ chân đồi cỏ tranh lên, rét buốt. Tọa độ đặt cột mốc, được trạm trưởng Dũng ghi chép cẩn thận trong sổ tay, anh đọc và chúng tôi tiến hành dùng máy định vị toàn cầu GPS đo thử một lần nữa. Lễ chào cột mốc được Khuất Văn Dũng và Toán Chu Cà chấn chỉnh trang phục, đội mũ cối sao vàng, khoác súng AK, thực hiện trang nghiêm, kính cẩn. Đó là tình huống mà chúng tôi cứ mải hò hét và chụp ảnh, vẫn chưa hề nghĩ tới. Họ lặng lẽ hô nghiêm, đứng chào, trong khi chúng tôi nín thở im lặng nhận ra sự vô tâm của mình ngay cả khi đứng ở địa đầu thiêng liêng cực Tây tổ quốc.
Đường về, người ngấm lạnh, các dốc núi hoang vu ngấm mưa trơn, dây thừng mang theo phát huy tác dụng khi buộc vào cây cổ thụ mà thi nhau trườn tụt dốc. Trạm trưởng Dũng gần 10 năm đồn trú A Pa Chải, nhưng hóa ra anh lại là người bị ngã nhiều nhất trên đường đi, bởi cây súng AK là thủ phạm làm anh mất thăng bằng trên các chặng luồn rừng, vượt dốc núi quá trơn truội. Các “vũ công” trườn đường bằng mông giờ cũng kiệt sức nằm thở, không chịu đi nữa. Tôi lặng lẽ bỏ một vài quả mơ ngọt vào miệng khi cảm giác mình đã đứt hơi, hai bắp chân đau như đang bị ai đó lóc thịt ra, ăn quả mơ tròn để nhớ nhiều hơn những hương vị hoang sơ của núi rừng ngã ba biên giới. Quả mơ ngọt, ăn vào rồi thì uống nước suối bao giờ cũng thấy ngọt. Đó là lý do để người Thái có câu chuyện cổ, về một dân tộc thơ ngây ở Tây Bắc bị mất lãnh thổ của mình chỉ vì một quả mơ. Kẻ ngoại lai ấy đến, họ bảo, họ có một dòng suối nước ngọt lắm, nếu đổi những cánh đồng và các bản làng kia cho họ, thì họ sẽ ban cho dòng suối kỳ lạ đó mà ngon ngọt mãn kiếp. Họ dẫn đi thật xa, rồi làm như tình cờ để những người tìm con suối quý ngồi kia nghỉ dưới gốc cây mơ ngọt và xơi vài quả xanh, nhỏ xíu, hình tròn. Thế là, lúc đến một con suối bất kỳ, cả đoàn người thơ ngây vớt nước lên uống thử, nước ngọt lịm, lại có hương vị thơm là lạ. Càng uống càng ngọt. Thế là cộng đồng người bản địa chất phác kia chấp nhận cắt đất, đổi lãnh thổ của mình cho kẻ ngoại lai nham hiểm.
Ngẫm thế, tôi chợt nhận ra, cái chuyến lên địa đầu xa xôi này của cực tây tổ quốc này, nó không chỉ là dã ngoại leo núi, không phải là đi để xác lập kỷ lục cho riêng mình hay gì gì đó, mà đích thực là một thứ hành hương với những trải nghiệm kỳ thú và mến thương về văn hóa, tộc người, về đất mẹ - với những con người lặng lẽ cho sự bình yên của xứ sở. Về cái giá của sự hoang sơ!
Đ.D.H
Kèm theo chùm ảnh: Rừng cổ thụ trong mây, Tết Cô Nhẹ Chà, dốc núi hiểm trở lên Thập Tầng Đại Sơn, Cột mốc ngã ba biên giới.












