MỘT CUỘC ĐOÀN VIÊN GÂY XÔN XAO Ở THỊ TRẤN THẢO NGUYÊN XINH ĐẸP:
Friday, June 12, 2009 4:13:07 AM
Xuyên biên giới, tìm thấy người cha đã 60 năm ngự trên bàn thờ...
Phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng
Bài đã đăng trên Báo Lao Động:
http://www.laodong.com.vn/Home/Nguoi-cha-tro-ve-tu-ban-tho/20096/142503.laodong
Chớp mắt thế mà 60 năm đã trôi qua, chớp mắt thế mà mình đã chạm ngưỡng tuổi 90 (!), đến một ngày lẩy bẩy như chuối chín trên cây, ông Hoàng Văn Phẩm (thị trấn Thảo Nguyên, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La) ngồi tính đếm lại cái cuộc đời nổi chìm, nhục nhằn chẳng giống ai của mình. Những mảnh đạn vẫn chạy cồm cộm ở đầu, ở bên cẳng tay phải dăn deo; huy hiệu 50 năm tuổi Đảng và rất nhiều danh hiệu cao quý treo trên bờ tường, 5 đứa con của người vợ quá cố đã phương trưởng. Ông có đủ 36 cháu chắt rồi. Bà vợ sau, “rổ rá cạp lại”, mới chỉ 63 tuổi, vẫn chăm sóc ông như một huyền thoại về sự hy sinh của đàn bà Việt. Tất cả đều vuông tròn mỹ mãn, chỉ xót xa cho bà vợ cả người Lào và 3 đứa con tội nghiệp của ông, 60 năm xa cách, biết ai còn ai mất? Ông đột ngột biến mất sau 17 năm ở Lào, chắc chắn họ đã đặt ông lên bàn thờ từ ngày ông buộc phải dứt áo trốn đi lúc nửa đêm?
Giọt nước mắt già nua gặn chặt ép ra từ hai con mắt đục lờ, ông Phẩm gọi cô con gái lại rỉ tai...
Người đàn ông đi đánh cá 60 năm chưa trở về
Hai vợ chồng già, trong căn nhà nhỏ bé giữa những thảo nguyên rạng rỡ một màu chè xanh, xanh rợn đến mênh mông như sóng biển. Trên bờ tường, ông Phẩm treo đủ Huy chương Kháng chiến Hạng Nhất, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, bên cạnh là Huân, huy chương “Có công giúp cách mạng Lào thời kỳ 1945-1975” do Nhà nước Lào trao tặng, kỷ niệm chương Quân tình nguyện VN giúp Lào (đơn vị F335)... Tôi thử gợi đến những hành trình xuyên nước Cộng hoà DCND Lào của mình, mắt ông Phẩm sáng lên: tôi có vợ và 3 đứa con ở đó.
Con cháu bảo, ông Phẩm giấu chuyện “con riêng con chung” ghê lắm, phải “dẫn dụ” thật khéo. Sinh năm 1919, trong thời thuộc Pháp tăm tối, đầu những năm 1930, cậu bé Phẩm đã bị cái đói rách lôi đày lên Lạng Sơn làm thuê tại một hiệu bán tào phớ của người Hoa. Nhanh nhẹn, láu lỉnh, cậu bé kiếm được tiền khá nhờ mánh nấu cháo bán cho các con thiêu thân “khát nước” đổ đời vào các sới bạc, sới nghiện hút, trác táng. Đang “vào cầu” với cả mớ tiền xu, tiền trinh gửi về gia đình ở Thái Bình, thì vào năm 1941, Hoàng Văn Phẩm bị giặc Pháp bắt phu bắt lính, sung vào đội lính khố xanh (lính người Việt), cưỡng chế sang Lào đánh nhau. Đến tỉnh Luông Nậm Thà, nơi nằm giáp Thái Lan và Mianmar, cuộc chiến khốc liệt và phi nghĩa của Thực dân, đã khiến anh thanh niên Hoàng Văn Phẩm bàng hoàng. Anh cùng một toán lính khố xanh trốn khỏi hàng ngũ, chạy thục mạng đến tận bờ sông Mê Kông, ném toàn bộ khí giới xuống dòng nước mênh mông, trốn vào bản của người Lào tá túc.
Ông Hoàng Văn Phẩm và những "hộp" toàn huân huy chương của hai nước Việt, Lào.
Đường về cố hương bịt bùng, tại một bản hẻo lánh ven dòng Suối Thung, được sự cưu mang của nhưng cư dân bộ tộc Lào tử tế, Hoàng Văn Phẩm và 2 người đồng đội đã lấy vợ, sinh con. Ông hoạt động cách mạng tại Lào, đánh Pháp, Nhật hất cẳng Pháp, Nhật bị giải giáp vũ khí, lúc nào Hoàng Văn Phẩm cũng là cán bộ Cộng sản ở rất gần bà con. (Sau này, từ Lào sang Trung Quốc hoạt động, nhờ khả năng hơn 10 năm nói tiếng Lào, ông đã lập nhiều chiến công vang dội trong các điệp vụ bắt biệt kích lớn, với hơn 100 tên). Những tưởng sẽ ăn đời ở kiếp với miền quê đã sinh ra mình một lần thứ hai trong đời, thì đùng một cái, anh Phẩm và đồng đội bị bọn sắc dịch địa phương và tay sai sai thực dân dồn đến bước đường phải tự “biến mất” để cứu mình, cứu vợ cùng đàn con. Bọn chúng doạ sẽ giết cả nhà, bởi ông là người Việt, vì lý do gì ông sang đó sinh sống với hành tung đầy “khả nghi”? Ông bảo bằng tiếng Lào: “Tao bị giặc Pháp bắt phải đi phu, đi lính, sang đây, giờ lấy vợ, có con ở đây, tao ở với vợ con tao, việc gì đến chúng mày?!”. Nó không nghe, khi chúng chuẩn bị quay lại “xử”, thì ông Phẩm buộc phải “giả chết” để vợ con ông được bình an. Trốn theo bộ đội để tiếp tục hoạt động cách mạng, rồi sang Côn Minh, Quảng Đông học (ngoài tiếng Việt, ông Phẩm giỏi tiếng Lào, Trung, Khơ Mú, Thái đen, Mông, Lự...).
“Con tôi, “thằng” cả sinh năm 1946 (năm 2009, đã tóc bạc, ở tuổi 63), vợ tôi còn trẻ. Nửa đêm, tôi bảo vợ: hôm nay trời mưa to, chắc lắm cá lắm, anh ra suối Thung bắt ít cá về cho 3 anh em chúng nó ăn. Cầm cái giỏ, giắt theo cái đèn pin và dăm bảy cục pin, ít gạo, hai hôơ sữa, mặc cả 3 bộ quần áo vào người, tôi trốn khỏi Luông Nậm Thà. Tôi bắt liên lạc đi cùn 4 đồng chí nữa. Tôi đã khóc rất nhiều. Như thế là nhẫn tâm với vợ con, nhưng nếu nói là tôi trốn, vợ con tôi sẽ khóc. Và khi giặc đến, nhỡ họ bị tra tấn nói một câu gì ra, thì không ai trong chúng tôi còn được sống. Tôi đi đánh cá, coi như tôi chết đuối đêm ấy, vợ tôi cũng tin như vậy”, ông Phẩm nhắm mắt, cố không khóc trước mặt tôi, rủ rỉ nhớ lại.
Ông Phẩm và 5 người bạn đã chạy xuyên ngày xuyên đêm, có khi gặp hổ dữ giữ rừng già, tay không tấc sắt, phải leo lên cây nằm ăn quả rừng lá rừng chờ ông hổ bỏ đi mới dám xuống. Ông kể: nửa đêm, nằm ngủ trên cây, phải vin dây rừng cuốn quanh thân, sợ mình rơi xuống làm mồi cho hoang thú. Cũng có khi mơ màng, mặt trời lên chói lọi, mở mắt ra thấy từng đàn hươu nai thung thăng ra suối uống nước. Ngủ rừng, ngủ bản xin ăn, đến lúc ông Phẩm còn mỗi cái đồng hồ đeo tay, cũng đem bán nốt, được mấy hào, 5 anh em chia nhau cầm cự qua ngày. Cuối cùng chỉ 3 người sống sót.
Đánh nhau khắp các tỉnh Bắc Lào, sau 17 năm, ông Hoàng Văn Phẩm về Lai Châu (cũ) đánh trận cuối đời là Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Ông Phẩm chỉ nhớ, mình ở Đoàn 82, Thượng Lào, đồng đội thân thiết của ông là anh Chăm, sau về sống ở Cổng hậu Nhà máy dệt Nam Định, không biết giờ còn sống hay đã chết. Nhiều ngày nhuộm thuốc súng, ngoài vài vết thương vừa phải, dường như bom đạn của kẻ thù nó từ mặt cái con người can trường Hoàng Văn Phẩm ra. Ông không muốn kể nhiều, sức ông đã cạn, nhưng huân huy chương của nhà nước ta, nhà nước Lào trao cho ông, đã đủ để nói lên điều đó. Bốn mảnh đạn rờn rợn cứng mà ông thò tay, ngóc đầu cho tôi sờ thử đã đủ để nói về một cuộc đời trận mạc vị quốc ấy.
Ông Phẩm ở tuổi 90 và cánh tay lổn nhổn những mảnh đạn chiến trường còn lại trong da thịt!
Nhưng, dù thế nào, chưa bao giờ ông thấy nguôi ngoai hình ảnh người vợ Lào đẹp, hiền, ân tình hết mực và 3 đứa con thân yêu. Ông đau đáu về cuộc giả chết đuối giữa đêm mưa của mình, vì cách mạng, vì sự sống của tất cả gia đình mình, ông phải dứt ruột ra đi. Bao năm nghèo khó ở nông trường chè Mộc Châu, bao năm cách biệt hàng nghìn cây số hai quốc gia, nhất là cả giai đoạn lịch sử dài, chuyện “vợ nọ con kia”, lấy vợ người nước ngoài còn là những đề tài mọi người đều cố gắng lảng tránh, ông Phẩm không tài nào lại dám hy vọng còn gặp lại các con.Với tuổi trẻ, những công dân toàn cầu giàu có bây giờ, thật khó để họ hiểu sự xa cách suốt hơn nửa thế kỷ qua của vợ chồng, cha con ông Phẩm.
Ba người con đầu bạc và ông bố về từ... bàn thờ!
Trở lại cái buổi chiều hiu hắt, ốm o, vết thương vì mảnh đạn pháo trên đầu đang tái phát quay cuồng, khi ông Phẩm ghé tai cô con gái Hoàng Thị Trung Thu - giáo viên dạy văn lớp 9, Trường THCS 14/6, thị trấn Thảo Nguyên. Tâm nguyện cuối đời của bố, cuộc hôn nhân và tình cảm máu thịt của bố làm cô giáo Thu rớt nước mắt. Cô tìm cách liên lạc với những người bạn hay qua lại biên giới Việt - Lào (Mộc Châu là huyện biên giới với Lào). Ông Phẩm nhớ địa chỉ, nhớ dòng suối Thung, nhớ tên các con, đặc biệt ông còn giữ được một tấm ảnh bà Te (người vợ bên Lào của ông) chụp bên bãi bồi ven suối, cho nên việc “do thám” không mấy khó khăn. Cô giáo Thu và 2 người anh em là Thanh và Huân quyết định làm thủ tục, sang Lào, thuê một chiếc xe ô tô, vượt 1.000km qua Viên Chăn, U Đom Say, về tỉnh Luông Nậm Thà, gần Tam giác vàng. Người vợ Lào của ông Phẩm đã về trời. Trên nhà sàn, một góc ban thờ, những chiếc lông chim hoang dã thấm máu khô được cắm chi chít, một cây kiếm dài, một cánh nỏ vững chãi, đó là “nơi ở” của linh hồn “người đã chết” Hoàng Văn Phẩm. Vợ, các con và cư dân trong khu vực vô cùng thương xót người đàn ông đi đánh cá “chết đuối”, họ thờ như vậy đã gần 60 năm!

Hai người con trai ở tuổi lục tuần của ông Phẩm tại Mộc Châu (hai người ngồi - bìa trái và bìa phải), khi gặp lại ông bố mà họ đã lập bàn thờ nửa thế kỷ ở Lào (ông Phẩm ngồi giữa).
Cả cụm dân cư kéo đến, họ vuốt má, ôm hôn con gái của Sỹ A (biệt danh của ông Phẩm khi hoạt động ở Lào). Cả người yêu cũ của Sỹ A cũng đến, bà vẫn rất đẹp, con của Phẩm thì cũng là con của mình mà... Họ kể về những ngày ông Phẩm giắt 4 quả lựu đạn, 1 khẩu súng đi hoạt động cách mạng, những kỷ niệm thương yêu của họ với ông Phẩm, nỗi đau của họ khi ông Phẩm “chết đuối” để lại 3 đứa con lẫm chẫm. Người vợ ông Phẩm chết khoảng năm 2002. Xem những bức ảnh con gái vợ 2 của mình múa lăm vông với 3 đứa con vợ cả (quốc tịch Lào); nhìn ảnh cô giáo Thu ra tắm suối Thung, nơi bố vẫn hằng kể với cô về vẻ đẹp của nó..., ở tuổi 90, ông Phẩm vẫn khóc rống lên vì hạnh phúc. Ông không thể ngờ được. Những ngày tiệc tùng đoàn viên, mỗi bữa 20 mâm cỗ bên Luông Nậm Thà, lễ buộc chỉ cổ tay xúc động cả khu vực, được cô giáo Thu quay phim chụp ảnh chi tiết lại. Rồi, cô đưa cả hai người con của bố mình về Việt Nam. Đó là Bun Hon (Hoàng Văn Pằm), 61 tuổi và Bun Uồn, 59 tuổi.
Cả thị trấn, nông trường xôn xao xúc động. Hai người con da ngăm đen, tóc anh Uồn đã bạc đi rồi, họ quỳ từ ngoài sân căn nhà cấp bốn của ông Phẩm mà khóc rầm trời. Họ cứ quỳ như vậy, cứ bò như vậy vào trong nhà mà ôm ông già 90 tuổi mà khóc nức nở. Ba bố con họ nói với nhau bằng thứ tiếng mà chỉ có... họ mới hiểu nổi, tiếng Lào. 60 năm qua, các con không biết là bố còn sống, chúng cũng chưa từng biết mặt ông (khi ông “biến mất” các con còn quá nhỏ!); ông Phẩm thì biết tiếng nhưng không biết viết chữ để mà thư từ. Đấy là chưa kể bao nhiêu mặc cảm, e dè, khốn khó của một thời. Cuộc gặp ấy, tất cả những người trong cuộc luôn nghĩ rằng, đến thần thánh cũng không tạo ra được. Họ ngỡ mình đang nằm mơ.
Câu chuyện đoàn viên khó tin của đại gia đình ông Phẩm, với tôi, nó cũng huyền ảo và diễm tình như núi đồi sông suối ở cái trị trấn có tên mơ mộng nhất Việt Nam này: thị trấn Thảo Nguyên...
Cô giáo Thu vui mừng gặp lại những người thân thiết, ruột thịt của bố mình tại Luông Nậm Thà (Lào).
Bài dài 2100 chữ.
Kèm 3 ảnh
A1: Hai người con trai ở tuổi lục tuần của ông Phẩm tại Mộc Châu (hai người ngồi - bìa trái và bìa phải), khi gặp lại ông bố mà họ đã lập bàn thờ nửa thế kỷ ở Lào (ông Phẩm ngồi giữa).
A2: Ông Hoàng Văn Phẩm và những tấm huân huy chương Việt, Lào được cất giữ cẩn thận.
A3: Cô giáo Thu vui mừng gặp lại những người thân thiết, ruột thịt của bố mình tại Luông Nậm Thà (Lào).
A4: Ông Phẩm ở tuổi 90 và cánh tay lổn nhổn những mảnh đạn chiến trường còn lại trong da thịt!
Phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng
Bài đã đăng trên Báo Lao Động:
http://www.laodong.com.vn/Home/Nguoi-cha-tro-ve-tu-ban-tho/20096/142503.laodong
Chớp mắt thế mà 60 năm đã trôi qua, chớp mắt thế mà mình đã chạm ngưỡng tuổi 90 (!), đến một ngày lẩy bẩy như chuối chín trên cây, ông Hoàng Văn Phẩm (thị trấn Thảo Nguyên, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La) ngồi tính đếm lại cái cuộc đời nổi chìm, nhục nhằn chẳng giống ai của mình. Những mảnh đạn vẫn chạy cồm cộm ở đầu, ở bên cẳng tay phải dăn deo; huy hiệu 50 năm tuổi Đảng và rất nhiều danh hiệu cao quý treo trên bờ tường, 5 đứa con của người vợ quá cố đã phương trưởng. Ông có đủ 36 cháu chắt rồi. Bà vợ sau, “rổ rá cạp lại”, mới chỉ 63 tuổi, vẫn chăm sóc ông như một huyền thoại về sự hy sinh của đàn bà Việt. Tất cả đều vuông tròn mỹ mãn, chỉ xót xa cho bà vợ cả người Lào và 3 đứa con tội nghiệp của ông, 60 năm xa cách, biết ai còn ai mất? Ông đột ngột biến mất sau 17 năm ở Lào, chắc chắn họ đã đặt ông lên bàn thờ từ ngày ông buộc phải dứt áo trốn đi lúc nửa đêm?
Giọt nước mắt già nua gặn chặt ép ra từ hai con mắt đục lờ, ông Phẩm gọi cô con gái lại rỉ tai...
Người đàn ông đi đánh cá 60 năm chưa trở về
Hai vợ chồng già, trong căn nhà nhỏ bé giữa những thảo nguyên rạng rỡ một màu chè xanh, xanh rợn đến mênh mông như sóng biển. Trên bờ tường, ông Phẩm treo đủ Huy chương Kháng chiến Hạng Nhất, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, bên cạnh là Huân, huy chương “Có công giúp cách mạng Lào thời kỳ 1945-1975” do Nhà nước Lào trao tặng, kỷ niệm chương Quân tình nguyện VN giúp Lào (đơn vị F335)... Tôi thử gợi đến những hành trình xuyên nước Cộng hoà DCND Lào của mình, mắt ông Phẩm sáng lên: tôi có vợ và 3 đứa con ở đó.
Con cháu bảo, ông Phẩm giấu chuyện “con riêng con chung” ghê lắm, phải “dẫn dụ” thật khéo. Sinh năm 1919, trong thời thuộc Pháp tăm tối, đầu những năm 1930, cậu bé Phẩm đã bị cái đói rách lôi đày lên Lạng Sơn làm thuê tại một hiệu bán tào phớ của người Hoa. Nhanh nhẹn, láu lỉnh, cậu bé kiếm được tiền khá nhờ mánh nấu cháo bán cho các con thiêu thân “khát nước” đổ đời vào các sới bạc, sới nghiện hút, trác táng. Đang “vào cầu” với cả mớ tiền xu, tiền trinh gửi về gia đình ở Thái Bình, thì vào năm 1941, Hoàng Văn Phẩm bị giặc Pháp bắt phu bắt lính, sung vào đội lính khố xanh (lính người Việt), cưỡng chế sang Lào đánh nhau. Đến tỉnh Luông Nậm Thà, nơi nằm giáp Thái Lan và Mianmar, cuộc chiến khốc liệt và phi nghĩa của Thực dân, đã khiến anh thanh niên Hoàng Văn Phẩm bàng hoàng. Anh cùng một toán lính khố xanh trốn khỏi hàng ngũ, chạy thục mạng đến tận bờ sông Mê Kông, ném toàn bộ khí giới xuống dòng nước mênh mông, trốn vào bản của người Lào tá túc.
Ông Hoàng Văn Phẩm và những "hộp" toàn huân huy chương của hai nước Việt, Lào.
Đường về cố hương bịt bùng, tại một bản hẻo lánh ven dòng Suối Thung, được sự cưu mang của nhưng cư dân bộ tộc Lào tử tế, Hoàng Văn Phẩm và 2 người đồng đội đã lấy vợ, sinh con. Ông hoạt động cách mạng tại Lào, đánh Pháp, Nhật hất cẳng Pháp, Nhật bị giải giáp vũ khí, lúc nào Hoàng Văn Phẩm cũng là cán bộ Cộng sản ở rất gần bà con. (Sau này, từ Lào sang Trung Quốc hoạt động, nhờ khả năng hơn 10 năm nói tiếng Lào, ông đã lập nhiều chiến công vang dội trong các điệp vụ bắt biệt kích lớn, với hơn 100 tên). Những tưởng sẽ ăn đời ở kiếp với miền quê đã sinh ra mình một lần thứ hai trong đời, thì đùng một cái, anh Phẩm và đồng đội bị bọn sắc dịch địa phương và tay sai sai thực dân dồn đến bước đường phải tự “biến mất” để cứu mình, cứu vợ cùng đàn con. Bọn chúng doạ sẽ giết cả nhà, bởi ông là người Việt, vì lý do gì ông sang đó sinh sống với hành tung đầy “khả nghi”? Ông bảo bằng tiếng Lào: “Tao bị giặc Pháp bắt phải đi phu, đi lính, sang đây, giờ lấy vợ, có con ở đây, tao ở với vợ con tao, việc gì đến chúng mày?!”. Nó không nghe, khi chúng chuẩn bị quay lại “xử”, thì ông Phẩm buộc phải “giả chết” để vợ con ông được bình an. Trốn theo bộ đội để tiếp tục hoạt động cách mạng, rồi sang Côn Minh, Quảng Đông học (ngoài tiếng Việt, ông Phẩm giỏi tiếng Lào, Trung, Khơ Mú, Thái đen, Mông, Lự...).
“Con tôi, “thằng” cả sinh năm 1946 (năm 2009, đã tóc bạc, ở tuổi 63), vợ tôi còn trẻ. Nửa đêm, tôi bảo vợ: hôm nay trời mưa to, chắc lắm cá lắm, anh ra suối Thung bắt ít cá về cho 3 anh em chúng nó ăn. Cầm cái giỏ, giắt theo cái đèn pin và dăm bảy cục pin, ít gạo, hai hôơ sữa, mặc cả 3 bộ quần áo vào người, tôi trốn khỏi Luông Nậm Thà. Tôi bắt liên lạc đi cùn 4 đồng chí nữa. Tôi đã khóc rất nhiều. Như thế là nhẫn tâm với vợ con, nhưng nếu nói là tôi trốn, vợ con tôi sẽ khóc. Và khi giặc đến, nhỡ họ bị tra tấn nói một câu gì ra, thì không ai trong chúng tôi còn được sống. Tôi đi đánh cá, coi như tôi chết đuối đêm ấy, vợ tôi cũng tin như vậy”, ông Phẩm nhắm mắt, cố không khóc trước mặt tôi, rủ rỉ nhớ lại.
Ông Phẩm và 5 người bạn đã chạy xuyên ngày xuyên đêm, có khi gặp hổ dữ giữ rừng già, tay không tấc sắt, phải leo lên cây nằm ăn quả rừng lá rừng chờ ông hổ bỏ đi mới dám xuống. Ông kể: nửa đêm, nằm ngủ trên cây, phải vin dây rừng cuốn quanh thân, sợ mình rơi xuống làm mồi cho hoang thú. Cũng có khi mơ màng, mặt trời lên chói lọi, mở mắt ra thấy từng đàn hươu nai thung thăng ra suối uống nước. Ngủ rừng, ngủ bản xin ăn, đến lúc ông Phẩm còn mỗi cái đồng hồ đeo tay, cũng đem bán nốt, được mấy hào, 5 anh em chia nhau cầm cự qua ngày. Cuối cùng chỉ 3 người sống sót.
Đánh nhau khắp các tỉnh Bắc Lào, sau 17 năm, ông Hoàng Văn Phẩm về Lai Châu (cũ) đánh trận cuối đời là Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Ông Phẩm chỉ nhớ, mình ở Đoàn 82, Thượng Lào, đồng đội thân thiết của ông là anh Chăm, sau về sống ở Cổng hậu Nhà máy dệt Nam Định, không biết giờ còn sống hay đã chết. Nhiều ngày nhuộm thuốc súng, ngoài vài vết thương vừa phải, dường như bom đạn của kẻ thù nó từ mặt cái con người can trường Hoàng Văn Phẩm ra. Ông không muốn kể nhiều, sức ông đã cạn, nhưng huân huy chương của nhà nước ta, nhà nước Lào trao cho ông, đã đủ để nói lên điều đó. Bốn mảnh đạn rờn rợn cứng mà ông thò tay, ngóc đầu cho tôi sờ thử đã đủ để nói về một cuộc đời trận mạc vị quốc ấy.
Ông Phẩm ở tuổi 90 và cánh tay lổn nhổn những mảnh đạn chiến trường còn lại trong da thịt!
Nhưng, dù thế nào, chưa bao giờ ông thấy nguôi ngoai hình ảnh người vợ Lào đẹp, hiền, ân tình hết mực và 3 đứa con thân yêu. Ông đau đáu về cuộc giả chết đuối giữa đêm mưa của mình, vì cách mạng, vì sự sống của tất cả gia đình mình, ông phải dứt ruột ra đi. Bao năm nghèo khó ở nông trường chè Mộc Châu, bao năm cách biệt hàng nghìn cây số hai quốc gia, nhất là cả giai đoạn lịch sử dài, chuyện “vợ nọ con kia”, lấy vợ người nước ngoài còn là những đề tài mọi người đều cố gắng lảng tránh, ông Phẩm không tài nào lại dám hy vọng còn gặp lại các con.Với tuổi trẻ, những công dân toàn cầu giàu có bây giờ, thật khó để họ hiểu sự xa cách suốt hơn nửa thế kỷ qua của vợ chồng, cha con ông Phẩm.
Ba người con đầu bạc và ông bố về từ... bàn thờ!
Trở lại cái buổi chiều hiu hắt, ốm o, vết thương vì mảnh đạn pháo trên đầu đang tái phát quay cuồng, khi ông Phẩm ghé tai cô con gái Hoàng Thị Trung Thu - giáo viên dạy văn lớp 9, Trường THCS 14/6, thị trấn Thảo Nguyên. Tâm nguyện cuối đời của bố, cuộc hôn nhân và tình cảm máu thịt của bố làm cô giáo Thu rớt nước mắt. Cô tìm cách liên lạc với những người bạn hay qua lại biên giới Việt - Lào (Mộc Châu là huyện biên giới với Lào). Ông Phẩm nhớ địa chỉ, nhớ dòng suối Thung, nhớ tên các con, đặc biệt ông còn giữ được một tấm ảnh bà Te (người vợ bên Lào của ông) chụp bên bãi bồi ven suối, cho nên việc “do thám” không mấy khó khăn. Cô giáo Thu và 2 người anh em là Thanh và Huân quyết định làm thủ tục, sang Lào, thuê một chiếc xe ô tô, vượt 1.000km qua Viên Chăn, U Đom Say, về tỉnh Luông Nậm Thà, gần Tam giác vàng. Người vợ Lào của ông Phẩm đã về trời. Trên nhà sàn, một góc ban thờ, những chiếc lông chim hoang dã thấm máu khô được cắm chi chít, một cây kiếm dài, một cánh nỏ vững chãi, đó là “nơi ở” của linh hồn “người đã chết” Hoàng Văn Phẩm. Vợ, các con và cư dân trong khu vực vô cùng thương xót người đàn ông đi đánh cá “chết đuối”, họ thờ như vậy đã gần 60 năm!

Hai người con trai ở tuổi lục tuần của ông Phẩm tại Mộc Châu (hai người ngồi - bìa trái và bìa phải), khi gặp lại ông bố mà họ đã lập bàn thờ nửa thế kỷ ở Lào (ông Phẩm ngồi giữa).
Cả cụm dân cư kéo đến, họ vuốt má, ôm hôn con gái của Sỹ A (biệt danh của ông Phẩm khi hoạt động ở Lào). Cả người yêu cũ của Sỹ A cũng đến, bà vẫn rất đẹp, con của Phẩm thì cũng là con của mình mà... Họ kể về những ngày ông Phẩm giắt 4 quả lựu đạn, 1 khẩu súng đi hoạt động cách mạng, những kỷ niệm thương yêu của họ với ông Phẩm, nỗi đau của họ khi ông Phẩm “chết đuối” để lại 3 đứa con lẫm chẫm. Người vợ ông Phẩm chết khoảng năm 2002. Xem những bức ảnh con gái vợ 2 của mình múa lăm vông với 3 đứa con vợ cả (quốc tịch Lào); nhìn ảnh cô giáo Thu ra tắm suối Thung, nơi bố vẫn hằng kể với cô về vẻ đẹp của nó..., ở tuổi 90, ông Phẩm vẫn khóc rống lên vì hạnh phúc. Ông không thể ngờ được. Những ngày tiệc tùng đoàn viên, mỗi bữa 20 mâm cỗ bên Luông Nậm Thà, lễ buộc chỉ cổ tay xúc động cả khu vực, được cô giáo Thu quay phim chụp ảnh chi tiết lại. Rồi, cô đưa cả hai người con của bố mình về Việt Nam. Đó là Bun Hon (Hoàng Văn Pằm), 61 tuổi và Bun Uồn, 59 tuổi.
Cả thị trấn, nông trường xôn xao xúc động. Hai người con da ngăm đen, tóc anh Uồn đã bạc đi rồi, họ quỳ từ ngoài sân căn nhà cấp bốn của ông Phẩm mà khóc rầm trời. Họ cứ quỳ như vậy, cứ bò như vậy vào trong nhà mà ôm ông già 90 tuổi mà khóc nức nở. Ba bố con họ nói với nhau bằng thứ tiếng mà chỉ có... họ mới hiểu nổi, tiếng Lào. 60 năm qua, các con không biết là bố còn sống, chúng cũng chưa từng biết mặt ông (khi ông “biến mất” các con còn quá nhỏ!); ông Phẩm thì biết tiếng nhưng không biết viết chữ để mà thư từ. Đấy là chưa kể bao nhiêu mặc cảm, e dè, khốn khó của một thời. Cuộc gặp ấy, tất cả những người trong cuộc luôn nghĩ rằng, đến thần thánh cũng không tạo ra được. Họ ngỡ mình đang nằm mơ.
Câu chuyện đoàn viên khó tin của đại gia đình ông Phẩm, với tôi, nó cũng huyền ảo và diễm tình như núi đồi sông suối ở cái trị trấn có tên mơ mộng nhất Việt Nam này: thị trấn Thảo Nguyên...
Cô giáo Thu vui mừng gặp lại những người thân thiết, ruột thịt của bố mình tại Luông Nậm Thà (Lào).
Bài dài 2100 chữ.
Kèm 3 ảnh
A1: Hai người con trai ở tuổi lục tuần của ông Phẩm tại Mộc Châu (hai người ngồi - bìa trái và bìa phải), khi gặp lại ông bố mà họ đã lập bàn thờ nửa thế kỷ ở Lào (ông Phẩm ngồi giữa).
A2: Ông Hoàng Văn Phẩm và những tấm huân huy chương Việt, Lào được cất giữ cẩn thận.
A3: Cô giáo Thu vui mừng gặp lại những người thân thiết, ruột thịt của bố mình tại Luông Nậm Thà (Lào).
A4: Ông Phẩm ở tuổi 90 và cánh tay lổn nhổn những mảnh đạn chiến trường còn lại trong da thịt!













Unregistered user # Saturday, June 13, 2009 4:00:41 PM
Đỗ Doãn Hoàngdodoanhoang # Saturday, June 13, 2009 4:41:15 PM
Láo thật, bọn hắn (hai cái đường ray), không thông báo cho mình biết như vụ xin lỗi hôm nào.
Unregistered user # Sunday, June 14, 2009 1:52:16 PM
Unregistered user # Tuesday, June 23, 2009 7:49:34 AM
Đỗ Doãn Hoàngdodoanhoang # Tuesday, June 23, 2009 3:35:25 PM
Do Doan Hoang (ĐT: 0977222276).
Co nguoi lu hanh nhu ban thi vui biet may.
Unregistered user # Wednesday, June 24, 2009 1:59:54 AM
Đỗ Doãn Hoàngdodoanhoang # Wednesday, June 24, 2009 11:16:03 PM