My Opera is closing 3rd of March

Di dân tự do vào Tây Nguyên:

Cánh chim rừng không mỏi…
Phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng
Lời nói đầu:

Nhiều cộng đồng người vùng cao phía Bắc Việt Nam, từ cổ xưa, họ có thói quen di cư theo chu kỳ. Bà con nhiều nơi gọi đó là “phạ phung”, cứ một vài chục năm (hoặc 100 năm) lại “phạ phung” một lần kỳ vĩ. Mỗi chuyến phạ phung, cất tranh thờ, đồ lễ sặc sỡ vào một cái túi dết khoác trên vai, cùng với cung nỏ, súng kíp, cả cái cày chìa vôi cong vênh dị kỳ, bước chân người đàn ông vạm vỡ như con đại bàng núi; đàn bà đặt sau lưng một khung gỗ lớn như cái… thang, các sợi dây rừng lớn thít vào trán họ, thít vào hai vai họ làm “quai”, họ xếp, buộc, treo đủ thứ lên cái thang đó, và ngất nghểu ra đi. Họ còng lưng, dướn cổ cõng đủ con thơ, gạo lúa, xoong nồi, áo quần rực rỡ; tay dắt theo bò, trâu, chó, lợn. Có khi lúc nhúc, đen nhánh cả một đàn dê dăm ba chục con cùng đi theo nữa, lũ dê được liên kết với nhau thành “bè” bởi dây thừng, như chiến thuyền của Tào Tháo trên sông Xích Bích. Bầu đoàn thê tử lùi lũi, câm lặng cất bước hải hồ, tối đâu là nhà, ngã đâu là giường. Có khi, họ đi cả tháng ròng mới tới nơi cần đến, đó là một miền rừng màu mỡ. Nếu nâng lên tầm sử thi cho cuộc phạ phung này, nó sẽ như một cuộc thiên di.

Huyền sử của người Thái, người Mông, người Tày, người Dao đều có chép về những cuộc thiên di hào sảng đó. Có khác gì bước chân lẫy lừng đã nghìn năm rồi vẫn hằn giữa đá với rêu xanh trên đỉnh Khau Phạ (chiết tự theo tiếng Thái, là cái sừng núi ngút lên đến trời xanh) lút mây mù của ông Lò Lạng Chượng. Tạo “Lò” người đã dẫn đồng bào Thái từ Mường Lò kéo ngược lên “ăn” (khai phá) cả Tây Bắc mênh mang. Họ cứ đi như những cánh chim rừng không biết mỏi. Đôi khi, phương thức canh tác tàn “phát, đốt, trọc, trỉa” của bà con đã là không thể khác, không thể khả dĩ hơn, ở cái thời rừng còn hoang rậm, cuộc sống của bà còn còn tự túc tự cấp; còn bị bủa giữa núi cao và mây mù. Các pố mế ải êm (người đi trước) đã truyền dạy cho từng thành viên của các chuyến di cư kinh điển kia những bài học chung sống với rừng, kinh nghiệm “ăn” rừng mà không phụ lòng thần rừng. Đó là chuyện của ngày xưa; nay chúng ta bèn gọi dài dòng là “sử dụng bền vững nguồn tài nguyên rừng”.
Nay, trước sức ép của chảo lửa tăng dân số, sức ép của sự đói nghèo và thậm chí cả những lời xúi giục của kẻ xấu, nhiều khi, người ta đã biến tục “phạ phung” của những nhóm người thành một nỗi ám ảnh nhức buốt cho cả cộng đồng lớn. Khi tham gia vào những cuộc di cư không theo kế hoạch, bà con tự ý nhảy dù, tàn sát các miền rừng được công phu quản lý bảo vệ để bắt đầu một cuộc sống “bốn không, năm không” (ví như không điện, đường, trường, trạm) gây đau đầu cho cơ quan chức năng, thì cái việc biến mình thành “cánh chim rừng không mỏi” đã đích thực là một sai lầm. Một sự thiếu trách nhiệm với cộng đồng.
Thảm họa sinh thái, những hệ lụy do coi thường luật pháp sẽ đến, chính bà con mình khổ, người bản địa và cả xã hội phải khổ. Khi ấy, di cư tự do, không còn là cuộc bôn tẩu nhuốm màu sử thi của những tộc người dũng mãnh và hào sảng nữa, nó là một sự vi phạm. Hoặc ít ra, nó là câu chuyện của những người bị cái đói, sự hiểu biết có giới hạn dồn đến chỗ phải làm cái việc mà họ biết rất rõ là: ngẫm ở góc độ nào cũng vẫn cứ… sai. Họ đi tìm miền đất rộng lớn, màu mỡ, nơi mà ở đó rừng và đất rừng còn xứng đáng là tay nôi ngọt ngào hơn nuôi dưỡng cái dạ dày luôn gào réo của họ. Khi mà việc thiếu đất sản xuất, sức ép dân số, và cả thực trạng rừng bị cạo trọc, “cố hương” trơ khấc rặt một thứ đồi núi bị “sa mạc hóa” thì nhu cầu tìm vùng đất mỡ màng, tìm một lối thoát khả dĩ để được sống làm người của bà con là có thật. Là chính đáng. Đâu là gốc rễ của thảm trạng di dân tự do? Bài toán di dân tự do vào Tây Nguyên của chúng ta hôm nay, phải tìm lời giải ở đâu?

Bài 1: Nhật ký ở nơi “cuối đất cùng trời”




Trong ảnh (từ trên xuống): Anh Chinh, Phó hạt trưởng kiểm lâm Ea Súp làm công tác tư tưởng với những người nhảy dù vào Cư K'bang; cuộc sống ở "xóm nhảy dù" số 13; niềm vui của Thào Seo Vềnh khi được cấp đất, định cư. Ảnh Đỗ Doãn Hoàng

Câu hát gió lộng của Tây Nguyên bảo, nắng đã nổ nứa, gió đã nghiêng núi rồi đây; tháng ba, mùa ăn năm uống tháng - mùa cao nguyên trung phần này đẹp nhất đã đến. “Tháng ba/ mùa con ong đi lấy mật/ mùa con voi ra suối uống nước”. Tháng 3 năm 2008. Bay Sài Gòn, bay ngược Buôn Ma Thuột, lại vượt gần 100km tính từ tỉnh lỵ của Đắc Lắc, Ea Súp hiện ra, đó là nơi mà không ít người di dân tự do coi là “thiên đường”.
Ông Phan Xuân Lĩnh, Chủ tịch UBND huyện Ea Súp kêu trời: huyện chúng tôi có những xã, với xuất phát điểm là toàn bộ là bà con là người di dân tự do từ miền Bắc vào. Lúc đầu là vài hộ, rồi nhiều lên thành thôn, đông lên thành xã. Một xã và (có thể sẽ) dăm bảy xã. Chúng tôi, hiện giờ vẫn có những cái làng mà ta quen gọi là “bốn không, năm không”, như báo chí các anh vẫn hằng viết. Bà con nhảy dù vào giữa rừng và cứ “săn bắt hái lượm, phá rừng làm rẫy” thế thôi. Chuyện ấy ở địa bàn chúng tôi, báo chí viết rồi, TƯ điện thoại vào, Phó Bí thư thường trực tỉnh Đắc Lắc của chúng tôi cũng đã vào kiểm tra, đau đầu kinh khủng. Bà con rất đáng thương, họ vào đó, họ cùng trời cuối đất rồi, sẽ là thật khó để di dời bà con hồi hương hay đến một vùng đất khác nữa. Bà con đói, chúng tôi phải lo, bà con bệnh (ốm đau), chúng tôi phải chữa – ông Lĩnh thẳng thắn một cách khả kính. Thì báo chí đã đăng tin, con số chưa cập nhật, cứ ghi lại để dễ hình dung cái đã: ít nhất toàn Tây Nguyên có gần 51.000 hộ dân di cư tự do vào, chưa được ổn định cuộc sống, cần phải định canh định cư; đáng lo ngại không kém là, khoảng 85.000 hộ dân thuộc diện di cư tự do đã được ổn định cuộc sống nhưng bà con vẫn “tọa lạc” trên đất lâm nghiệp. Cần thống nhất khái niệm một chút: ổn định trên đất lâm nghiệp, thế nghĩa là chưa ổn định tí nào. Rừng sẽ tiếp tục bị cạo trọc như cái cằm người đàn ông đang ngồi ở tiệm hớt tóc cạo râu vì “lực lượng” ăn thịt lá phổi xanh kia.

Nếu so với cái cách bà con gồng gánh, chất lên vai phụ nữ, đàn ông cả những toa đồ đạc ngất nghểu trong các cuộc di dân tự do mà tôi đã gặp ở miền núi phía Bắc nước ta, thì việc “di cư” vào Tây Nguyên hiện đại hơn nhiều. Ông Lĩnh bảo, những người tiên phong đi “chọn đất”, họ thính nhạy và chuyên nghiệp vô cùng khi sử dụng các mối quan hệ dây mơ rễ má với người am hiểu vùng Ea Súp. Họ sử dụng cả những “cò”, “chỉ điểm… phá rừng”, với sự mua bán thông tin chuyên nghiệp. Họ đi xe mô tô, thấy đất, rừng “đẹp”, là họ rút điện thoại di động ra, a-lô cho gia đình, anh em, họ hàng cùng tiến quân vào. Có khi cán bộ kiểm lâm lo mất rừng, ngăn chặn không họ lập lán “tụ cư” giữa rừng, họ rút phắt điện thoại di động ra, gọi cho một đồng chí mà nói tên ai cũng biết. Đúng là đồng chí ấy, số máy ấy, giọng nói ấy, “thôi cố gặng tạo điều kiện cho họ ở”. Thì suy cho cùng, bà con cũng là đồng bào của mình, đất nước ông bà là đất nước xương máu ruột rà của tất cả chúng ta, có ai không thương bà con mình đâu. Chúng ta sinh ra từ cái bọc trăm trứng mà. Nhưng kiểm lâm thì phải giữ rừng, rừng mất, cấp trên “gõ đầu” ủy ban, kiểm lâm, công an, các hộ nhận rừng… thì ai gánh tội thay đây? Mà bà con chỉ thích nhảy dù vào những cái chỗ rừng theo đúng nghĩa để “phát, đốt, trọc, trỉa” (chính quyền địa phương từng thu xếp cho họ ra “định cư” ở những cánh rừng nghèo, họ “ok” rồi lặng lẽ… trở lại rừng giàu!). Có khi, sáng tinh mơ ra coi khu rừng mà gia đình mình đang nhận khoanh nuôi bảo vệ, bà con ở xã Cư Kbang (Ea Súp) hoảng hồn thấy cây rừng đổ rạp. Một cái nhà lều mọc lên, cơm nước, giường chiếu lùm xùm kiểu “một mái lều nương hai trái tim vàng”. Cứ như có ai đó đã phù phép cho thành quách lâu đài mọc lên trên sóng biển trong chớp mắt vậy. Lục tục, hoang mang, chủ rừng đội đơn lên báo xã.
Đoàn liên ngành đến kiểm tra thì bà con mới đến rất là lịch sự. Em đến đây để làm lụng, kiếm ăn, nó cũng là bước đường cùng rồi các bác ạ. Không phá rừng, vì như thế là vi phạm pháp luật. Em chỉ chặt vài cái cây nhỏ, dọn một khoảnh đất dựng lều. Không đánh nhau với ai. Ông K’Bốt, Phó trưởng Ban Dân tộc tỉnh Đắc Nông còn tủm tỉm: bà con nhanh nhạy lắm. Lúc nào cũng bảo, em biết em sai rồi, sờ theo quy định nào cũng là sai rồi, giờ đã vào đến đây thì trăm sự nhờ các bác. “Bảo cúng gà cũng cúng gà, cúng heo cũng cúng heo (ý là lót tay cho người địa phương)”. Họ làm lụng siêng năng. Tại Đắc R măng, cán bộ cơ sở kinh ngạc khi những người mặc thứ quần áo mà anh chị em chưa nhìn thấy bao giờ, họ “nhảy dù” từ phương Bắc vào, họ có thể làm quần quật suốt ngày đêm, có khi 22 giờ đêm vẫn miệt mài ngoài rẫy với củ khoai mỳ (sắn). Làm quên ăn quên ngủ, sắn của những người mới đến chất ngất khắp các quả đồi, đến mức, bọn tư thương phải tính cách tự vỡ đường cho công nông len vào mua sắn kiếm lời. “Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”, một cán bộ xã khâm phục nói khi đội nắng chảng đưa tôi đi bở hơi tai vào trong các dãy núi chênh vênh đã bị người di cư tự do gọt hết rừng (xem chùm ảnh tang thương rừng bị phá, chụp tháng 3 năm 2008). Cũng vì thế, từ chỗ có hơn chục hộ nhảy dù vào Đắc R măng, khi chúng tôi có mặt, Chủ tịch UBND xã sở tại lo lắng thống kê: có tới 14 cái xóm của xã, toàn là người di dân tự do mới vào, tổng số là hơn 3000 người! Đến 2/3 dân số của xã giờ là người mới di cư từ phía Bắc vào. Trường học Lê Lợi trên địa bàn xã, rợp màu váy áo của người Mông. Chỉ có điều, nhiều cháu giấu xoong nồi trong hốc cây đầu trường, học xong, lúi húi nổi lửa, “màn trời chiếu đất” tự xách nước nấu cơm rồi lì lụt ăn với nhau cái bữa tiệc… núi xót lòng.
Là một cán bộ tâm huyết, có lẽ phải đau đáu nhiều lắm với vấn đề di dân tự do hiện nay thì ông Chủ tịch Phan Xuân Lĩnh mới “nỡ” thẳng như ruột ngựa thế này: thương bà con, không thể đuổi bà con, khi họ đã trót neo đậu ở nơi cùng trời cuối đất này rồi. Nhiều khi, họp Hội đồng nhân dân huyện, không ít đại biểu nói gay gắt: ông Lĩnh phải giục tỉnh “giải quyết” nhanh vấn đề di dân tự do đang tàn sát nhiều cánh rừng đi chứ. Mùa mưa lại sắp tới, đem theo đói rét, bệnh tật rồi, cả một núi việc phải lo cho người ta đang đợi mình. Vẫn biết thế, nhưng huyện cũng không thể tự tiện “tiền trảm hậu tấu” giao đất rừng cho bà con phá đi để mở rẫy mưu sinh ngay được. Quyết định vấn đề ngày là ở cấp trên. Cái việc di dân tự do, phá rừng nó còn tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ nhãn tiền nữa: có các cò mồi, móc nối để đưa dân vào phá rừng. Có chuyện, bà con bản địa sẽ tị nạnh, rằng người ta di từ đẩu đâu đến, vừa đến đã được làm nhà, cấp đất ở, đất canh tác, ổn định cuộc sống, trong khi chúng tôi sống chết với đất này 30 năm rồi mà không có được như vậy. Đã có chuyện, mình chia đất cho người mới đến, người mới đến ngồi nhìn đất được chia mà không dám làm, vì sợ “ma cũ” (bắt nạt ma mới). Lại có chuyện, bà con vốn sống ở rừng và đất rừng nơi này, họ phá rừng, phát rẫy rồi bán cho người mới đến. Người ta bỏ tiền ra mua thì rất khó đẩy đuổi người ta đi. Hai nữa, cái anh vừa phá rừng bán rẫy xong, anh ấy lại tiếp tục đi phá để… bán. Thậm chí, họ còn tinh vi chặt một nửa thân cây gỗ rừng thôi, bỏ đó một đêm, cho gió cao nguyên lồng lộng thổi gẫy rạp cả cánh rừng. Rồi bà con “nhân tiện”, mượn gió bẻ măng, làm một khoảnh rẫy. Đó là một tảng băng chìm, nếu mạnh dạn nói ra thì có thể ai đó sẽ nói rằng thiếu căn cứ, song nó là sự thật.
Có thể, vì ở cương vị là Chủ tịch huyện, nên ông Lĩnh hơi thận trọng quá chăng, bởi cái con người dám nghĩ dám làm nhiều năm gắn bó với Ea Súp như ông mà còn sợ “thiếu căn cứ” khi nói tuột ra cái sự thật kia - thì ai có nhiều căn cứ hơn ông nữa? Mà những chuyện ấy, tôi và ông, và cán bộ của ông cùng tận mục sở thị, chứ nào có mơ hồ xa xăm gì?
Lan man với thảm cảnh phá rừng một chập thì xe ô tô của huyện nhà đã đỗ xịch trước cửa Ủy ban. Trên xe có sẵn đồng chí Chinh, Phó hạt trưởng hạt Kiểm lâm huyện Ea Súp, cái anh chàng miệt mài đi đẩy đuổi, khuyên giải người di dân tự do rồi: liên tục, lại thở dài nhìn những cánh rừng tiếp tục bị teo tóp như suốt bao nhiêu năm qua. Rừng bị chọc tiết như một điều không thể khác. Nắng chang chang, ngọn cỏ rầu rầu - mặc kệ miền Bắc đang rét chết trâu chết bò, rét thảm khốc, mặc kệ nhà tivi vẫn đưa lên sóng hình quốc gia mấy em xinh tươi một cách bí ẩn để vung tay chân “hô phong hoán vũ”, gọi băng tuyết nước ta là “hiện tượng thời tiết thú vị”. Thấy nhẫn tâm như thể các em ấy đang chọc tiết tất cả đám trâu bò vốn đã bị gầy mòn vì rét mướt vậy. Đường ngút ngàn vào rừng. Bụi đến mức, xe đi qua, tầm nhìn xa (thuật ngữ của các em dự báo thời tiết) chỉ còn 2m. Mấy cậu thanh niên ở cái xã 100% di dân tự do này đều đã mua xe máy, họ phóng xe với tốc độ kinh tởm, trên cái con đường rèo rẹo toàn đá, sỏi, đất bột mà có lẽ đi bộ trên đó nhiều người cũng sợ… trượt chân ngã. Xe chúng tôi bật đèn để đề phòng tai nạn (như kiểu đi trong sương mù), họ rẽ bụi lao đến, như cào cào châu chấu lượn quanh ngọn đèn măng xông.
Rời huyện lỵ gần 20km, qua địa phận của những cái lâm trường, anh cán bộ huyện cứ khoát tay, chỗ này vốn là rừng, giờ là xã nọ xã kia, xã ấy toàn dân di cư tự do. Quặt chỗ này còn một cái điểm nóng, mấy chục hộ từ trên trời rơi xuống, phá rừng của tiểu khu X. làm rẫy, giờ ta ổn định cuộc sống, coi họ là cư dân của một cái thôn thuộc một cái xã đàng hoàng rồi. Chỗ này, qua điên thoại di động của “cùng tổ nhóm”, thấy dễ làm ăn, được địa phương tạo điều kiện tốt, người ta kéo đến ào ào. Hôm qua, vừa có thêm 10 hộ tiến quân vào xã này, góp thêm vào cái điểm nóng di dân tự do chưa biết giải quyết ra sao ngót trăm người nữa, tổng số là gần 600 người rồi anh ạ. Anh bảo, một chốc một lúc, ổn định làm sao được đời sống, lại còn điện đường trường trạm cho cả nghìn người? – vẫn là giọng ông Lĩnh.
Gần 600 dân trong xã Cư Kbang đang chờ “bố trí sắp xếp” vẫn ở đó. Bà con dựng lều nằm chờ được… cứu giúp. Với cán bộ huyện, đó là cái ung nhọt “đau đầu nhức óc” bậc nhất hiện nay. “Chúng tôi vừa đã bố trí cho 44 hộ di dân tự do được ổn định rồi, giờ “món” 600 người này, chưa biết phải làm sao. Kế hoạch, dự án thì dậm chân tại chỗ. Chờ chỉ đạo của cấp trên thôi” – ông Nguyễn Đình Toản, trưởng phòng kinh tế huyện, thở dài.
Xã 100% di cư tự do Cư Kbang sắp có thêm thôn “từ trên trời rơi xuống”

Trời nóng rực. Cái ông Mai Văn Hiền, hạt trưởng kiểm lâm huyện vừa báo cáo việc thu cưa mâm, việc lâm tặc đánh cán bộ, việc cả núi gỗ lớn nằm chất ngất ở hạt kiểm lâm có nguồn gốc từ cánh rừng xấu số nào, lại vừa bổ sung thêm cái thông tin rất là phồn thực cho hoang thú huyện nhà: mấy năm qua, năm nào Ea Súp có voi rừng… đẻ. Bà con nhặt được nhau thai của voi đánh chén liên tục, kiểm lâm xác tín thông tin, thì vui thay, “không tin được, dù đó là sự thật”. Gớm, nắng chang chang ngọn cỏ rầu rầu, đi miệt mài vẫn chỉ gặp toàn có rừng khộp khô ron ngoằn nghèo những dáng đứng của “cây bàng mồ côi mùa đông” thế này, thì voi nào sống được? Hai bên đường không một bóng cây xanh. Cũng trong cái đêm ông Hiền nói chuyện voi đẻ với tôi, ngay gần hạt, rừng bị cháy đỏ rực một góc trời, trước mắt và trước ống kính máy ảnh của tôi (xem ảnh).
Chợt hiện ra một không gian êm đềm, tôi ngơ ngác bói tìm một dáng hoa ban tím, một nhành đào phai hay mận trắng già xuân. Không, chỉ có dáng sàng sê của vài cây khẳng khiu còn sót lại của rừng khộp bị phá. Gì? Cái dáng nhà bốn mái ngói của người Tày. Cái dáng nhà làm tôi nhớ Tây Bắc, nhớ Việt Bắc, dù trong miền nắng gió này làm gì có dốc đèo quanh co, từ thượng cổ đến giờ làm gì có người Tày, người Thái với thói quen tụ cư bên các vở nước lớn. Tôi từng theo kiểm lâm và bộ đội biên phòng đi chống di cư tự do ở Mường Nhé, Tây Bắc. Phá rằng khốc hại. Một đêm, hàng chục héc-ta rừng bị chặt, đốt thẳng cẳng. Hàng chục căn nhà mọc lên. Bà con ập đến bất ngờ, người ngựa ngậm tăm, 40 người húm vào đẵn gỗ làm một cái nhà cho một hộ. Xong cái thứ nhất, làm cái thứ hai, làm cái thứ ba. Cứ như sinh viên đi cắm trại ấy. Họ làm nhà cuốn chiếu, một ngày đêm là mọc lên bản mới. Anh em biên phòng khuyên giải không được, bèn gạt nước mắt, châm lửa vào đốt những cái nhà mới lợp bằng gỗ tươi, lá tươi đi. Rồi van vỉ khuyên bà con hãy ra khỏi rừng nguyên sinh của khu bảo tồn màu mỡ nhất Việt Nam ấy, “chứ là tôi thương bà con nhưng rừng bị phá, cấp trên kỷ luật thì ai thương tôi?”. Và, cái dáng nhà của người Tày ở Ea Súp làm tôi giật mình. Những nếp nhà ngói đỏ, nhà sàn, nằm ngơ ngác trong cao nguyên vốn chưa bao giờ có sự hiện diện của người Tày. Mái ngói đó là dấu vết của cuộc “phạ phung” mang nhiều điều tiếng.
Xã vốn là người di dân tự do, xã 100% bà con người Tày xuất hiện, không cần biển chỉ dẫn. Chỉ với những nếp nhà sàn ngói đỏ, ềm ệp vững chãi, lành lẽ trong nắng. Ruộng rẫy bắt đầu ánh ỏi cái màu xanh trù phú. Chủ tịch xã Cư Kbang Ma Văn Thuyên là một gã người Tày đặc quánh, ria con kiến, mặt vuông chữ điền, đẹp trai như một… hảo hán. Anh Thuyên người gốc ở xã Nam Quang, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng. “Bản thân tôi, và cả 5000 người trong xã Cư Kbang chúng tôi, đều là người di dân tự do. Lúc đầu, các cấp ngành rất đau đầu vì cái việc chúng tôi “từ trên trời rơi xuống”, nhưng giờ, ổn định, Chi bộ xã có tới 53 Đảng viên. Kinh tế rất phá triển. Chúng tôi mang cả cái lễ lớn nhất trong năm, hội Lồng Tồng (xuống đồng) của người Tày vào đây chứ. Chỉ có điều, tình trạng di dân tự do vẫn tiếp diễn, sẽ là một tai họa với các cánh rừng, gây mất ổn định tại địa phương. Nhiều người vừa đến dịp Tết Nguyên Đán 2008 vừa rồi, họ băng rừng rậm, địu con nhỏ, lội rừng khoảng 30km từ bên Ea H’leo sang xã chúng tôi. Họ dựng lều, “mật phục” cả tuần cả tháng trong rừng, dưới suối, chờ dịp… nghỉ tết là đồng loat chiếm đất, dựng nhà, phá nương làm rẫy!”. “Thú thật, chúng tôi chỉ bắt bà con cam kết không phá rừng. Nắm bắt thông tin để báo cáo thôi. Chứ không dám đẩy đuổi họ đi. Họ tạm thời chỉ dám chặt những cây nhỏ, nhưng nguy cơ bà con tiếp tục phá rừng là… dĩ nhiên. Họ gồm khoảng 100 hộ. Mà nhất cử nhất động ở địa phương chúng tôi, họ đều có… chân rết để nắm thông tin!” – ông Thuyên thật thà. “Thật ra thì nhiều người họ rất biết thông tin, rất nắm luật pháp, họ cố tình nhảy dù vào để phá rừng. Chúng tôi bắt ký cam kết, rất nhiều “điều khoản họ” ừ ào ký, coi như không để ý. Nhưng khi chúng tôi ghi cái điều quan trọng nhất vào văn bản, rằng “không vận động bà con ngoài quê cũ tiếp tục di dân tự do vào Cư Kbang” thì họ chối đây đẩy, họ không… ký. Có thể anh sẽ bất ngờ: ở cụm người đang dựng lều chờ được “chu cấp” kia, họ có tới 20 cái điện thoại di động, 18 cái xe máy!” – vẫn là tự sự của Chủ tịch Ma Văn Thuyên.
Cái cảm giác trù phú và lành lẽ vỡ òa, khi mà con đường gồ ghề, bụi đỏ dẫn đến một cái vùng lều lán xập xệ như là của dân du mục trong những thảo nguyên Mông Cổ. Quần áo sặc sỡ của đồng bảo thiểu số phía Bắc treo tren các thanh sào tạm bợ, vắt trên bờ rào làm bằng những cây gỗ ngoằn ngoèo mới đẵn từ rừng khộp Tây Nguyên. Vốn tiếng Mông, tiếng Tày ít ỏi của tôi được dịp làm cho cán bộ Ea Súp ngơ ngác. Bởi cả cái thôn số 13 (thôn vừa được “bất đắc dĩ” thành lập cho người di dân tự do) của Cư Kbang này không ai biết nói tiếng của cư dân bản địa Tây Nguyên. Cũng như ở cả cái huyện 54.000 dân này không một ai biết tiếng Mông, tiếng Tày của người di cư tự do. Bà con đã rời tỉnh Lào Cai thượng nguồn biên ải của mình, để cất bước lang thang. Cánh chim rừng không mỏi ấy đã dừng ở nhiều nơi, có khi là tỉnh Bình Thuận, có khi là Đắc Nông, có khi là cái huyện lân bang cũng trong địa hạt tỉnh Đắc Lắc này thôi, họ đã nhảy dù sai trái vào nhiều cánh rừng quý, rồi phải “bật” ra. Và cú “bật” gần đây nhất đã đưa chân họ vào tới khoảnh đất hoang của Cư Kbang.
Váy áo rợp trời bên khuôn giếng bê tông hiếm hoi của vùng rừng vắng vẻ. Nơi này xa suối, không có nước. Bà con xuất hiện tháng 4 năm 2007, thấy tương đối “đất lành chim đậu”, với lý do thăm thân, với lý do… nán lại ngắm trời ngắm đất, từng đợt, từng đợt bà con từ miền Bắc liên tục kéo vào. Giờ, số khẩu đã lên tới con số gần 600 người. Thừa “quân số” để lập một cái thôn mới toe cho Cư Kbang. Tết vừa rồi, bà con vào thêm một toán; hôm qua, lại có thêm gần chục hộ - con số cứ được cán bộ Ea Súp cập nhật dần. Chủ tịch xã Cư Kbang thì sâu sát hơn: nhiều bà con ngại bị ngăn chặn, họ đi bộ, lội rừng từ huyện Ea H’leo (cũng của Đắc Lắc) sang đây. Họ ập vào như cơn… gió. Cơ quan chức năng đã thương mến đào 3 cái giếng nước phục vụ bà con, số tiền đầu tư lên tới hàng trăm triệu đồng. Mỗi gia đình, khi được ổn định cuộc sống để lập thôn, đều được cấp cho 5000m2 đất canh tác, và 700m2 đất ở. Đất! Cánh chim rừng không mỏi bay đến từ hơn một nghìn cây số xa thẳm, có khi bay qua cả nghìn ngày đằng đẵng kia, cuối cùng họ đã tìm được cái mà họ vẫn hằng ao ước. Thế nên, bên này là bác người Mông khoe ở quê tôi sắp thành lập một tuyến xe khách riêng chạy thẳng từ huyện “cố hương tôi” vào thẳng Ea Súp, quê hương mới đấy nhé. Bên kia, đông vui hỉ hả, một căn nhà gỗ đăng được dựng khang trang, chỉ thiếu có cảnh giết một con lợn thả lã đen thui làm “lý” nữa là y xì phóc cảnh dựng nhà mới ngoài quê cũ Lào Cai, Lai Châu, hay vùng cao Thanh Hóa quê tôi đấy.
Chỗ này, rào giậu đóng gỗ kiên cố, những cái bờ rào chỉ ngăn mỗi trâu bò, giống hệt hàng trăm hảng nghìn bản Thái, Mông ngoài Bắc mà tôi đã đi qua. Ngoài sân, các bé chơi bi. Bếp núc, củi lửa, cỏ rả, nồi niêu, nấu nướng giữa màn trời chiếu đất, giữa gió lộng lộng và hãn hĩu lắm mới có một bóng cây xót lại khiến người ta da diết nhớ rằng: chỗ này, chỉ ít ngày trước, vẫn là rừng. Đám trẻ khoe, cháu học trường Bế Văn Đàn của xã Cư Kbang, chả phải đóng góp gì, học thoải mái. “Bản Mông” chúng cháu thuê riêng một cô giáo biết “phát sóng ngắn” (tiếng Mông) để bổ túc giữa lều lán cho chúng cháu. Trong nhà, các cụ già tỉ mẩn ngồi khâu những vuông thổ cẩm đỏ lừ, vàng rực, khâu tháng khâu năm, khâu niềm thương nỗi nhớ. Cái cuộc sống “du mục” hình như đã quá quen với bà con, miền rừng nào cũng giúp họ tìm thấy sự bình an vĩnh viễn, chứ đâu có nháo nhào kiểu nhảy dù chiếm đất như ai đó vẫn tưởng? Thế mới là phạ phung, cái tục khởi nguồn cho những nhức buốt mang tên di dân tự do.
Anh chàng nhỏ thó mà cơ bắp như dây chão đỏ au cứ đứng tủm tỉm cười nhìn khách lạ. Nụ cười trong nắng nỏ cứ lấp lóa bao nhiêu là răng… bịt vàng. Cái giọng mày mày tao tao, lơ lớ của hắn với anh Chinh, Phó hạt trưởng Kiểm lâm Ea Súp, nghe quen quen. Hóa ra là một anh chàng Mông ở Bắc Hà, Lào Cai. Tôi chưa gặp hắn lần nào, chắc thế, nhưng cái xã, cái huyện của hắn thì tôi đã ăn mòn bát, ngủ mòn lưng. Hắn tên là Thào Seo Vềnh, người xã Bản Liền, xã ấy cheo leo giáp với Sín Mần của Hà Giang.
Vềnh biết ơn cán bộ Chinh lắm. Cái hồi nằm dài ngoài Bình Thuận, cánh chim rừng không mỏi nằm xe ô tô mấy ngày vào tới Cư Kbang. Biết mình nhảy dù vào rừng là phạm pháp, Vềnh sợ lắm. Cứ nằm lỳ dưới suối, cán bộ công an, kiểm lâm đi tìm, không dám ra. Chỉ phụ nữ và trẻ em ở lại ven lều dưới suối, khách lạ đến hỏi gì cũng chỉ “Chư pâu” (không biết) rồi lầm lỳ khâu tháng khâu năm bên bếp lửa. Vềnh và cánh lực điền nằm ngoài suối, cán bộ không tìm được đâu, vớ. Anh Chinh đã mang mì tôm, gạo muối vào đặt ở khe đá cho Vềnh tự khắc tìm đường ra lấy về ăn. Chứ cũng là bà con mình, để họ sợ quá, trốn trong rừng, chết đói thì sao. Anh Chinh biết, Vềnh vẫn nhìn thấy anh và đoàn cán bộ, dẫu Vềnh không ra mặt. Cái ơn ấy, giờ Vềnh nhớ lắm. Nhất là, vừa rồi, cái thôn di dân tự do mới nhất ở cái xã vốn là di dân tự do toàn tòng Cư Kbang này vừa được thành lập, cán bộ lại còn bố trí Seo Vềnh làm cán bộ. Trưởng thôn hẳn hoi nhé! – Vềnh vỗ ngực, chỉ lên lá cờ đỏ sao vàng treo ở nóc nhà gỗ mới dựng. Thế là Vềnh có đất ở, dựng được nhà, có đất làm rẫy, cả thôn 13 của Vềnh đã kết thúc cái đời chui nhủi đi tìm miền đất hứa như cánh chim rừng không mỏi rồi. Nụ cười của Thào Seo Vềnh vẫn lấp lóa răng bịt vàng trong nắng vàng như mật ong của Tây Nguyên - tháng ba, Mùa con voi xuống suối uống nước.
Bà con từ Bắc vào, đi phiêu du giữa rừng và chọn lựa rồi “tự cắm đất cho mình”. Nếu như ở ngoài Bắc, chọn được một cánh đồng trong thung sâu, mỗi dòng họ sẽ đẽo một cái cột đá để làm “cột chủ quyền” cho đám ruộng; đôi khi, hoang sơ đến mức, chỉ vài nhát băm nhẹ vào vỏ cái cây cổ thụ, đường kính gốc hơn 1m là bà con đã khẳng định được “quyền sở hữu” rất vô lý của mình ở cái cây vua trong tán rừng đó. Không ai dám và không ai nỡ chặt những cái cây đã được bà con mình đánh dấu. Nhưng, giờ đây, họ đang “du canh du cư” ở miền đất không phải được sử dụng để làm rẫy hay dựng nhà, đó là cánh rừng mà người Việt Nam và quốc tế đang nỗ lực bảo vệ. Phải làm sao? Thôi thì chiếu cố, giúp bà con rơi vào cái cảnh “cùng trời cuối đất”, đã chót rồi thì phải… chét, cố gắng ổn định cuộc sống cho đồng bào. Và cái nỗ lực ổn định ấy thật là cảm động, thật là ngậm ngùi. 150 người ở cái bản của Vềnh ra đi, họ lần lữa, chui nhủi ở Bình Thuận 3 năm. Có người chán nản hồi hương, có người ương ngạnh tiếp tục kiếm tìm cái miền đất “không đâu màu mỡ bằng” mà họ tin là sẽ có. Một trong số đó là Vềnh. Vào Cư Kbang, ở dưới suối 30 ngày, dựng lán canh chừng, nghe ngóng, sợ hãi, đói khát. Từ một nhóm người nhỏ bé được ra sống trên khoảnh đất của Cư Kbang này, giờ, qua nhiều đợt “bổ sung”, nấn ná, thôn đã có tới 130 hộ. Họ không phá rừng. Họ thậm chí phải thuê đất của người ở địa bàn trước mình để được làm rẫy, kiếm ăn lần hồi.
Con đường dốc dác, đỏ sậm những đất bột, đất như vỡ vụn hơn, dễ bốc mù trời hơn trong nắng già chiều muộn. Những bé em ở truồng nồng nỗng đi xách nước, dòng nước rợt thĩm thẫm trên mặt đất mịn. Không một bóng cây, chỉ những bờ rào gỗ vạm vỡ và những nếp nhà bé tẹo như cái truồng trâu bò hiện lên ở cuối con đường. Thào Thị Pè, 19 tuổi, cũng từ Bắc Hà vào, dắt xe đạp leo dốc, nụ cười vẫn lấp lóa răng bịt vàng, trưng ra cả đàn con và nụ cười hài lòng khó tả với cuộc sống du mục của mình. Em Giàng Seo Phủ, nhà ở Mường Lát, Thanh Hóa, đang là học sinh lớp 5, trường Bế Văn Đàn, cứ phồng mồm thổi lửa giữa trời nắng. Vào đây được gần 1 năm, là con thứ 4 trong gia đình đông đàn dài lũ 6 anh em, bé Phủ rất biết thân biết phận. Ở trường về, là ập vào nấu nướng. Cái bếp dựng giữa trời, không liếp che, nhưng hỏa lò đắp kỳ vĩ lắm, ở đó,, có thể xếp được cái chảo gang to như cái thuyền thúng, nấu đủ cơm cho 40 người ăn. Bé chèo lên ụ bếp lò lớn. Bé nấu cá cám nuôi lợn, nấu cơm cho cả nhà 8 người ăn, bố Mùa A Sinh đi làm rẫy, mẹ Vàng Thị Cá cũng đi kiếm củi trong rừng. Bé mở tất cả các cái nồi rỗng ra, chỉ một cái nồi còn lơ phơ vài hạt cơm trắng. “Trưa nay nhà cháu ăn cơm với… cơm thôi!”. Bé Phủ cười hi hi, hồn nhiên nổi lửa, xung quanh, các cặp váy áo mông xúm vào, vàng ruộm cả không gian. Bọn trẻ lúc nào cũng vui tươi thế.
Anh Tiên Tri, nhà báo, trưởng phân xã Đắc Lắc của Thông tấn xã Việt Nam là người ít gắn bó với miền núi phía Bắc nước ta, anh cứ hào hển, mắt tròn mắt dẹt gọi tất cả chúng tôi lại chứng thực cái chuyện khó tin nhưng có thật: vợ chồng Ma Thị Sú và Cư A Thè, mới 29 tuổi mà có tới 6 đứa con. Đứa đầu mới chỉ 13 tuổi, cũng chưa bao giờ biết đến trường là gì. Anh Tiên Tri không tiên tri được rằng, việc di dân tự do, nếu không quan tâm đúng mức, bà con còn “di tự do” cả những hủ tục vào miền đất mới. Thí dụ dễ thấy, như tục đẻ vô tội vạ, cái “tục” không khai sinh, không đến trường, không đăng ký kết hôn. Cái tục tự khoan nòng, chế tạo, sử dụng súng kíp và cung nỏ bánh phát bách trúng. Cái “tục”, một gã trai bản có thể thức trắng vài đêm, người ướt đẫm sương khuya, căng mắt giương súng rình bắt bằng được một con sóc, con chồn, con dúi, con don bé xíu, chỉ đơn giản bởi gã thú hoang tội tình kia đã hơn một lần hớ hếnh để cho “gã thợ săn” nhìn thấy.

Thông tin từ hạt kiểm lâm huyện Ea Súp, do hạt trưởng Mai Văn Hiền nói: Ea Súp là một huyện có diện tích đất lâm nghiệp rất lớn, với 125.756 ha (trong tổng số 176.000 ha đất tự nhiên). Diện tích rừng đặc dụng lên tới 14,5 nghìn ha; rừng sản xuất hơn 100 nghìn ha. Trước sức ép di dân tự do, phá rừng như hiện nay, kiểm lâm huyện gặp quá nhiều khó khăn. Nhiều đối tượng lâm tặc núp bóng “bà con bản địa” để phá rừng. Nhiều chủ rừng không biết phải giữ rừng thế nào trước đoàn người đột ngột chặt phá rừng mà mình đang làm chủ để dựng lều, lập “bản”, chỉ còn biết báo cáo thảm trạng lên kiểm lâm. Khi những người di dân tự do “nhảy” vào rừng cố thủ, thì chính lực lượng kiểm lâm cũng không dễ gì đẩy đuổi đưa họ ra khỏi rừng được, vì rất nhiều lý do nhạy cảm (mà như đã nói, UBND huyện Ea Súp cũng chỉ biết… tiếp nhận rồi xin chủ trương của cấp trên). Thậm chí, như đã kể, lực lượng kiểm lâm phải mang cơm gạo, mỳ tôm vào cứu đói cho những người tự dưng nhảy vào rừng dựng lều, chỉ chờ dịp chặt trui cây rừng!
Giữa bối cảnh rừng bị mất từng giờ từng phút, lực lượng kiểm lâm lại quá mỏng. Nếu đúng như quy định 1000ha rừng thì cần 1 kiểm lâm, lẽ ra, huyện nhà phải có tới 125 chiến sỹ kiểm lâm – trong khi đó, quân số thực của hạt chỉ là… 16 người. Ngoài một số vụ tồn từ năm 2007, hơn 2 tháng đầu năm 2008, hạt xử lý tới 41 vụ phá rừng, với gần 3000m2 rừng bị chặt phá.
(Xem chùm ảnh: thu gỗ và phương tiện phá rừng - vận chuyển gỗ trái phép đã được lực lượng kiểm lâm Ea Súp bắt giữ đang để ở tại trụ sở của hạt).

(Còn tiếp)
Xem loạt phóng sự ảnh về chuyến đi trên theo đường dẫn sau đây:
http://thiennhien.net/news/140/ARTICLE/5083/2008-04-03.html
và, kỳ 2 của phóng sự và phóng sự ảnh trên:
http://thiennhien.net/news/140/ARTICLE/5097/2008-04-03.html

Viết trong những ngày mỏi mòn đau ốm:Di dân tự do vào Tây Nguyên:

Comments

Unregistered user Thursday, April 3, 2008 2:02:26 PM

nguyenthanhbynh writes: Này ông ơi, dạo này vào bog cua ông k đọc được vì lỗi font. Sao the nhi?

Đỗ Doãn Hoàngdodoanhoang Friday, April 4, 2008 12:38:38 AM

Máy của ông bị chệch phông:)
Hãy chọn Tools
Rồi chọn Internet Options rồi chọn Access… rồi chọn tiếp cái đánh dấu thứ hai từ trên xuống (đánh dấu màu xanh)
February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28