Di dân tự do vào Tây Nguyên:
Friday, April 4, 2008 2:50:28 AM
Cánh chim rừng không mỏi…
Phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng
Bài 2: Chỉ còn biết đi xem rừng bị giết
Sự bất lực và sự chây ỳ = hàng nghìn héc-ta rừng biến mất?
Tận mục những cánh rừng bị phá tan hoang, những thân gỗ lớn đen trũi nằm thuồi luồi, kềnh kếnh kang giữa những rông núi mà rừng vừa bị đốn ngã, đốt cháy. Tận mục những đám khói mịt mù do đốt rừng mà nó kinh khủng như B52 trải thảm. Tận mục rừng đêm, lửa lan đến mức đỏ rực cả ba bề bốn bên nơi tôi đang đứng; hơi nóng phả hầm hập, mùi tro than ngọt ngái đến ma quái. Tận mục, chúng tôi đã hoảng hồn y như đàn hoang thú đang bị lửa xua đuổi khỏi tay nôi của bà mẹ rừng.
Phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng
Bài 2: Chỉ còn biết đi xem rừng bị giết
Sự bất lực và sự chây ỳ = hàng nghìn héc-ta rừng biến mất?
Tận mục những cánh rừng bị phá tan hoang, những thân gỗ lớn đen trũi nằm thuồi luồi, kềnh kếnh kang giữa những rông núi mà rừng vừa bị đốn ngã, đốt cháy. Tận mục những đám khói mịt mù do đốt rừng mà nó kinh khủng như B52 trải thảm. Tận mục rừng đêm, lửa lan đến mức đỏ rực cả ba bề bốn bên nơi tôi đang đứng; hơi nóng phả hầm hập, mùi tro than ngọt ngái đến ma quái. Tận mục, chúng tôi đã hoảng hồn y như đàn hoang thú đang bị lửa xua đuổi khỏi tay nôi của bà mẹ rừng.
Những người di cư tự do, hoặc từ tận cùng cực Bắc vào, hoặc từ tít tịt Tây Nam Bộ ra, họ phá rừng tàn nhẫn, họ trơ lỳ và chống đối ra mặt trước lực lượng bảo vệ rừng. Thậm chí, ở Đắc R’măng, mấy cán bộ lâm trường còn bị người di cư tự do thu vũ khí, nhét đất vào miệng, phơi nắng, giam lỏng nhiều tiếng đồng hồ cho đến khi lực lượng công an vào giải cứu. Sự bất lực của lực lượng bảo vệ rừng trước cơn bão di dân tự do, nó cũng rõ rệt như những cánh rừng đang bị ép phải chết đứng/ chết nằm vậy. Đúng là, khi mà lối ra cho thảm trạng này còn nằm đâu đó trên những kế hoạch - dự án lúc xa xôi, lúc gần gụi - thì chúng tôi chỉ còn biết đi xem phá rừng. Đi xem cuộc sống của những “cánh chim rừng không mỏi” từ “trên trời” đậu xuống giữa rừng, rồi phá rừng, lập làng để bắt đầu một cuộc sống cái gì cũng không có. Không cả tuân thủ luật pháp, không cả thèm chào người cán bộ tử tế đến tính kế lo ổn định cuộc sống cho chính mình.
Khi chúng tôi có mặt ở tỉnh Đắc Nông, đoàn kiểm tra liên ngành của huyện biên thùy Tuy Đức vừa “tấn công” vào điểm nóng phá rừng, di cư tự do ở Đắc Ngo, Quảng Tín về. Hơn 2.000 người đang nằm trong lõi rừng, họ đã xóa sổ vài cái lâm trường, mỗi lâm trường rộng tới hơn 1.000ha! Hai ba cái lâm trường nữa, cũng cả nghìn héc-ta diện tích rừng đang bên bờ vực bị xóa sổ. Đoàn liên ngành gồm công an, bộ đội, kiểm lâm…, trực tiếp Phó Chủ tịch UBND huyện Tuy Đức, ông Trần Đình Quang “điều binh khiển tướng” vừa đi ròng rã suốt 3 ngày đêm, đã bắt quả tang hàng chục vụ phá rừng, trục xuất 41 người ra khỏi địa bàn huyện, tháo rỡ 23 căn nhà, thu hàng chục xe máy và cưa xăng, triệt phá cả nhiều héc-ta nương rẫy vô lối của người di cư tự do vi phạm lâm luật. Có một sự thật mà tất cả các thành viên trong đoàn kiểm tra thêm một lần thở dài thượt thượt để nói ra, đó là câu chuyện “biết rồi khổ lắm nói mãi”, câu chuyện cứ tồn tại như cỗ máy chém giết chết lá phối xanh của Tây Nguyên từ khá lâu nay: đó là sự bất lực trước cảnh rừng bị giết bởi những người di dân tự do. Sự nửa vời. Sự nhân nhượng của chúng ta đôi khi đã làm cho những kẻ coi thường luật pháp họ lấn tới. Kèm theo đó là thái độ chây lỳ, thậm chí chống đối ra mặt của những người di dân tự do.
Đoàn kiểm tra đi rồi đoàn kiểm tra lại ra về, kể cả kiểm lâm và cán bộ lâm trường, cũng chẳng có ai sống với rừng được 24/24 tiếng mỗi ngày. Nhà tạm bị phá, rất nhiều người bị trục xuất ra khỏi rừng, nhưng rồi họ lại vào rừng, lại phá rừng và dựng nhà, dựng một cuộc sống dựa trên những cái “lý” mà sờ đâu cũng thấy sai của họ! Có người di dân tự do, thấy đoàn kiểm tra đến, họ trưng ra cả cuốn sổ ghi nhật ký ghi tên, thời gian, công việc, kiến nghị của các đoàn đến kiểm tra, xử lý trước đó như một tiếng cười mai mỉa, thách thức. Cam kết quá nhiều, kiểm tra quá nhiều, song sự việc vẫn đâu đóng đấy. Cam kết, xử lý rồi bỏ đó thì chẳng có gì là khó hiểu khi mà chủ nhân của “cuốn sổ phá rừng” vẫn ở trong rừng và vẫn phá rừng đều đặn. Cái tâm lý “chơi bài cùn” của người di dân tự do là quá rõ rệt: họ tin rằng, cứ bám trụ, rồi sẽ được chăm bẵm, cơ quan chức năng dần dà sẽ “xuống tay”, sẽ cấp sổ đỏ cho đất ở, đất canh tác mà họ vừa giết rừng “cướp” được. “Thế thì tội gì mà không… phá rừng, người ta phá được thì tôi cũng phá được!” – trả lời nhà báo, một người di dân tự do nói “toạc móng heo”, cho cả đoàn cán bộ liên ngành nghe… thả phanh.
Các cuộc phỏng vấn chính thức và trực tiếp của chúng tôi với Chi Cục kiểm lâm, Ban Dân tộc tỉnh, Chi Cục Hợp tác xã và phát triển nông thôn của tỉnh Đắc Nông đều thu nhận được những con số, những nhận định xót xa về thực trạng rừng bị xóa sổ sau bước chân của người di dân tự do. Có gần 14.000 người di dân tự do đang “oanh tạc”, phá rừng thảm khốc ở cả tỉnh Đắc Nông. Trùm lên những con số, là tình trạng địa phương lao đao, bất lực, đành ngồi chờ đợi chủ trương của… cấp trên; là thủ đoạn phá rừng bán trao tay đất rừng, là nếp nghĩ “rừng nhiều thế, người ta phá được, tội gì mình không phá” của những kẻ coi thường luật pháp.
Đắc R’măng: khi 3.500 người cùng “nhảy dù”
Sự thực trên không phải do chúng tôi tự nghĩ ra hoặc tự đúc kết. Nó là nhận định của cơ quan chức năng, là thực tế đã được chứng minh thuyết phục bằng sự biến mất đau đớn của rất rất nhiều cánh rừng. Mất gần 100km từ thị xã Gia Nghĩa, tỉnh lỵ Đắc Nông để vào được đến xã Đắc R’măng của huyện Đắc Glong. Dọc đường, đường đất bazan đỏ đến mức, bụi đến mức, khi trở về, toàn thân, xe cộ của chúng tôi vàng ruộm, đỏ quạch. Con đường khổ ải đã biến Đắc R’măng trở thành một ốc đảo lam lũ, ốc đảo của những câu chuyện kiểu “săn bắn lái lượm” do người di cư tự do “di thực” từ nơi xa xôi đến.
Nhiều khi rừng bị đốn ngã, bị đốt cháy, thân gỗ to cả vòng tay người ôm; cả những thung lũng bất tận đen thui sau khi tre nứa bị thiêu rụi, vừa mới bị thiêu rụi. Tất cả phơi ra trước mắt người đi đường, xin thưa là cái đường đó dẫn người ta đi từ tỉnh về huyện, là đường cho ô tô ca, ô tô tải đi hẳn hoi, chứ không phải “độc đạo” hay “sơn lộ” hoang vu với lục lâm thảo khấu như người ta hình dung. Vậy là rừng bị tàn sát công khai. Người ta hoặc là làm ngơ, hoặc là bất lực trước sự tháo lui của những cánh rừng tội nghiệp. Tôi đi với cán bộ xã, thấy rừng cháy mịt mù, khói đen kịt cuồn cuộn lên mây xanh, cũng không ai giật mình, càng không ai kêu cứu hay tố cáo lên với ai điều đó. Làm cái gì cũng phải có “chiến dịch” chứ, rừng cháy thì chắc gì đã ảnh hưởng đến… hòa bình thế giới. Một cán bộ địa phương thở dài: chỉ cách đây một năm thôi, ven đường này là bạt ngàn rừng xanh, vào xã, như đi du lịch sinh thái vườn rừng. Giờ người ta phá trụi thùi lụi. Có đoạn, là đất công ty lâm nghiệp quản lý, người phá rừng người ta ý tứ phá bên trong, cách mặt đường độ nửa quả đồi chẳng hạn; họ thương mến, ý tứ để lại rừng xanh ở… hai hàng cây ven đường. Song, càng đi vào sâu, dấu tích của cây xanh càng hiếm dần. Trọc lốc bất tận. Hãn hữu lắm có cái màu xanh nhẹ nhàng, thưa thớt của sắn khoai, rau màu, Nhưng, ngay cả sự tốt tươi của mùa vụ ít ỏi đó, cũng đã tố cáo với chúng ta rằng: rừng đã biến mất để nhường đất cho vườn tược của người di cư tự do. Ai đó nói như làm thơ: một màu xanh tội lỗi.
K’Wanh là Phó Chủ tịch UBND xã Đắc R’măng. Vâm váp, da nâu bóng, giọng nói oang oang, sinh ra lớn lên ở miền nắng gió cách thị xã tỉnh lỵ những 100km, giáp với tận tỉnh Lâm Đồng này, nên K’Wanh nói chậm và có vẻ rất hồn nhiên. Anh rành rẽ từng ly từng tý bước “thiên di” của bà con từ miền Bắc vào quê mình. “Lúc đầu, vào năm 2000, họ đến với vài hộ, họ nằm lại với rừng, dựng bản làng, phá rừng làm rẫy. Thấy ổn, họ mách nước cho nhau, kéo vào ở trong rừng rất đông. Đến gần đây, thống kê thấy con số 3.431 khẩu, với gần 600 hộ dân (con số này có thể tăng từng ngày). Bà con di cư tự do sống rải rác ở cả một vùng mênh mông, gồm 14 tiểu khu! Bà con giờ đông hơn người bản địa”.
Rừng tre pheo, rừng già, rừng nào người di dân tự do cũng phá. Có thể họ không muốn phá rừng đâu, bởi họ không hề buôn bán gỗ như lâm tặc, nhưng phải “dọn” rừng đi thì mới có đất mà trồng lúa, trồng sắn, trồng màu chứ - K’Wanh lý luận rất chí lý. 14 cái tiểu khu tạm ra đời, giờ được hợp thức hóa một chút rồi, ở mức: có nhiều anh đã lâm thời được bầu làm trưởng thôn. Đội quân 14 trưởng thôn của xã Đắc R’măng, toàn bộ là đồng bào Mông. Họ được mời ra xã họp bàn đủ thứ chuyện, lúc đầu anh em phấn khởi lắm. Thế rồi, bỗng dưng có nhiều anh cũng chả thèm đi họp nữa. Cáii lý họ đưa ra là: không trả lương trưởng thôn cho tao thì tao không đi đâu mà. Đi họp mấy chục cây từ trong rừng ra xã, phải có… công tác phí chứ. Họ nói cũng… có lý (?).
Ba nghìn rưởi người với cả nghìn ngôi nhà và lều lán, với hàng nghìn héc-ta đất sản xuất, đất ấy lấy ở đâu. Phải phá rừng thôi. Phá rừng mà lại còn bị người của Công ty lâm nghiệp đang quản lý rừng người ta bắt, thu dao dựa, trục xuất ra khỏi rừng những cánh rừng vốn được bảo vệ nghiêm ngặt, thế là mấy cái người vô lối bắt nổi nóng đầu hè nhau tấn công 4 cán bộ lâm trường. Bắt, nhốt, trói, nhét đất vào miệng “mày không cho tao “ăn” đất này để dựng bản, thì tao cho mày ăn đất”. Nghe anh K’Bốt, Phó trưởng Ban Dân tộc tỉnh Đắc Nông kể lại cái cảnh cán bộ lâm trường bị đánh đập nhẫn tâm thì ai cũng thấy đau lòng. Sau vụ việc tày trời ấy, có vài người chống người thi hành công vụ bị đi tù. Mặc kệ, người di dân tự do vẫn kéo đến Đắc R’măng từ đủ các ngả đường: từ Phia Liêng của Lâm Đồng sang, từ các xã Quảng Khê, Đắk B’lao, từ Krông Nô (của Đắc Nông) lại. Họ cương quyết khai phá đất rừng, cán bộ địa phương đến làm công tác tư tưởng hòng đưa họ ra những cái vùng rừng nghèo để ổn định cuộc sống, để họ khỏi xâm hại đến tài nguyên rừng, nhưng “bà con di cư tự do” kiên quyết không đồng ý. Ép họ ra “nơi ở hợp lý”, họ cũng vẫn lồi lồi quay lại phá rừng giàu. Họ đi đến đâu, phá rừng, nương rẫy tốt tươi ngay đến đó. Thương dân thì ai cũng thương, bà con nơi nào cũng là bà con mình, “đất nước ông bà”, giang sơn gấm vóc này chỗ nào cũng là của con dân nước Việt. Có thể, cái màu xanh ngô sắn kia vô tội, nhưng việc phá rừng và coi thường pháp luật kia là không thể tha thứ. Khi chúng ta coi việc nhờn thuốc của “căn bệnh” di dân tự do - phá rừng là dễ hiểu, thì có nghĩa là chúng ta đã đồng lõa với những kẻ bất chấp luật pháp.
K’Wanh cũng thật thà. Anh Lực, Phó trưởng Công an xã, người bỏ cả ngày đưa chúng tôi lang thang trong suốt nhiều cái tiểu khu tinh có người di dân tự do ấy, cũng thật thà lắm. Họ bảo rằng, “nạn” nhảy dù phá rừng này đã được báo cáo ra ngoài tỉnh Lào Cai, vùng đất chôn nhau cắt rốn của rất nhiều bà con đang “tạm trú” ở Đắc R’măng rồi. Chính phủ cũng đã yêu cầu hẳn hoi là lãnh đạo UBND tỉnh Điện Biên phải tìm cách cùng với Đắc Nông giải quyết vấn đề bà con từ Điện Biên “di cư tự do” phá rừng ở Đắc Nông rồi. “Công an Lào Cai đã vào đây tìm hiểu. Các đồng chí ấy đi đến đâu, thì bà con di cư tự do bỏ trốn đến đó. Họ trốn hết vào trong rừng. Lúc chúng tôi (chính quyền xã) vào, thì họ lại không… trốn nữa. Tết đến, chúng tôi vẫn phải cứu trợ dầu, muối cho bà con trong 14 cái cụm dân cư đó. Dù cả 14 cụm, cả hơn ba nghìn năm trăm dân ấy, chưa có cụm nào được công nhận là bộ phận dân cư hành chính của xã chúng tôi. Họ cứ ở đó, cứ phá rừng, làm rẫy, không có bất cứ một lớp học nào, một điểm trường nào ở trong đó!” – K’Wanh chán nản.
Từ UBND xã Đắc R’măng vào đến cụm người di dân tự do xa nhất là khoảng 20km đường núi non. Có nơi xe máy vào được, rất nhiều nơi chỉ còn nước lội bộ, leo núi, leo qua những đồi lồ ô cháy đen nhánh, những thân gỗ lớn nằm chết vệ đường và cả dưới thung sâu. Đi bộ trong nắng trảng, suối cạn, rừng chết, quả thật là kinh hoàng. K’Bắc, trưởng Công an xã Đắc R’măng kể chi tiết cho tôi nghe cái vụ: tháng 5 năm 2007, anh P., cán bộ công ty lâm nghiệp và một vài cán bộ nữa có bắt giữ công cụ của 3 đối tượng phá rừng ở tiểu khu 17 (gồm những người di dân tự do) rồi còn bị chúng đánh, trói, giam giữ rất khổ sở. Hai đồng chí công an địa phương (là anh Lực và anh Hào) đã lấy lý do vào rừng với “lâm tặc” như thế thì rất nguy hiểm, họ đã đội nắng cùng chúng tôi vào với các “xóm nhảy dù”.
Hiểm nguy thì chưa thấy, nhưng đúng là nếu không có công an dẫn đường, sẽ thật khó để ai đó biết được rằng các “toán nhảy dù” nằm ở chỗ nào trong bạt ngàn các dốc núi, các thung sâu ngút mắt kia. Cũng thật khó để tìm được một ai trong túp lều nào đó mà hỏi chuyện. Bởi có đến 3.500 người, nhưng chẳng có ai ở nhà cả, vài trăm hộ nằm rải rác ở 14 tiểu khu, mỗi cụm cách nhau vài cây số, nếu cứ lội bộ đi tìm, có khác gì mò kim đáy bể. Người người lên nương, bà con miệt mài với ruộng rẫy từ mờ sớm đến mịt tối. Vô tình có gặp, vô tình ai có hỏi gì cũng chỉ một câu đáp lại, là: “chư pâu, chư pâu” (không biết, không biết đâu). Nụ cười nào cũng lấp lóa cái răng bịt vàng, như là biểu tượng của sự quyền quý, sang trọng. Song, cái việc bức tử các cánh rừng, việc ồ ạt xâm lấn rồi chầy bửa ăn vạ chờ… chính sách của họ thì lại không có dấu hiệu của quyền quý, không có tinh thần xây dựng, không vì cộng đồng tí nào. Càng đi, càng ngẫm, mới thấy người di cư tự do, đáng thương lắm mà cũng đáng giận lắm.
Một cái tiểu khu (thật ra là vài hộ gia đình bạ đâu dựng lều đó) xa nhất của xã Đắc R’măng, ở đó toàn bộ là đồng bào người Mông. Thung lũng cháy. Trên trời nắng như đổ lửa, đất bột bụi như đã được rang nóng. Vách đồi uốn lượn toàn tàn tro than đốt rẫy đen xì, thỉnh thoảng có những trảng tre, lồ ô gẫy rạp nửa trắng nửa đen kéo dài về… bất tận. Tóm lại là không có cây xanh. Con suối đục ngàu, cạn khô đến mức xe máy gầm thấp cũng cứ nhè giữa lòng suối mà lội ào ào qua. Vài bé gái người Mông hè nhau đi khênh nước, nhũng nhẵng đi về các túp lều lợp gianh. Các bé đều mặc váy áo Mông lòe xòe, mỗi bé chỉ cao hơn cái can nhựa 20 lít đựng lưng lửng nước đục mà các cháu đang vần đi một chút. Mồ hồi nhễ nhại, da đỏ au, tóc che nửa khoé miệng, nụ cười của các bé rạng ngời thơ ngộ. Cười như là chưa có nạn di cư tự do tàn sát các cánh rừng Đắc R’măng, như là chưa có 14 cụm dân cư với gần 4.000 người nhảy dù vào giữa hoang vu gây nên những “thảm họa” khiến cả huyện, cả tỉnh và cả trung ương đau đầu. Phải nói rằng, có quá nhiều nụ cười hồn nhiên giữa nơi này. Nụ cười được mùa của những con người lầm lỳ, chỉ biết chịu thương chịu khó, nửa đêm vẫn lụi cụi ngoài ruộng rẫy. Sắn phơi trắng các thung lũng lởm chởm cỏ cháy. Sắn xếp trong những cái bao tải đỏ chất ngất đến tận mái lều “du mục” của hàng nghìn người di cư tự do. Sắn đem lại cho những chàng trai Mông vạm vỡ như A Sự ở cụm 5, có tới ba chục con trâu trong nhà. Sắn đem cho Xuân Páo vài chiếc xe máy, và mấy cái tiểu khu tôi đến, nhà nào cũng mua được xe máy Tàu vừa đẩy vừa đi cũng “vè vè” như ai - để rồi Xuân Páo mở cả cái hiệu “sửa chữa xe máy Xuân Páo”, với “lô-gô” vẽ biểu tượng của hãng Hon Đa rất là sành điệu. Bên cạnh ghi số điện thoại của Páo. Những người tên Páo, hầu hết là bà con đồng bào Mông. Thấy tôi thú vị và sửng sốt với tấm biển ngoài bìa rừng trong xóm “bốn năm không”, cán bộ xã Đắc R’măng đã không hiểu ý. Là bởi vì, quê họ, mấy năm nay, kể từ khi có di dân tự do vào giữa rừng già, họ mới được “mục kích” người Mông vạm vỡ như thế nào.
Tại một số xóm “nhảy dù”, nhà nhà (thật ra là lều lều) đều rậm rịch mua sắm máy bơm nước, với chiến lược trồng cà phê trên diện rộng. Chuyện thú vị: cái việc chúng tôi lầm lũi lội bộ vào chòm dân cư “từ trên trời rơi xuống” để phá rừng phát nương hôm ấy đã bị “camera” ghi lại rất chi tiết. Cả anh Lực, Phó Công an xã; cả cậu Hào, công an huyện cắm xã đều bất ngờ. Cậu thanh niên đứng ở hiên nhà anh Dùng, Phó “thôn” di dân tự do, cứ móc điện thoại ra… quay phim cảnh tôi đang phỏng vấn và chụp ảnh… anh ta. Bản thân anh Dùng cũng đã mang ở đâu về nhiều mét khối gỗ vào hàng “tứ thiết”, xếp lừng lững, vuông vắn ở trước sân để chuẩn bị dựng nhà mới. Riêng tiền công dựng nhà, dự trù đã lên tới 20 triệu đồng. Con trai anh, đã có xe máy để đi học ngoài trường Lê Lợi gần UBND xã Đắc R’măng. Cái việc bà con chịu khó làm ăn trên đất mới “vỡ vạc” từ rừng rồi có những mùa bội thu, kinh tế khá giả - là có thật. Nếu đúng là bà con rời phương Bắc “cố hương” với lý do đất bạc màu, bản làng chật trội, kinh tế khó khăn để đi tìm miền đất hứa trù phú, làm chơi ăn thật – thì hình như Đắc R’măng đã là bến đỗ khá lý tưởng trong mắt của bà con. Dẫu rằng, khi nhảy dù vào 14 cụm dân cư kia, những người di dân tự do chẳng chịu tuân thủ một thứ quy định, một thứ luật pháp nào. Sờ đâu cũng thấy sai, nghĩ góc độ nào cũng thấy tai hại.
Những giọt nước mắt gặp ở Đắc R’măng[/B][/COLOR][/SIZE]
Sự tai hại đầu tiên là rừng, vị thần hộ mệnh cho không chỉ riêng ai, đã mất. Đi hàng chục cây số qua những đồi trọc, những quả núi mà chúng tôi tận mắt nhìn thấy đốt nương làm rẫy lù tù mù với khói lửa hoang tàn, những “cụm” dân cưa nhếch nhác với những người “nhảy dù” chui nhủi đầy mặc cảm – đúng là không ai tránh được cảm giác xót xa. Nỗi buồn tê tái. Bà con đẵn gỗ làm nhà. Bà con bỏ nhà, bỏ lều đó đi biệt vào trong các rông núi để làm lụng. “Nhà” không cửa rả, không có một thứ tài sản gì có thể… bị mất trộm. Họ vào núi từ sáng đến tối mịt. Họ đi đâu? Đi phá rừng, phát nương. Nếu như gần 4.000 người di cư tự do ở riêng cái xã Đắc R’măng này đã chiếm mất nhiều trăm héc-ta rừng giàu và đất lâm nghiệp làm “bãi đáp” (dựng nhà, dựng “bản”); thì chắc chắn diện tích rừng đã và sẽ bị phá để phục vụ cho canh tác còn gấp nhiều lần con số đó. Không có ai nhảy vào rừng, dựng lều chỉ để chơi. Không có ai ở giữa rừng mà lại canh tác trên mảnh những mảnh nương bé nhỏ hơn cái nền nhà (lều) mình đang dựng cả. Nhìn những núi sắn lát chất ngất ở các căn lều; nhìn đời sống vật chất đi lên một cách đáng mừng của bà con; thì chúng ta cũng cần hiểu rằng, đó là bằng chứng của việc rừng và đất rừng đã bị xẻ thịt tàn khốc. Càng đi, cái lời ồ ề, thô mộc “không phá rừng thì lấy đâu đất trồng mỳ” của Phó Chủ tịch K’Wanh càng làm tôi tâm đắc.[/ALIGN]
Quyết sách cho vấn đề di dân tự do vùng Đắc Nông nói riêng và mọi miền nói chung là việc của các nhà quản lý. Song, khi mà chúng ta ở quá lâu trong mớ lùng nhùng “đi thì cũng dở, ở không xong” đối với người di cư tự do và về vấn đề di dân tự do như hiện nay, thì chính cán bộ cơ sở cũng không biết phải đẩy đuổi người di cư tự do “sờ điểm nào cũng sai” ra khỏi địa bàn, hay là nỗ lực hơn nữa để tạo điều kiện cho bà con mình ổn định cuộc sống? Chính bà con cũng cứ thậm thụt ở với rừng, khi thì bị trục xuất, khi thì được quy tập lại để “định canh định cư”; sự mặc cảm ấy, đôi khi là nguyên nhân để sinh ra những chầy bửa kiểu: thấy khách đến là ai cũng… bỏ đi nương. Quả thật là cán bộ địa phương không thể làm gì hơn được những gì họ đang làm hiện nay, với đối tượng là người di cư tự do. Nhất là khi mà các diễn biến như cò mồi đất, cò mồi phá rừng, lợi dụng bàn tay người thiểu số để phá rừng lấy đất bán trao tay ngày càng phổ biến. Cán bộ xã chỉ nắm tình hình rồi… báo cáo. Rồi Tết nhất cứu trợ cho bà con, mỗi hộ vài lít dầu, vài ký lô muối. Tạo điều kiện cho các giáo viên xâm nhập các cụm dân cư (14 cụm!) để tìm học trò vận động các cháu đến trường. Làm đăng ký tạm trú, làm giấy khai sinh, đưa các cháu rời rừng rú đến trường, thôi thì có khi 16 tuổi mà chưa đi học cũng cứ nhét cả vào lớp một. Các cháu dựng lều mà học, kê vài hòn đá tảng giữa trời đất nơi bìa rừng mà nấu nướng lì lụt ăn với nhau. Học cho nó… gọi là có học. Các cái dự án tiền tỷ, gom 14 cụm dân cư kia vào, thành lập cả hai cái… xã mới của người Mông, nghe đâu cũng đang được bàn thảo; rồi điện đường trường trạm cũng xắm nắm để được triển khai phục vụ bà con mình – cán bộ xã chỉ nghe vậy, biết vậy, đó là việc của các “cơ quan cấp trên”. Nếp nghĩ, nếp làm này đã gây nên những hậu quả tai hại.
Tôi với cán bộ xã vào rừng. Không có một túp lều nào có người dân đang ở. Họ đi nương, hoặc cố tình đi nương. Đám trẻ lóc nhóc đùa trên những bao xác rắn màu đỏ chứa toàn sắn thái lát xếp như tường thành cao, thấy khách lạ, đứa nào cũng đứng nghiêm sợ sệt. Khách quay đi, tiếng cười giòn giã nổ như pháo rang. Đám con buôn đã kịp đem píp pô kem mút len lỏi vào các cụm dân cư hoan hỉ bán. Mát lạnh đường hóa học, giữa nắng nỏ, cái thức quà dù chẳng ra gì ấy, luôn gợi lên sự tươi mới, gợi lên niềm vui mục đồng ngơ ngẩn. Đám xe thồ cũng đẩy lúc lỉu chảo gang, xoong đại bằng nhôm trắng lấp lóa vào từng nhà – những món hàng ấy, bà con người Mông rất thích. Có vẻ như một cuộc sống mới đã thật sự bén rễ xanh cây. Phá rừng là sai, ai đó bắt giữ hành hung cả cán bộ lâm nghiệp là sai. “Nhảy dù” là càng sai. Nhưng rõ ràng, cái sự “hồi sinh” mỡ màng đang hiện diện ở nhiều cụm người di dân tự do kia. Trước, bà con bản xứ đã phải bỏ mấy cái thung lũng hễ mưa là ngập lụt nơi này ra đi, bởi hễ mưa là nó ngập, ngập lút nóc nhà. Rừng hoang, cỏ dại, lau lách tràn lấp xóm buôn cũ. Nay, bà con người phương Bắc cứ nhảy đại vào ở, mùa đến, vẫn ngập, vẫn cô lập đường ra xã. Nhưng bà con chấp nhận, là bởi vì cái mùa không ngập đất rất tốt, là bởi vì “méo mó có hơn không”. Sống như hiện nay, dẫu gì thì cũng hơn vạn lần cái cảnh chạy từ Bắc vào Nam tìm miền đất hứa, nhảy dù vào khu rừng nào cũng bị “trục xuất”. Giàng A Sèng, 34 tuổi, từ Bắc Hà, Lào Cai vào Đắc R’măng đã 6 năm, mua được xe Wave Tàu 9 triệu, đẻ được đứa con xinh xẻo (một đứa đã “hữu sinh vô dưỡng” vì lối sống du mục giữa rừng hoang của Sèng). Tôi gặp Sèng địu con, chở vợ đi trên chiếc xe máy xanh biếc. Cả ba cười tít mắt, răng trắng lóa. “Ai giàu nhất ở đây, hả Sèng?” - Anh Lực hỏi. “Mình chưa nghĩ được đâu. Giàu thì ít người giàu lắm. Vì vất vả nhiều năm ở đây rồi, ngày nào cũng làm việc đến khuya ngoài rẫy, nên ai cũng có tiền một tí, một tí thôi mà” – Sèng bảo.
Chấp nhận cuộc sống dựng từ… hư vô của rừng hoang, là bà con cũng chẳng sung sướng gì. Vẫn biết rằng cả rừng núi, cả cộng đồng đang phải khổ sở vì cái sự chả sung sướng gì của bà con. Đến ngày bầu cử, cũng phải đón bà con từ rừng ra, lo ăn ở, lo đi lại mấy ngày trời để bà con thực hiện quyền công dân. Giữa heo hút, đến chợ của xã Đắc R’măng còn không có, nói gì chợ búa cho người di cư tự do sống giữ lõi rừng được bảo vệ. Thế là bà con cứ một mình với hoang vu. Có khi, cả cụm dân cư, mỗi tuần chỉ cử 1 người đại diện đi chợ mua những thứ không tài nào tự cung tự cấp được, những thứ tối thiểu của một cuộc sống nhục nhằn, như dầu thắp sáng và muối ăn để sống làm người thôi. Nồi niêu treo trên cành cây, lều nương, vách nứa xiêu vẹo, cuộc sống tạm bợ đến mức không tưởng tượng được. Mấy cụ già ở bản, ai cũng đờ đẫn ngồi trong phên liếp tránh nắng. Cụ Vàng A Phao, dăm năm nay, ở rừng, chỉ ước ao có cái ra-đi-ô để nghe, mà mấy năm rồi, ao ước vẫn treo ở đầu núi xa.
Phó cụm (tạm bầu lên như thế để cho nó… có vẻ chính thống) tên là Vàng Văn Dùng, lúc 12 giờ trưa, nắng như đốt lửa khắp thung lũng, vẫn ở chon von trên đỉnh núi phơi khoai mỳ (sắn). Một tiếng đồng hồ sau, cậu con trai đi nhanh như sơn dương của anh ta mới đi gọi được bố mình về. Đám trẻ nhỏ, ở trần ở truồng, đi thung thăng trong đồi vắng, thấy khách, chúng bỏ chạy tán loạn. Tiếng khóc thét lên trên đồng cỏ cháy. Những da thịt bầy bấy, nguyên sơ, trắng đuột ấy cứ chạy và cứ thét trên đồng cỏ cháy, vẫn biết là tiếng thét con trẻ, vẫn biết là nỗi sợ hãi con trẻ, nhưng càng ngẫm càng thấy thắt lòng. Anh Dùng là phó cụm (lâm thời), nên công an xã mới có mối liên hệ, mới mạnh dạn cho đi “mời” từ nương rẫy ngút ngàn đồi cao Dùng về. Chứ người khác, hỏi gì cũng không biết, nói gì cũng cần phải… xem lại, vì họ thận trọng, đề phòng, mặc cảm, lẩn trốn liên tục và liên tục.
Câu chuyện với anh Dùng, phần nào giúp chúng tôi hình dung ra chút đỉnh, con đường đã đưa những phận người miền cực Bắc, như cánh chim rừng không mỏi, dạt vào vùng đất hoang hóa này cũng như số phận họ.
“Anh Dùng từ tỉnh nào vào?”
“Từ Bắc Hà, Lào Cai, mình đến xã Chà Chang, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên từ năm 2001 mà. Từ đó, năm 2003, mình vào thẳng trong Đắc R’măng này thôi”.
“Lúc vào, đây toàn rừng rậm?”.
“Trên núi mới có rừng. Chỗ mình dựng nhà này, toàn là rừng trảng cỏ, rừng lồ ô (tre nứa)”. (Các công an xã chứng kiến cuộc trò chuyện phản đối câu nói này của Dùng, họ cho rằng, Dùng và bà con đã phá rừng đích thực, phá những cánh rừng để “dọn đất nhảy dù”).
“Không lẽ tự dưng anh biết, cách nơi anh ở những hơn 1.500km, có một cánh rừng như thế này, màu mỡ như thế này để… phá?”.
“Quê mình, mình không có một miếng ruộng gì cả. Vào đây, mình đi theo một người anh em, tên là Mã A Lử, anh ấy vào đây coi đất trước, rồi rủ mình đi chứ!”.
“Ai đã rủ Lử đi?”
“Là Mã A Phù, Phù nó là người lớn hơn, là anh em họ hàng. Vợ nó là em gái của mẹ mình (Dùng). Phù “nó” mới bỏ về quê cũ rồi, nó không thích ở đây nữa”.
“Nếu có thể, anh sẽ ở lại Đắc R’măng lâu dài chứ?”.
“Muốn. Mình có nhiều con, một thằng Phàng đã lấy vợ rồi. Hai thằng Vàng A Lự, 12 tuổi, đang học lớp 5 ngoài trường Lê Lợi của xã Đắc R’măng, mình mua xe máy cho nó, sáng đi học, chiều về cụm giúp bố làm khoai mỳ. Thằng nhỏ lớp 2, tên là Vàng Seo Sủ, mình cho nó ở luôn ngoài trường nội trú. Đi học khổ lắm”.
“Kinh tế nhà anh thế là khá giả, ít ra là so với cuộc sống quá nhếch nhác giữa rừng của 4.000 bà con người Mông, cùng “thân phận” như anh?”.
“Nhà mình có 8ha để trồng đậu, lúa, mỳ. Sắn khô, chặt khúc ra, loại đẹp, giờ bán được 27.000đồng/kg. Họ vào tận đây họ mua. Chúng tôi cũng đổ mồ hôi, đổ nhiều nước mắt vào vùng đất này lắm rồi. Bà con còn khổ hơn tôi. Giờ chỉ ước ao được nhà nước quy hoạch, có nước suối, nước giếng để sinh hoạt. Có muối, có dầu để sống. Chúng tôi biết là mình đã sai. Nhưng chúng tôi không có đồng tiền nào để mua đất. Vào đây, biết là mình đã làm sai. Nhưng, khi đã vào đây để kiếm ăn, chúng tôi chăm chỉ làm ăn, không làm một điều gì sai trái nữa. Giờ chỉ biết làm suốt ngày đêm, khi ốm đau, khi đói khát, chỉ biết khóc.”
(Nước mắt anh Dùng ầng ậng, mấy cán bộ xã ý tứ quay đi) Lúc ốm đau, đường đồi núi cheo leo, không khiêng bà con mình ra trạm xá, đi bệnh viện thì họ chết mất. Có ai muốn tự dưng tìm vào tít trong rừng sâu này để ở không? Một tuần mới đi chợ một lần, ở tít ngoài xã Quảng Sơn, con cháu thì dựng lều tranh trọ học. Thế mà khi đau ốm, khi nước lũ dâng cao, cái cầu bị trôi mất. Trẻ con từ lều ở ven trường về nhà lấy gạo, bị nước lũ không thể đến trường được nữa. Người bị ốm, đang khiêng ra viện thì chưa vượt qua được suối, chưa ra được trạm xá đã chết. Con thằng Phềnh cạnh nhà mình vừa chết năm ngoái, là vì thế. Ở cụm 5 ngoài kia, mấy người cũng chết. Nước ngập lút cả cái gốc cây xoài kia, cái thằng ấy ăn gì bị đau bụng (như bị tả), khiêng nửa đường thì nó rơi xuống và chết”.
Đã có những ngày, mới cách đây ít ngày, trường học Lê Lợi của xã Đắc R’măng là tiêu điểm gây “sốc” vì sự xập xệ của toàn Tây Nguyên. Các nhà hảo tâm đã chung lưng xây phòng học, đưa các em khỏi sự đói khát, nhếch nhác kiểu “dựng lều trọ học”, ăn đói mặc rách. Một trong những lý do cho kỷ lục đó, là sự góp mặt của ít nhất 234 em học sinh người Mông thuộc diện di cư tự do “toàn tòng”, chiếm một nửa sỹ số toàn trường! Cái dự án gom nhóm gần 4.000 người nhảy dù của Đắc R’măng vào làm 2 xã mới của người Mông giờ mới manh nha. Nhưng, ở trường Lê Lợi, thì màu áo và phong tục của trẻ em người Mông đã quá quen rồi. Cả trường, không một ai biết một câu một từ tiếng Mông, cô hiệu trưởng Nguyễn Thị Chiên cứ nằn nì, cứ thăm hỏi và xót thương các cháu mãi, rồi cũng dần dà động viên các cháu giúp cô trò tìm được ngôn ngữ chung: tiếng Việt. Các cháu học tiếng Việt, học chữ. Rồi tất cả những đứa không biết chữ, gom cả vào làm… lớp 1. Cô giáo vào các cụm dân cứ, rợt nước mắt xuống rừng cháy, thương các cháu đến quặn lòng. Đầu xanh có tội tình gì!
Chiều về, từ trong hốc cây bị xẻ thịt nằm trơ lơ, tôi gặp hai bé con chui vào hốc gỗ mục, lôi ra hai cái nồi đen nhẻm và lụi hụi nấu nướng. Chỉ có một cái nồi, và chỉ nấu một thứ là cơm. Ăn với muối. Nước để trong những cái can 2 lít, lổn nhổn mỗi cháu một can. Hàng can đứng trắng đục, trắng nhàu cả một góc rừng. Bé Vừ Thị Sai, nhà ở cụm 17, bố tên là Vừa A Hồ, cháu đang học lớp 2A, cô Hạnh chủ nhiệm. Quê cũ cháu ở đâu ư? Cháu khong bí đô (không biết đâu). “Con tên là Vàng Thị Mơ, lớp 1, nhà cũng ở cụm 17 mà. Chư pâu! (con không biết gì nữa)”. Hai bé nấu cơm. Chỉ một phên tranh áp vào gốc cây khổng lồ là thành cái bếp ở ngay đằng sau lớp học, hai bé con, như đôi chim chiền chiền làm hang trong hốc cổ thụ. Cô Chiên không đành lòng quay đi. Tôi bắt gặp nụ cười lỏn lẻn, váy áo rực rỡ của hai bé con. Bên cạnh, bọn con trai quét dọn khu đất trống để tất cả đều nấu cơm giữa trời, chúng vung chổi tre như Quan Công khiển Long đao. Bụi mù mịt. Bên cạnh, mấy cậu bé đang hè nhau chẻ một cái lốp xe máy cũ ra thành từng miếng. Dùng cao su ấy để nhóm lửa, khét mù, lửa lốp xe cũ nhuộm cái chiều muộn hoang vu xám xịt, lạnh lẽo của rừng trở nên ấm áp. Tối, chiếu trải ra cái phòng trống huyênh, quần áo ném lổn nhổn trên sàn, căn phòng không có một thứ vật dụng gì. Các cháu nằm ôm nhau co quắp, “thương lắm!” – Chủ tịch xã K’Rang điểm xuyết vào cảnh buồn một câu tiếng Việt lơ lớ.
(còn nữa)
Xem bài và phóng sự ảnh theo các đường dẫn sau đây:
http://thiennhien.net/news/140/ARTICLE/5083/2008-04-03.html
http://thiennhien.net/news/140/ARTICLE/5097/2008-04-03.html
http://www.laodong.com.vn/Home/phongsu/2008/4/83158.laodong












