Giấc mơ ấm của “cậu bé tò he”
Wednesday, January 19, 2011 1:06:05 AM
“Kỉ niệm nhớ nhất của em là, từ hồi em bắt đầu đi nặn tò he đến giờ, có một chuyện em không bao giờ quên được, mà cũng bất ngờ cơ. Hôm ấy, đang ngồi nặn thì có 2 cô sinh viên đến nói thầm: “anh ơi anh nặn cho bọn em một thứ này được không?”/ “Được chứ, nhưng nặn cái gì?”/ “Nặn cho bọn em một cô, em nói thật đấy, bọn em mua thật, sẽ trả nhiều tiền”/ “cô gì”/ “Cô gái… khỏa thân, không mặc một cái gì cả”/ “Cái này thì không được, anh mà nặn, người ta biết là bị bắt, mà bọn em nặn để làm gì” (cái này thì em biết vì đã có người làng Xuân La, khi đáp ứng yêu cầu của một khách hàng trong Sài gòn, đã bị công an mời về đồn!)/ “bọn em có việc, không sao đâu, anh cứ nặn đi, bọn em đứng quây quanh che cho anh nặn”.
Đúng là bất ngờ thật, nặn ma nặn quỷ thì bình thường, mà bọn con trai nó bảo “nặn thế” thì cũng không ngạc nhiên lắm, đằng này lại là hai cô sinh viên rất nõn nà. Em vẫn nhớ rõ hôm ấy ngồi ở Bờ Hồ Hoàn Kiếm mà. Âu cũng phải như thế mới là cuộc sống, anh nhỉ?”
Đúng là bất ngờ thật, nặn ma nặn quỷ thì bình thường, mà bọn con trai nó bảo “nặn thế” thì cũng không ngạc nhiên lắm, đằng này lại là hai cô sinh viên rất nõn nà. Em vẫn nhớ rõ hôm ấy ngồi ở Bờ Hồ Hoàn Kiếm mà. Âu cũng phải như thế mới là cuộc sống, anh nhỉ?”
Giấc mơ ấm của “cậu bé tò he”
Chúng ta đã quen quá với hình ảnh ông già phúc hậu, tóc bạc, râu dài ngồi tỉ mẩn nặn tò he lộng lẫy xanh đỏ tím vàng bên Bờ Hồ, góc phố, giữa chốn chợ quê. Xúm đen xúm đỏ, huyên náo tột độ ba bề bốn bên là đám trẻ (và người lớn) đang đòi đủ thứ tạp pí lù từ: lợn ỉn, hoa hồng, Tôn Ngộ Không, Lã Bố hí Điêu Thuyền, Võ Tòng đả hổ, Bạch cốt tinh, Cố Đại Tẩu, rồi Ben Then, Pa Cu Gan hay Thủy thủ Mặt Trăng. Mỗi con tò he, như một giấc mơ mục đồng, như một miền cổ tích mến thương trong rất nhiều con dân Việt. Thế rồi xã hội tốc độ với phương tiện truyền thông hiện đại, với những thứ đồ chơi sản xuất công nghiệp, tích hợp được bao tính năng vượt trội của thế giới - chúng có sức “quyến rũ” khó có thể chối từ với hầu hết trẻ nhỏ - đã làm tò he ne nép vào một góc nhỏ. Nhỏ đến gần như quên lãng. Thân thương đấy mà cũng tội nghiệp lắm đấy.
Những ông cụ tóc bạc da mồi lần lượt về trời. Tò he cũng mai một dần. Làng Xuân La, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Hà Nội là nơi có truyền thống “nhà nhà nặn tò he” rồi đi khắp chợ cùng quê “ăn dỗ trẻ con”. Từng nổi tiếng trong sử sách, từng đem các nghệ nhân ưu tú nhất của mình đi biểu diễn nặn tò he ở nhiều quốc gia, nay Xuân La chỉ còn lác đác vài người xách tay nải, bột màu, cất bước đi thắp lửa cho “miền di sản” độc nhất vô nhị trên thế giới của tổ tiên.
Giữa bối cảnh ấy, tôi giật mình rồi nao lòng gặp “cậu bé tò he” Đặng Văn Tiên.
Nặn cả Chùa Một Cột và Khuê Văn Các
Sinh năm 1984, hết lớp 12 thì bỏ ngang tuổi học, Hậu chính thức biến mình thành người ngày ngày đi nặn tò he kiếm kế sinh nhai. Ông nội cũng là một nghệ nhân “nặn con giống” nhưng mất sớm, bố Tiên và cả Tiên nữa đều học nghề từ ông ngoại, nghệ nhân tò he Đặng Văn Hạ. Cụ Hạ là người yêu tò he đến mức, năm nay ngoại bát tuần, vẫn thường trốn con cháu ra đầu đường Quốc lộ 1, bắt xe bus vào nội thành lê la dùng bột màu thơm mịn quê mình nặn tò he chơi đùa với trẻ nhỏ. Cụ Hạ từng đạp xe đạp xuyên Việt trong thời bom Mỹ còn leo thang miền Bắc, oanh tạc dải đất miền Trung, hễ chỗ nào có người là ngả mẹt bột ra nặn tò he. Hồi ấy, người ta còn gọi là nghề tò he là: Nặn Chiến Sỹ (trong thời cả nước ra trận, ai đến mẹt tò he cũng đòi nặn hình anh bộ đội mang mũ tào mào, bồng súng ba-zô-ca). Ông Hạ sớm nhìn ra cái thứ “nhất nghệ tinh nhất thân vinh” trong niềm đam mê tò he rất đặc biệt của cậu bé Tiên. Học hết lớp 8, sáng đi học, chiều theo ông đi nặn tò he. Nhìn ông già nhoay nhoáy phù phép cho từng lọn bột nếp, vài hạt đỗ mấy que tre, biến thành vạn vật… ai cũng thích, nhưng nhìn mãi người ta cũng thấy quen nhàm. Giờ bỗng đâu có cậu bé khôi ngô xuất hiện thế chỗ cho bậc lão trượng kia. Bàn tay của cậu còn ngơ ngác chút ít, nhưng nó cũng nhiệm màu như phù thủy đấy chứ. Thế là người ta náo nức, tấp nập đến xem rồi mua. Tiên ngồi một góc công viên Thống Nhất, ông ngoại Đặng Văn Hạ ngồi vừa kể chuyện Quan Công “Quá ngũ quan trảm lục tướng Tào” và nặn tò he bán ở một góc. Thế rồi thúng bột của Tiên hết veo, thỉnh thoảng cậu lại phải chạy sang khênh của ông một tảng bột về “phục vụ quý vị và bà con”.
Cũng có lần khốn khổ, ngồi công viên Gò Đông Đa, mấy ông cháu trong nhà ngồi sây lưng vào nhau ở mấy góc, thế mà còn bị mấy gã say rượu, đầu gấu trấn lột. Moi tiền không có, họ moi bột ra… ăn, rồi khênh cả thúng đi mất. Ông của Tiên phải thò trong túi áo tặng chúng nó chai rượu mới yên thân. “Chúng nó sợ mỗi ông ngoại em thôi, vì ông ngoại già cả”, Tiên phân trần.
Có người bảo tò he “chết” hết rồi, ai người ta chơi nữa. Có người lại đồn, tò he đi Mỹ, đi Nhật rầm rĩ báo chí, người làm tò he bây giờ là “của độc”, giàu có và nổi tiếng lắm. Tiên nhận ra, cả hai cách nghĩ ấy đều đúng và đều “thầy bói xem voi”. Nếu thật sự yêu mến tò he, Tiên phải nặn thật giỏi, bột thật tốt, kiếm được cái bột nặn cho em bé một Tôn Ngộ Không mà bé chơi cả không vỡ mủn, không mốc thếch thì càng tốt. Cái thứ hai là phải tìm lối ra cho tò he giữa lúc bộn bề khó khăn này. Tiên và nhiều bạn trẻ thành thục nghề tò he đến mức họ đang luyện biểu diễn bịt mắt có thể nặn được tò he. Nặn chính xác, nặn có hồn, khiến cả chợ người phải sửng sốt. Tiên luyện đã khá cao tay, riêng người anh em Đặng Văn Hậu của Tiên thì đã biểu diễn thành công tuyệt chiêu này. Chưa hết, trong cuộc thi nặn tò he của Câu lạc bộ tò he truyền thống Xuân La tổ chức cuối năm 2010 vừa qua, Đặng Văn Tiên còn vượt qua các bậc tiền bối, đoạt giải đặc biệt trước sự than phục của các nhà báo và các bô lão cả đời bôn tẩu nặn Chim Cò, Nặn Con Giống và Nặn Chiến Sỹ (các tên gọi khác nhau mà tò he từng mang tải). Tiên và một ông chú trong làng kỳ công nặn nhiều ngày xong một “tò he” khổng lồ hình Chùa Một Cột và Khuê Văn Các. Cái nghề lang thang nặn bột kiếm ăn vốn đã tỉ mẩn, đã thuộc từng hang cùng ngõ hẻm của nước Việt, nhưng ngần ấy vẫn chưa đủ để Tiên có thể nặn hai công trình kiến trúc nghệ thuật và tâm linh từng bao năm hiện diện như là niềm tự hào của người Việt Nam kia. Tiên đi thăm ngắm, đi sưu tầm nguyên liệu, đi mua sách vở, mua cả kính lúp về xăm xoi từng chi tiết trong các bức ảnh chùa Một Cột và Khuê Văn Các. Rồi cóp tiền mua cả tạ bột nếp về để làm kỷ lục tò he nữa chứ. Công trình “nặn chùa nặn cả Văn Miếu” của Tiên đã đúng từng chi tiết, từng màu sắc thâm rêu hoặc xanh đỏ của hai di tích quốc gia. Nó giống và có hồn đến mức, có nhà báo “chấm giải” phải thốt lên: tò he nó phải cách điệu, phải là hồn nhiên và nhìn mọi thứ bằng con mắt đồng dao ấu thời của trẻ nhỏ, chứ các em nặn giống như… chụp ảnh thế này, chưa phải là đã tốt! Tiên coi đó là một lời khen ngợi. Bằng chứng là “đỉnh cao” hơn cả giải nhất (có 3 giải nhất), Tiên đoạt giải đặc biệt của cuộc thi.
“Giáo sư” thuyết trình và biểu diễn nặn tò he trong trường học!
Đặng Văn Tiên cũng là lớp người trẻ đi tiên phong tìm những ngả rẽ tuyệt vời cho tò he trong thì buổi mới. Tiên làm hồ sơ, ghi tên vào Hiệp hội làng nghề Việt Nam từ năm 2008, đi “tác nghiệp” có thẻ đóng dấu giáp lai “như nhà báo các anh” (lời Tiên) hẳn hoi. Một lần đi biểu diễn ở bảo tàng Dân tộc học, Tiên nặn như “lên đồng”. Một chị tự giới thiệu tên là Tuyết hỏi: nặn con gì dễ nhất. “Dạ, nặn con lợn. Lợn nặn dễ đẹp, lại là con vật mà nhiều người đặt nặn, đặt mua nhất”. “Nặn con gì khó nhất?”. “Dạ, nặn Ben Then với Ba Cu Gan, Sơn Gô Cu của trẻ con, vì trò chơi nó “nhập” về nhiều lắm, mà mình không dễ gì cập nhật được. Nhưng, đó cũng là trò mà trẻ con “đòi” nhiều nhất”. Nghe xong, chị Tuyết bảo, chị và gia đình chị muốn mời Tiên về thăm nhà chị ở Hoàng Quốc Việt,biểu diễn nghệ thuật Tò he cho mọi xem, nói chuyện tò he cho mọi người nghe. Tiên hào hứng nhận lời.
Bởi từ lâu lắm, em vẫn thường lên mạng mày mò, ước mơ lập một trang web cho nghệ thuật tò he, thứ mà “cả thế giới không ở đâu có được” của quê mình. Tiên còn nghiên cứu từng công đoạn, từng bí quyết chế bột, pha màu, từng lý lịch tên gọi tò he, em cũng muốn chia sẻ và nghe các ý kiến đóng góp của mọi người lắm chứ. Về nhà chị Tuyết, Tiên gặp một cô Việt kiều ngoài 50 tuổi. Người đàn bà trông đã thấy lịch lãm và giàu có. Cô ấy bảo, cô xa Việt Nam đã 30 năm, đang làm bác sỹ ở Mỹ, mỗi lần mơ về cố hương, bao giờ cô cũng gặp màu xanh đỏ rực rỡ của tò he ngộ nghĩnh, của hạt bưởi đốt lòe xòe lửa và chiếc tàu thủy đốt bằng dầu hỏa nhả khói bơi trong chậu nước đêm Trung thu. Tiên nặn, diễn thuyết và nhận thù lao hậu hĩnh. Từ bấy, trong cậu bé tò he 20 tuổi đã hình thành một “ngả rẽ mới”: đi thuyết trình, biểu diễn, dạy nặn tò he cho các quán ăn, nhà hang, trường học, các bữa tiệc đông người. Những trường nổi tiếng ở Hà Nội như Đoàn Thị Điểm, những trung tâm văn hóa, khu vực nhà hàng khách sạn như Quốc Tử Giám, Tháp Hà Nội, Phố Cổ, Tôn Đản, Tăng Bạt Hổ…; nhiều đám cưới, tiệc sinh nhật, buổi họp lớp… đã “đua nhau” có mời Tiên đến để giao lưu và biểu diễn. Họ “bao thầu trọn gói” cả nghệ nhân lẫn thúng bột màu có phép thuật của Tiên, rồi cậu cứ mặc sức nặn các con giống, các hình thù hoa hòe hoa sói tặng cho các khách mời của buổi tiệc. Đặc biệt phổ biến là công việc “gia sư tò he”, tức là Tiên đến từng nhà, mang theo “đồ nghề” nói cho trẻ em nghe về tò he, dạy các cháu nặn theo kiểu vừa học vừa chơi. Hệ thống câu hỏi, thắc mắc của trẻ em và du khách nước ngoài kể trên đã được Tiên đúc kết thành văn bản, những hoạt đống thú vị của nghề tò he trong thời mới cũng được Tiên chụp ảnh lại để chuẩn bị tư liệu cho trang web thế giới tò he ở Việt Nam. Đúng là, với sự ngộ nghĩnh, với vai trò mang tải cả miền ký ức ấu thơ của bao người, của cả một dân tộc như thế, tò he vẫn là một mạch ngầm đầy cuốn hút người Việt, cũng như không ít du khách quốc tế.
Vừa rồi gặp lại tôi, Tiên lỏn lẻn khoe: “Em đang xúc tiến trang web tò he, gấp lắm. Vừa rồi lại còn phải bỏ tiền mua hai bộ quần áo “dân tộc Việt”, áo nâu sồng, áo the khăn xếp, guốc mộc nữa chứ. Hôm nọ đi biểu diễn phục vụ các đại sứ quán các nước ở một buổi tiệc lớn, đông khách lắm, trước các vị “quan lớn” đủ Tây, Tàu, em cũng run, thế là rơi mất một chiếc guốc mộc, cái khăn vấn trên đầu cũng chẳng biết để đâu. Giờ chưa đi mua được, mà tối nay lại đi biểu diễn ở một nhà hàng ở gần Đại học Y Hà Nội. Lúc nãy, bên Công viên nước trên Hồ Tây họ lại gọi điện, sáng mai có mấy trăm học sinh đến tham quan, ban tổ chức muốn mời em đến “ngồi nặn”. Nhiều tháng, em ở lỳ trên Công viên nước!”. Cười hí hí rất hồn nhiên, Tiên lại kể: “Hôm Festival Cầu Long Biên vừa rồi, em ngồi nặn ở góc cầu cũ, trên bàn đặt một cái danh thiếp (các-vi-dít) ghi tên em Đặng Văn Tiên, làng tò he Xuân La, hiệp hội làng nghề… Có một bác đi qua bảo, tớ mê tò he đã nửa đời người. Nhưng đúng là lần đầu tiên có người nặn tò he in các-vi-dít. Rồi ông xoa đầu em, làm nghề gì cũng phải say, cũng phải chuyên sâu, cháu ạ. Một nghề cho chin còn bằng vạn chin cái nghề”.
Đề nghị khó hiểu của hai nữ sinh bên Bờ Hồ:
“Kỉ niệm nhớ nhất của em là, từ hồi em bắt đầu đi nặn tò he đến giờ, có một chuyện em bao giờ quên được, mà cũng bất ngờ cơ. Hôm ấy, đang ngồi nặn thì có 2 cô sinh viên đến nói thầm: “anh ơi anh nặn cho bọn em một thứ này được không?”/ “Được chứ, nhưng nặn cái gì?”/ “Nặn cho bọn em một cô, em nói thật đấy, bọn em mua thật, sẽ trả nhiều tiền”/ “cô gì”/ “Cô gái… khỏa thân, không mặc một cái gì cả”/ “Cái này thì không được, anh mà nặn, người ta biết là bị bắt, mà bọn em nặn để làm gì” (cái này thì em biết vì đã có người làng Xuân La, khi đáp ứng yêu cầu của một khách hàng trong Sài gòn, đã bị công an mời về đồn!)/ “bọn em có việc, không sao đâu, anh cứ nặn đi, bọn em đứng quây quanh che cho anh nặn”.
Đúng là bất ngờ thật, nặn ma nặn quỷ thì bình thường, mà bọn con trai nó bảo “nặn thế” thì cũng không ngạc nhiên lắm, đằng này lại là hai cô sinh viên rất nõn nà. Em vẫn nhớ rõ hôm ấy ngồi ở Bờ Hồ Hoàn Kiếm mà. Âu cũng phải như thế mới là cuộc sống, anh nhỉ?”
Mơ về một mét vuông đặt thúng bột trong công viên
Tiếng cười của Tiên thơ ngộ như chú Tễu mà em vừa nặn. Em còn nặn Tễu bằng bột cho phường rối nước phục vụ khan thính giả. Nặn cả mâm ngũ quả phục vụ người đi chùa. Nặn món quà chúc phúc cho người ta xuất khẩu ra Nhật và Hàn Quốc (gồm một bao diêm, một quả ớt, một bông hoa bé xíu). Càng làm, Tiên càng trăn trở với tò he - báu vật cha ông để lại. Em vào hiệp hội làng nghề Việt Nam để mong kết nối tua du lịch đi từ cụm di tích, văn hóa trung tâm Hà Nội, xuống với các nét son văn hóa rối nước, sơn mài (huyện Thường Tín), tới làng khảm trai Chuôn Ngọ, tò he Xuân La (Phú Xuyên), tới làng trống Đọi Tam (Hà Nam) về cố đô Hoa Lư (Ninh Bình)… Em đặt mua đất sét rẻo, bột công nghiệp ở nước ngoài để làm một thứ nguyên liệu nặn tò he bền vững, lành lẽ, trẻ em có thể chơi con giống suốt nhiều năm. Em mang mẹt tò he của mình lên phố Hàng Mã, Lương Văn Can (nơi tràn ngập đồ chơi Trung Quốc) để ngồi, để kiêu hãnh thấy rằng, ở “kinh đô” đồ chơi thời mới đó, trẻ em vẫn xúm đen xúm đỏ, người lớn vẫn mê mải với tò he Xuân La quê Tiên như thường. Tiên nỗ lực chau dồi tay nghề, rồi em được mời vào Festival Huế nhiều lần, mời đi Hải Dương, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Giang, Nghệ An, Sài Gòn để biểu diễn đặc sản quê mình. Em tự hào và xúc động lắm, khi nhiều người cảm phục cái tài hoa của mình, mà mời về nhà ăn bữa cơm đạm bạc, cho ngủ nhờ để ngày mai tiếp tục phục vụ festival. Em cũng lại đau buồn, khi mà suốt ngày bị công an, bảo vệ người ta đuổi như đuổi tà. Có khi bảo vệ nhà trường đuổi Tiên chạy cả cây số với mẹt bột tung tóe bôi màu khắp một con ngõ, trong khi trống vào trường rồi mà em học sinh ấy vẫn chạy theo, “anh nặn cho em một con mèo con vừa đỏ vừa… trắng”, Tiên đã xúc động không lấy tiền của cậu bé. Tiên đã 2 lần viết đơn lên Ban quản lý Hồ Hoàn Kiếm (Hà Nội) để xin được một chỗ ngồi nặn tò he phục vụ du khách, nhưng chưa bao giờ nhận được hồi âm. “Sao ở Hà Nội, nhiều quán bia mọc san sát, mỗi quán cả trăm mét vuông, ô tô đã tắc cả đường thì được, trong khi người nặn tò he làm đẹp phố phường như bọn em, chỉ cần chưa đầy 1m2 để đặt mông và đặt cái mẹt, thì họ đuổi bắt ghê thế. Có lần, dịp Nghìn năm Thăng Long vừa rồi, em với ông thầy đồ áo the khăn xếp, bút lông, mực tàu đổ tung tóe bị bảo vệ họ đuổi chạy như vịt, buồn muốn khóc”.
Trước khi chia tay, tôi hỏi Tiên: em đã làm nhiều việc, đã quyết tâm cho ngày tò he có một chỗ đứng xứng tầm trong lòng người ta, bây giờ cho em thoải mái mơ ước, em sẽ mơ 5 năm nữa tò he đi về đâu? Thật bất ngờ, người trẻ định lập trang web, kết nối thế giới với cái làng to he trấn Sơn Nam Thượng kia trả lời thật giản dị: “Em ước mơ, mỗi công viên người ta có một góc rộng 1m2 cho người nặn tò he. Chúng em chỉ làm đẹp, làm cuốn hút hơn cho các điểm vui chơi của nước mình mà thôi. Bây giờ, cả Hà Nội chỉ có mấy chỗ như Thiên đường Bảo Sơn, Công viên nước Hồ Tây, Bảo tang Dân tộc học Việt Nam là… cho phép người nặn tò he có thể vào “ngồi nặn” phục vụ du khách. Em sợ cảm giác bột màu tung tóe, em cùng các ông đồ lạch bạch bỏ chạy trước sự lùa đuổi của bảo vệ, công an lắm. Các em bé, học sinh và sinh viên, nhiều khi họ rất ngưỡng mộ những người có “bàn tay phù thủy” như em - nay nhìn cảnh em bị rượt đuổi đó, các em sẽ nghĩ gì? Mà em đã làm gì sai ngoài cái việc đi nặn tò he mang lại niềm yêu thích cho người đời đâu nhỉ?”.
Chia tay tôi, Tiên không cười như mọi bận.
Đ.D.H












