Khi 26.000 khẩu súng tự chế cùng bị “bắn rụng”
Sunday, September 16, 2007 4:26:17 PM
http://laodong.com.vn/Home/phongsu/2007/9/54772.laodong
Khi 26.000 khẩu súng tự chế cùng bị “bắn rụng”
Phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng
Mùa mưa Điện Biên phủ, năm 2007, đành khỉ hoang loé choé về tận cánh đồng Mường Thanh bẻ ngô non rồi tiện chân khênh cả bí đỏ khệnh khoạng hò nhau trốn vào rừng. Thưa thớt, bà con còn gặp cả gấu chó gấu ngựa gù lưng đi lại đen nhức giữa hoang vu. Đó là một sự thực, dẫu hơi lạ nhưng có thật, rất mừng rỡ và nhân bản. Có được điều đó, cái cốt tử là nhờ cơ quan chức năng đã ráo riết vận động bà con tự giác giao nộp súng tự chế, đem lại sự bình yên cho bản làng, để những cánh rừng thôi khét mùi thuốc súng. Chúng tôi lên Điện Biên, khi mà lực lượng đặc nhiệm của tiểu đoàn cảnh sát cơ động đang được lệnh làm ngày làm đêm phá huỷ hơn 26.000 khẩu súng tự chế. 26.000 nòng súng và phụ kiện được giám sát chặt chẽ suốt bảy tám trăm cây số đường trường, về tận Công ty gang thép Thái Nguyên nấu chảy…
Khi 26.000 khẩu súng tự chế cùng bị “bắn rụng”
Phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng
Mùa mưa Điện Biên phủ, năm 2007, đành khỉ hoang loé choé về tận cánh đồng Mường Thanh bẻ ngô non rồi tiện chân khênh cả bí đỏ khệnh khoạng hò nhau trốn vào rừng. Thưa thớt, bà con còn gặp cả gấu chó gấu ngựa gù lưng đi lại đen nhức giữa hoang vu. Đó là một sự thực, dẫu hơi lạ nhưng có thật, rất mừng rỡ và nhân bản. Có được điều đó, cái cốt tử là nhờ cơ quan chức năng đã ráo riết vận động bà con tự giác giao nộp súng tự chế, đem lại sự bình yên cho bản làng, để những cánh rừng thôi khét mùi thuốc súng. Chúng tôi lên Điện Biên, khi mà lực lượng đặc nhiệm của tiểu đoàn cảnh sát cơ động đang được lệnh làm ngày làm đêm phá huỷ hơn 26.000 khẩu súng tự chế. 26.000 nòng súng và phụ kiện được giám sát chặt chẽ suốt bảy tám trăm cây số đường trường, về tận Công ty gang thép Thái Nguyên nấu chảy…
“Tước” gần 2,6 vạn khẩu súng mà không cần… nổ súng
Trung tá Đào Thị Hải, Phó Phòng PC13 (Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội), Công an tỉnh Điện Biên bấm di động gọi cho “thuộc cấp” của mình là Thiếu tá Lê Tiến Đạt để hỏi về kết quả chuyến “áp tải” 26.000 khẩu súng đi nấu thành thép nung chảy quý giá. “Hết 5 triệu tiền thuê nhóm lò nung thép, hết 11 triệu tiền cước để hai cỗ đại xa vận chuyển hơn 2 vạn cái nòng súng từ Mường Trời về Công ty gang thép Thái Nguyên” - chị Hải gập máy di động, quay ra nói với tôi: “Dân mình rất là thuần. Chúng tôi càng xúc động vì cái nếp thuần đó của bà con mình hơn, sau cuộc ra quân thu súng rầm rộ vừa qua, thuần lắm đồng chí ạ”. Riêng cuộc vận động chỉ kéo dài trong hơn 1 năm vừa qua, tỉnh Điện Biên thu khoảng 26.000 khẩu súng các loại, trong đó chủ yếu là súng tự chế - cộng với đó là 1.803 cái nòng súng (để chuẩn bị cho ra lò những khẩu súng mới) và nhiều đạn, thuốc nổ, kíp nổ, hạt nổ. “Tước” hàng vạn khẩu súng của những người yêu quý và gắn bó với những khẩu súng “gia bảo” từ trong dòng máu vạn thuở, từ trong mây khói của núi non như thế mà không phải nổ một tiếng súng “uy hiếp” hay “phô trương thanh thế” - kể cũng là một câu chuyện cảm động về ý Đảng lòng dân trong thời mới ở Điện Biên. Hơn hai vạn khẩu súng bị tiêu huỷ một cách công phu vô tiền khoáng hậu - đây cũng là con số chính thức mà UBND tỉnh Điện Biên thống kê trong một công văn có chữ ký, dấu triện để báo cáo lên Trung ương.
Tiểu đoàn cảnh sát cơ động, Công an tỉnh Điện Biên được huy động để tiêu huỷ 26.000 khẩu súng tự chế mới thu hồi.Đúng là dân mình “thuần” và có ý thức nghe theo điều hay lẽ phải của người cán bộ thật sự. Câu hỏi đặt ra: cả tỉnh Điện Biên, có gần 500.000 người, bà con thuộc 21 dân tộc; trong đó hơn 40% là người Thái, gần 30% là người Mông; mà chỉ trong 1 năm vận động, số súng thu hồi (lưu ý là mới vận động chứ không hề cưỡng chế) mà đã có tới 26.000 khẩu súng được giao nộp – như thế để thấy số lượng súng trong dân tồn tại với “mật độ” khủng khiếp tới mức nào. Sử dụng súng tự chế đã trở thành một tập quán ăn sâu bám rễ nhiều đời trong bà con vùng cao Điện Biên. Nhiều gia đình, có bao nhiêu con trai thì nhất thiết phải có… bấy nhiêu khẩu súng. Súng đôi khi trở thành vật trang trí, thành vũ khí tự vệ thiết yếu, thành công cụ đi săn thú kiếm ăn, thành thứ tạo nên bản lĩnh đạn ông của mỗi người cũng như sự bề thế của mỗi gia tộc. Ra khỏi nhà là xách súng theo, nhiều anh bảo, vợ thì tao xa được chứ, súng thì tối ngủ cũng phải gối đầu giường. Nhiều người từng có nếp nghĩ: nếu đàn ông vùng cao, ai không khoác khẩu súng oai dũng đi như một chiến binh của rừng thẳm, thì ngậm khèn lá đi chọc sàn chả con gái nào nó thèm “tiếp nhận”. Lúc một đứa trẻ sinh ra, theo phong tục của nhiều cộng đồng, cần phải nổ súng kíp đón mừng; lúc một người hết cõi sống, cũng phải nổ 21 phát súng báo cho bà con xa gần biết, rồi súng ấy lại tiễn hồn người ta về trời. Tiếng súng, từng hiện diện như cái dây khau cát, như dòng suối trắng muốt buông tự mây mù xuống vực sâu để linh hồn người ta nương theo bay về Trời.
Sự tồn tại cả kho hiểm hoạ (súng tự chế) khổng lồ ở nước ta hiện nay có nhiều nguyên nhân. Nhưng nguyên nhân chính là chúng ta vẫn cho phép lưu hành súng tự chế (chưa hề cấm!), cho nên cuộc “thu súng” này vẫn mang tên gọi (ý nghĩa) là “vận động tự giác giao nộp” súng, chứ không phải là tịch thu hay bắt bớ gì.
Diễn biến như sau: ngày 11/12/1964, Chính phủ ban hành Nghị định 175/CP về Quản lý vũ khí quân dụng và vũ khí thể thao quốc phòng. Bấy giờ Lai Châu (cũ) có 45.000 khẩu súng tự chế, và cơ quan chức năng không thể quản được làn sóng súng tự chế từ nước ngoài “thẩm lậu” vào các bản làng, đặc biệt là bà con tự sản xuất súng rồi tự… bắn. Những hậu quả đáng tiếc đã xảy ra không chỉ ở Lai Châu.
Tiếp đó, ngày 12/8/1996, Chính phủ đã ban hành Nghị định 47/CP về việc tăng cường quản lý chặt chẽ lĩnh vực kể trên. Tuy nhiên, hơn 10 năm qua, tình hình súng tự chế vẫn đang quá “nóng” với những hậu quả không thể kiểm soát nổi. Trước tình hình đó, chiến dịch vận động bà con giao nộp súng tự chế đã diễn ra quyết liệt ở nhiều địa phương. Và, nhiều người am hiểu tình hình đều cho rằng: việc cấm lưu hành súng săn các loại là một việc nhất thiết phải sớm thực thi.
Trên đây là vài nguyên nhân dễ hiểu dẫn đến những hệ luỵ tang thương mà súng tự chế gây nên. Theo thống kê chính thức được công bố của tỉnh Điện Biên, trong vòng 10 năm từ 1996-2006, cơ quan chức năng đã cấp phép cho sử dụng tới 45.000 khẩu súng săn tự chế. “Lũ” súng này đã gây ra ít nhất 29 vụ săn bắn thú bắn nhầm vào người; 26 vụ tai nạn do dùng súng bất cẩn; 11 vụ sử dụng súng tự chế để gây án mạng. Các cuộc “rà soát” đã thu ít nhất 2.500kg thuốc nổ, 5.600 chiếc kíp nổ. Đây chỉ là những con số vô hồn, nếu như chúng ta chưa từng thấy cả đoàn mấy chục thanh niên lốc nhốc lội rừng săn bắn thú. Có anh đi tàn cả một đêm để săn con hoẵng, mờ sáng, thoáng trông thấy hoẵng nhô sừng lên khỏi đám cỏ tranh đã nổ súng, không ngờ bắn chết chính bố đẻ của mình cũng đang dốc sức cùng con trai bủa vây con mồi béo. Có khi hai anh em ruột bắn chết nhau, chỉ vì, trong đêm, ông em cứ nghĩ rằng cái đèn pin trên trán anh mình là cái mắt con hổ. Người ta đến đưa tang, ai cũng suýt xoa sao thằng ấy bắn giỏi thế, bắn đạn ghém từng khúc sắt to như đầu đũa cắt ngắn, đạn xuyên qua đèn pin, nện vào giữa trán anh trai! Vụ việc thì rất nhiều, nhưng có lẽ khó ai quên được những trường hợp mà “bắn chết bạn bè” vừa bi vừa hài, nó gợi cho chúng ta nỗi buồn khôn tả về tình trạng “trao” những cây súng “sát thủ” vào tay những kẻ thiếu hiểu biết. Như thế thì có khác gì đưa súng thật vào tay lũ trẻ hiếu động?
Tôi cũng đã thắc mắc từ lâu: trong khi, chúng ta lên án tình trạng có thể mua súng như mua rau cỏ ở nhiều nước phương Tây, trong khi, bất kỳ ai và ở đâu, nếu tàng trữ súng quân dụng trái phép đều có thể bị truy tố - thì ở rất nhiều nơi trên đất nước ta, khẩu súng cũng có thể nổ, có thể bắn chết một người và nhiều người y như những khẩu súng khác (súng tự chế) lại được sử dụng tràn lan. Mỗi người một hoặc vài khẩu tuỳ thích. Rồi cái gì đến đã đến: tại Điện Biên, Thào A Dua ở bản Củng Xa, Mường Mùn, Tuần Giáo đã dùng súng tự chế đi săn, bắn nhầm anh Thào A Chứ làm cho anh Chứ chết ngay tại chỗ. Cũng ở Tuần Giáo, tại xã Quài Cang, anh Cà Văn Pâng bắn chết anh Bạc Cầm Thăm trong trường hợp tương tự. Ngay trong lực lượng công an tỉnh Điện Biên, anh Hà Ngọc Thao (công an huyện Điện Biên, sau này được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân) cũng đã bị đối tượng bất ngờ dùng súng kíp sát hại khi đang cùng đồng đội tổ chức vây ráp trong một chuyên án lớn. Nhiều vụ án đau lòng, với những một hoặc nhiều cái chết thảm bởi làn đạn súng của súng tự chế, mà nguyên nhân mấu chốt nằm ở chỗ chúng ta đã trao quyền cầm súng một cách hợp pháp (hoặc tạo hành lang pháp lý cho việc sử dụng súng tràn lan) cho những kẻ thiếu hiểu biết, manh động, lòng lang dạ sói.
Công tác vận động thu hồi súng tự chế tại tỉnh Điện Biên đã được thực hiện rất là… mưu mẹo.
Lực lượng quản lý vũ khí vật liệu nổ, công an khu vực, công an cắm xã được lệnh ráo riết đi yêu cầu các tổ chức cá nhân có đăng kí sử dụng súng chấp hành lệnh kiểm kê định kỳ. Khai báo để… quản lý và tiếp tục cấp phép thôi mà. Tất nhiên, bà con sẽ khai báo rất thành khẩn, vì… chả mất gì. Khi có số liệu, có các bản đăng ký, cam kết của người đang “sở hữu” các khẩu súng rồi. Một chiến dịch vận động rầm rộ bắt đầu với việc thành lập một Ban Chỉ đạo cuộc vận động toàn dân giao nộp vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ tỉnh Điện Biên do 01 đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban, hai phó ban là Lãnh đạo Công an tỉnh, Bộ Chủ huy quân sự tỉnh; các uỷ viên là Biên phòng, Phụ nữ, Đoàn Thanh niên tỉnh.
Cuộc ra quân rộng khắp với 1.530 buổi sinh hoạt, với 75.300 lượt người tham gia trên tất cả các huyện, thị, thành phố - ai cũng ký cam kết tuân thủ cuộc vận động thu hồi vũ khí vật liệu nổ, đồng tố giác những kẻ ngoan cố, nỗ lực vận động gia đình dòng họ chấp hành chủ trương chính sách quan trọng của Đảng, nhà nước. Đối tượng mà chiến dịch “giác ngộ” bà con trước sự đáng sợ của súng tự chế tràn lan đã đặc biệt hướng tới những người có uy tín trong cộng đồng như: già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ.
Kết quả là: không chỉ thu giữ được hơn 3 vạn khẩu súng (và nòng súng) với nhiều bom, mìn, lựu đạn, các vật liệu tự chế súng đạn, Ban Chỉ đạo còn tâm huyết kiến nghị cơ quan cấp trên cần nghiên cứu ban hành văn bản cấm tàng trữ sử dụng súng săn các loại, thì mới mong ngăn chặn triệt để những hậu quả đáng tiếc do súng tự chế gây ra!
Một khẩu súng tự chế được coi là rất đẹp, là đồ “gia bảo” trong gia đình người Mông, nay bà con tự nguyện nộp lại cho lực lượng công an tiêu huỷ.Cán bộ đồng ý giữ lại súng để làm… ma cho người chết!
Chủ trương vận động bà con giao nộp súng tự chế cho cơ quan chức năng đi nấu sắt vụn giờ đã mang tính quốc gia, tức là nhiều tỉnh thành cùng ra quân. Sơn La, Lào Cai cùng một số tỉnh miền núi nổi tiếng với tập quán dùng súng tự chế “dày đặc” cũng đã thu cả vạn khẩu súng tự chế đem tiêu huỷ. Nhưng chưa có tỉnh nào thu được nhiều súng (26.000 khẩu) với cách thực hiện bài bản và hiệu quả như Điện Biên.
Súng tự chế đã tàn sát môi trường, bắn tiệt thú rừng; đã gây nên những bất ổn lớn về an ninh trật tự như khi người ta vô tình hay hữu ý bắn chết nhau. Tình hình chính trị ở ta ổn định, các thế lực thù địch không còn “cơ” tác yêu tác quái; tuy nhiên, khi súng tự chế còn tràn lan, ý đồ xấu của bọn phản động còn nung nấu, chúng ta cũng phải đề phòng bọn chúng kích động “tập hợp” vũ khí (là hàng vạn khẩu súng tự chế), lực lượng, “xưng vương”, “lập quốc” như những gì mê muội, lầm lạc mà trong quá khứ mà chúng ta từng phải đối phó. Trước tình trạng bức xúc đó, dư luận và cơ quan hữu trách đã rất đau đầu với việc quản lý hàng vận khẩu súng tự chế kia. Trước, chúng ta có quy định cấp phép cho sử dụng súng tự chế. Bà con khai báo, có thể đi mua nòng súng ở bên kia biên giới (họ bán như bán tre nứa ngoài chợ) hoặc có thể dựng giàn khoan nòng súng bên suối. Chỉ bằng một cái thuốn sắt, họ kẽo kẹt khoan cả hai ba tháng trời để cái xà beng đặc thép biến thành cái nòng súng kíp kỳ khu. (Nghệ thuật này người Mông làm rất giỏi. Giỏi đến mức, vừa qua, Bảo tàng dân tộc học Việt Nam đã phải trân trọng tổ chức đón các nghệ nhân khoan nòng súng kíp từ Mường Lống, miền tây xứ Nghệ ra Hà Nội trình diễn cho người trong và ngoài nước xem cái cách để xà beng biến thành nòng súng dài thượt, bắn “bách phát bách trúng” (vì đạn dia thì bắn trượt cũng thành… trúng) như thế nào. Hiện nay, gian nhà, dụng cụ và không gian, những bức ảnh về cuộc trình diễn khoan nòng súng duy nhất trong lịch sử ngàn năm của thủ đô Hà Nội vẫn còn đó, trong khuôn viên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam - đường Nguyễn Văn Huyên, quận Cầu Giấy). Trở lại chuyện chế tác súng kíp. Khoan nòng suốt 2 tháng trời xong, bà con ta cứ việc đục đẽo lấy báng súng, làm cò, mua sắt, mua bi và thuốc nổ về mà nhồi đạn. Rồi bắn ầm ầm. Bắn xong, lên công an huyện làm thủ tục đăng ký sử dụng súng tự chế để bảo vệ nương rẫy trước thú rừng, tự vệ, đi săn cải thiện đời sống… Huyện cấp phép sử dụng, có mẫu đăng ký cấp phép do Bộ Công an cấp hẳn hoi. Và, hậu quả là, lúc cao điểm, tỉnh Lai Châu (cũ) có tới 45.000 khẩu súng tự chế. Đó chỉ là phần nổi thống kê được, phần với những công dân nề nếp đi đăng ký sử dụng khẩu súng với súng và đạn đều do mình làm ra. Nhắm mắt cũng biết, giữa bản rừng heo hút, việc không đăng ký mà vẫn xách súng đi bắn gấu, bắn hươu nai và cả bắn… nhầm vào bạn săn là chuyện bình thường.
Cùng với sự bát nháo của thế giới súng tự chế trong khắp các hang cùng bản vắng như thế, đã một thời, hình ảnh người đàn ông dân tộc Thái, dân tộc Mông, dân tộc Hà Nhì… không thể thiếu khẩu súng tự chế, họ kiêu hùng đi trên sườn núi. Hình ảnh chàng kỵ sĩ người Mông dũng mãnh như con đại bàng núi, cưỡi trên con ngựa Mèo gầy guộc phi băng băng trên đá tai mèo đã ám ảnh nhiều người qua văn học, phim ảnh. Khi người Pháp tấn công lên cao nguyên Đồng Văn, lịch sử không thể quên những chiến tướng người Mông dùng súng kíp (súng tự chế) bắn tỉa tài tình từ trên cổng trời xuống. Họ bắn chính xác, bắn bằng đạn dia thì bắn trượt cũng thành trúng, có khi một tiếng nổ sát thương nhiều người. Đặc biệt, gió lớn và sương mù đã ngay lập tức thổi bay thuốc súng, sương mờ ngay lập tức khoả lấp đi anh chàng đang hằn dáng vệ quốc lên đỉnh trời biên ải kia. Kể cả pháo ở dưới có nhìn theo khói súng đối phương mà vãi đạn cũng… chịu chết. Hình ảnh ấy đã đi vào vĩnh cửu trong tác phẩm (tiểu thuyết và phim): Phía sau cổng trời/ Cuộc chiến đấu bảo vệ Đồng Văn (tác giả tiểu thuyết là nhà văn Ngôn Vĩnh).
Nhưng, bây giờ không còn giặc giã, không còn cảnh hổ vồ gấu tát người giữa rừng già nữa, cũng không còn nhiều thú để săn nữa (việc săn bắn thú bây giờ là trái với luật pháp) - và đó là lúc chúng ta cần hiểu rằng cái hình ảnh vạm vỡ về những con đại bàng núi xách súng đi giữa mây mù kia chỉ nên còn trong tiểu thuyết và phim ảnh. Nó là hình ảnh đẹp, cũng như cái thời trứng nước của cách mạng giữa chiến khu Việt Bắc, cái thời ba tư chiến sỹ Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nhóm lên ngọn lửa vệ quốc giữa “rừng che bộ đội rừng vây quân thù” kia, các bậc tiền bối của chúng ta vẫn phải dựa vào sức mạnh của súng tự chế đấy chứ. Chúng ta trân trọng câu chuyện lịch sử oai hùng ấy. Còn bây giờ là lúc, vì bình yên cuộc sống, vì bình yên cho những cánh rừng, ta đi vận động giao nộp súng tự chế để tiêu huỷ.
Xuất phát điểm của chiến dịch cực kỳ ráo riết thu hồi súng tự chế ở Điện Biên, theo anh Quốc Hương, Phó trưởng Công an huyện Điện Biên, nơi làm tốt nhất công tác này tốt nhất trong toàn tỉnh, là chính từ những vụ án mạng quá dã man ở huyện nhà. Hai thợ săn thất thểu trở về từ bìa rừng, gặp 3 người bên kia biên giới cõng cái tivi đi qua, họ trấn lột rồi xả súng “giết người diệt khẩu”. Vụ án quá phức tạp, người bị hại lại cả nhóm là người nước bạn. Đến lúc công an các cấp vào cuộc điều tra những đối tượng “khả nghi”, tức là có sử dụng súng tự chế, thì ai nấy giật mình: cả bản, cứ đàn ông đến tuổi tán gái là ai cũng cố sắm cho mình một khẩu súng tự chế. Dù rất rành rẽ cơ sở, nhưng các điều tra viên cũng phải sửng sốt trước thực tế chua xót và hiểm nguy của súng tự chế. Phá án xong, họ trở về và kiến nghị với thượng cấp: phải tiễu trừ súng tự chế để diệt trừ hiểm hoạ mất trật tự an ninh, tàn phá môi trường. Nghe nói, công an cơ sở đã tham mưu cho Công an tỉnh ra chiến dịch “bắn rụng” súng tự chế. Công an Điện Biên đã làm rất bài bản, trong nhiều chiến dịch rồi, Trung ương mới có chỉ thị ra soát thu hồi súng tự chế như hiện nay.
Hoá ra công tác phá huỷ những khẩu súng tự chế phải cần đến lực lượng cảnh sát cơ động với các chuyên gia vật liệu nổ lừng danh. Họ làm việc rất vất vả!Phải nói rằng, chỉ bằng vận động, mà thu gom được 26.000 khẩu súng tự chế đem tiêu huỷ vĩnh viễn, là một kỳ tích. Ai đã tận mục cả những khu nhà kho chất ngất toàn súng tự chế thì mớ cảm nhận hết ý nghĩa này. Có khẩu súng bóng nước mồ hôi, trên đó còn khắc tên tuổi dòng họ nhà người ta, có khẩu súng mà ai cũng biết, ra “chợ đen” hét giá vài triệu đồng, những kẻ yêng hùng có máu “sát thú” (trái pháp luật) sẵn sàng mua ngay. Nhưng cái tính đáng yêu của bà con vùng cao là vậy, khi đã ưng cái bụng rồi thì bảo đốt nhà cũng đốt, bảo lên rẫy đào những khẩu súng mà mới hôm qua, vì tiếc của, họ vừa nhét trong kẽ đá giấu cơ quan chức năng họ cũng làm. Đem súng về rồi xin lỗi cán bộ đàng hoàng. Giao nộp súng xong, có người quay đi lầm lũi, không dám nhìn lại “anh bạn súng săn” từng bao đời gắn bó với dòng tộc nhà mình thêm một lần. Họ tiếc xót lắm chứ.
Từ đó đặt ra vấn đề: chúng ta cần tôn trọng phong tục của bà con, để bà con “ưng cái bụng” mà làm theo chủ trương đúng của nhà nước. Thậm chí đã có chuyện, cán bộ phải đợi bà con làm lý (làm lễ) báo cáo với tổ tiên rồi mới trịnh trọng gạt nước mắt trao súng cho uỷ ban xã, cho công an đem đi tiêu huỷ. Xót lắm chứ. Có chuyện: Mường Nhé là huyện hẻo lánh, rộng lớn bậc nhất của tỉnh, có khoảng 4.000 khẩu súng tự chế trong dân. Bà con người Mông hầu hết mới di cư đến… phá rừng lập bản, họ tiếc súng lắm. Cán bộ phải vận động bà con tố giác các nhóm người giấu súng trên nương rẫy, rồi cùng đi điền dã khám xét các hang núi khả nghi. Khi bà con đã tin vào ý tốt của cán bộ trong việc thu súng, người có uy tín trong cộng đồng khảng khái hứa sẽ vận động các nhóm người làm nương trên núi quá xa (mà cuộc vận động chưa tới) về ngay để nộp súng. Gần hai trăm khẩu súng sắp được tiếp tục giao nộp, đến nay, đã có 3.800 khẩu được đưa từ Công an huyện Mường Nhé đi tiêu huỷ.
Lại có chuyện: Chủ tịch xã lên gặp Ban chỉ đạo thu hồi súng tự chế đề nghị: phải giữ lại tại nhà uỷ ban chúng tôi ít nhất mỗi bản một khẩu súng tốt nhất. Để bắn báo cho cộng đông biết khi có người chết, bắn tống tiễn vong linh người bà con khi họ lên đường về Trời. Không có không được. Trung tá Đào Thị Hải nhỏ nhẹ: “Mình phải tôn trọng bà con mình chứ. Thôi thì mỗi nhà uỷ ban xã cho phép giữ lại 3 khẩu để làm “lý” vậy. Chứ xã có hơn 20 bản, mỗi bản một khẩu thì có mà mỗi uỷ ban lại có một cái kho súng nữa à?”. Anh cán bộ cười hề hề nhận ra điều phi lý, “cán bộ nói thế cũng đúng cái… mồm đấy”, thế là họ cũng ưng cái bụng. Và, việc người đi thu súng đồng ý để cho súng tiếp tục tồn tại hợp pháp trong dân cũng là một tình huống phát sinh thú vị, cảm động – mà thiết nghĩ, nếu biết vì bà con mình, chả ai nỡ nên từ chối… Tuy nhiên, thủ tục cũng chả đơn giản, lúc đầu công an cắm xã báo cáo tình hình có “vướng về mặt phong tục” bắn súng tiễn hồn người quá cố lên “thượng cấp”; phòng PC13 tiếp nhận, tham mưu cho Ban Giám đốc Công an và Ban chỉ đạo “thu súng” xin duyệt kế hoạch “giữ lại súng tại các UBND xã”. Bà con phải cam kết, khi “tang gia bối rối”, mượn súng về, làm “lý” xong, phải mang súng ra Uỷ ban trả tại “kho súng làm lễ tang” ngay lập tức.
Khi tiến hành thu súng tự chế đại trà, có những “đề xuất” của bà con khiến anh chị em công an cũng phải từ chối, nhưng mà từ chối khéo tránh cho bà con hiểu lầm. Khi rất nhiều ký kiến ở thôn bản cho rằng: súng là tài sản của bà con, bà con bỏ tiền ra mua nòng về, hoặc bỏ tiền ra khoan nòng cả tháng trời cật lực ngoài bờ suối (bao nhiêu công của vào đó) rồi nhà nước cấp phép cho sử dụng súng ấy chứ chúng tôi có làm sai đâu, nay nhà nước vận động giao nộp thì cũng phải hỗ trợ tiền “đền bù” cho bà con chứ. Có người lại cãi, nhà nước thu để bảo vệ rừng và thú rừng, bảo vệ cho chính bà con mình khỏi chết vì bắn nhau, bắn nhầm; để tránh khỏi cái hoạ dùng súng giết người cướp của - những điều ấy là phục vụ cho đời sống của chính bà con mình, dòng họ mình, thôn bản mình. Mình phải tự nguyện chứ. Có lúc cán bộ công an phụ trách xã phải nói khó: tiền cho riêng nhà bác thì có khi chúng cháu bỏ tiền túi ra biếu bác được, vì muốn động viên bác rằng bác làm rất tốt. Cũng muốn cảm ơn bác đã tận tuỵ giúp chúng cháu trong công việc này. Nhưng, ngộ nhỡ cả vạn người đi nộp súng họ cùng đòi “đền bù” thì sao, thì lấy đâu ra. Nhà nước vận động bà con giao nộp mà không có kinh phí cho người có súng đem nộp. “Sự thực thì thỉnh thoảng anh em cũng trích quỹ mua vài gói quà động viên trưởng bản, trưởng dòng họ nào tích cực vận động bà con giao nộp súng. Nhiều khi đến nhà nào nghèo quá, cũng có gói quà gọi là của ít lòng nhiều, bày tỏ tình cảm chân thành với người ta. Cũng phải mềm dẻo!” - một người trong ban “tước vũ khí” súng tự chế tiết lộ.
“Bếp núc” về một vụ tiêu huỷ súng đạn độc nhất vô nhị
Việc tiêu huỷ 26.000 khẩu súng mới là một bài toán mà anh chị em chưa bao giờ gặp phải. Một kỳ công! Việc thất thoát súng hay các bộ phận của hàng vạn khẩu súng, đặc biệt là hàng tấn thuốc nổ, bom mìn tự chế ra ngoài là rất nguy hiểm. Chính vì thế, cả một Hội đồng tiêu huỷ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ thu hồi được gồm nhiều thành viên quan trọng, do Thiếu tướng, Giám đốc Công an tỉnh, đồng chí Đậu Quang Chín làm Chủ tịch đã được thành lập. Phải hết sức thận trọng, mọi sơ xuất đều có thể gây tai hoạ lớn. Bởi đây là vũ khí vật liệu nổ, sai một ly/ đi một dặm. Bởi nữa, chiến dịch vận động giao nộp và tiêu huỷ súng tự chế được xác định trước là vô cùng khó khăn, vất vả như húc đầu vào núi lớn, nên thành quả của đợt 26.000 khẩu súng cùng nhập kho này là niềm vui quá sức tưởng tượng rồi. Nếu một sơ xuất nhỏ xảy ra, cũng sẽ đem lại tâm lý xấu cho những chiến dịch thu súng tự chế tiếp mãi sau này! Nhất là khi mà, trong quá trình vận chuyển từ các xã, huyện về kho ở tỉnh để chuẩn bị tiêu huỷ, đã có trường hợp lực ma sát làm nóng thuốc súng, làm cướp cò, súng nổ, may mà chưa gây ra hậu quả đáng kể nào. Súng khi thu đều là súng đang sử dụng, thuốc súng, cả các túm đạn ghém vẫn còn nguyên, nhiều khi đụng vào là nổ. Một khẩu nổ có thể gây nên cháy nổ ở cả một kho!
Rút từng cây súng ra khỏi kho, cũng phải nhẹ nhàng thận trọng. Rút từ trên xuống dưới, rút nhẹ, cầm báng súng, đi giật lùi ra khỏi kho súng (đề phòng nó… khạc đạn). Hội đồng tiêu huỷ đã cho mời gần 30 chiến sỹ chuyên sâu về vũ khí và vật liệu nổ của Tiểu đoàn Cảnh sát cơ động – Công an tỉnh về bàn kế “phá súng”. Rất khó. Đốt không cháy, vứt đi đâu cũng có thể bị người ta nhặt về tiếp tục bóp cò gây thảm hoạ. Phải tháo chốt an toàn, vặn cò, vặn lẫy tan tành đi, cắt bằng cưa cưa sắt, vặn bằng kìm cộng lực chuyên dụng. Anh em làm phải có găng tay, có búa có xà beng. Phần báng súng bằng gỗ thì cho anh em đem đi làm củi nấu cơm, tốt rồi, cả kho củi khổng lồ, có thể đun qua 3 mùa mưa phục vụ bếp núc cho cả tiểu đoàn. Đến lúc gỗ nhiều quá, lại toàn gỗ tốt, Ban Tiêu huỷ còn tính kế cho tiểu đoàn cơ động bán đi làm “kế hoạch nhỏ” (!). Riêng cái phần tháo lấy thuốc súng, tháo nòng súng, phá nòng súng làm theo kiểu dùng búa rừu, cưa sắt kỳ quạch như thợ rèn, thợ sắt là không ổn. Càng phá mạnh, thuốc súng càng nóng lên, chắc chắn sẽ nổ. Mỗi lúc moi trong súng ra cả vốc đạn ghém, gồm những viên sắt to bằng đầu đũa, cắt ngắn lổn nhổn trộng với thuốc súng, ai nấy rùng mình. Hội đồng họp đi họp lại, các chuyên gia quyết định phương án chót: phải đem súng đi ngâm nước. Ngâm nước đến đâu, bẻ nòng, đập gỗ, “róc” hết lẫy, cò, chốt, kim hoả các thứ đến đấy - phải làm những thao tác này trước khi thuốc súng kịp khô. Cái việc cõng 26.000 khẩu súng (chưa kể nhiêu công cụ hỗ trợ, súng quân dụng, bom mìn, thuốc nổ khác) từ các địa phương về tổng kho đã quá tốn tiền xe cộ rồi. PC13, đơn vị chủ trì việc này đã phải tức tốc báo cáo với phòng hậu cần cho “ứng trước” 70 triệu để vận chuyển. Giờ lại đòi ứng tiền làm những cái bồn chứa nước mà thợ gò hàn ở Điện Biên nghe xong yêu cầu của khách vẫn cứ ngơ ngơ ngác ngác. Chưa có vật dụng nhôm sắt nào kỳ dị và… giản dị thế. Đó là những cái máng nước lớn, rộng, có chiều dài 2m (vì khẩu súng dài nhất, nòng chỉ dài độ 1,2); cốt có khả năng đựng được… nước. Các chiến sỹ cảnh sát cơ động lực lưỡng nhất được lệnh rút từng cây súng, đi lùi khỏi kho rồi nhúng vào bể nước mới mua. Ngâm vài tiếng đồng hồ trước khi sơ chế phá huỷ. Nhiều cái bể, từng cây súng bị vặt trụi “phụ kiện”, lọc ra lấy cái nòng dài, xếp thành núi ở trước vườn rau tiểu đoàn. Một chiến dịch lạ.
“Dụng cụ đặc biệt”: nhiều chiếc thùng tôn vuông, dài 2m được thửa để phục vụ việc làm ướt thuốc nổ trong các khẩu súng (bìa phải, phía sau tấm ảnh); rồi mới tháo phá từng bộ phận rất kỳ công!Bây giờ mà đứa nào nó đột nhập hay theo dõi mình tiêu huỷ không kỹ, nó lấy 26.000 cái nòng súng đi bán thì… toi đời. Anh chị em lo lắng lắm, có người bàn kế: phải nung thép nòng súng, thứ thép cực tốt này để nó quay lại phát huy tác dụng. Bán cho công ty gang thép Thái Nguyên để họ đúc ôtô, đúc tàu hoả, máy bay (có người nói vui). Một hợp đồng độc nhất vô nhị được hai bên ký kết, không phải là bán “sắt vụn” dạng thép xịn giá bao nhiêu tiền, cũng phải là nung 26.000 cái nòng súng ra thép chảy thì công an phải trả bao nhiêu tiền cho nhà máy mua… than đốt lò – mà quan trọng nhất, phải giám sát nung chảy nòng súng đến phút chót. Thất thoát vũ khí nguy hiểm, mà lại là 26 nghìn cái nòng súng thì có mà… toi. Hai tiên phong của hai mũi chủ công thu súng của phòng PC13, Công an Điện Biên tiếp tục nhận đi tiên phong giám sát việc “nấu nòng súng”, gồm: Trung tá Nguyễn Văn Biên, Đội trưởng đội quản lý các ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự; và cùng đi có Thiếu tá Lê Tiến Đạt (cùng phòng). Công an Điện Biên chi ít nhất 16 triệu đồng cho mẻ nung thép chưa từng có ở Công ty Gang thép Thái Nguyên này.
Cuộc chiến không tiếng súng để “bắn rụng” những kho súng tự chế còn tác yêu tác quái trong dân gian vẫn tiếp tục. Và sẽ còn nhiều mẻ nấu nòng súng thành thép như thế nữa, ở Điện Biên và ở nhiều tỉnh thành khác của nước ta. Hoá ra, chàng trai người Mông, người Thái bỏ ra mấy tháng khoan cái xà beng thành một nòng súng dài thượt để nó được kiêu dũng nhô lên giữa con đường chuột chạy đầu bản - bìa rừng đã là một kỳ tích. Nhưng vận động bà con từ bỏ một tập tục đã bám rễ từ ngàn đời lại còn khó hơn, thu được súng rồi, đến tiêu huỷ súng đạn cũng đâu có dễ dàng gì. Bảo bà con chấm dứt cái nếp nghĩ, nếp sống đã hằn in từ ngàn đời - cái “tập quán” nó cụ thể, rõ ràng, hiển hiện, thân gần như cả đám các chàng trai miệt rừng khoác súng đi nương vừa đứng trước mặt ta đây - là cực khó. Khó nhưng vẫn phải làm, bởi “phẫu thuật” như vậy cũng để cho cuộc sống tốt hơn mà; và cứ làm rồi tự khắc ta và đồng bào ta sẽ thấy quen với nếp nghĩ mới; để rồi đến lúc ta cùng tự trách mình rằng, lẽ ra chúng ta phải chung lưng làm điều đó sớm hơn (thu và tiêu huỷ súng tự chế) để nỗi đau ám mùi thuốc súng kia không còn chảy mãi. Cuộc vận động giao nộp súng, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ trong toàn quốc của chúng ta, trong thời gian qua, đã chứng minh thuyết phục điều này.
Tuy nhiên, lại một bài toán manh nha đặt ra ở nhiều nương rẫy, bản làng. Thu súng rồi, thú không bị tàn sát nữa, khỉ, lợn rừng, cả gấu lớn nó đông đàn dài lũ (sức sinh sản của hoang thú kể trên là theo… cấp số nhân), nó tràn ra phá hoa màu, vặt cả rau quả ở ngay trước hiên nhà bà con. Phải làm gì để xua đuổi thú rừng? Vấn biết bắn thú rừng là sai luật, là nhẫn tâm, là vô cảm với bầu sữa mẹ hoang sơ của trái đất. Nhưng không lẽ cứ trồng ngô, ươm bí để cho thú hoang nó xơi tái tuốt tuột? Nỏ không bắn được nó, chiêng trống, nồi niêu khua doạ không làm nó bỏ chạy? Phải làm sao?
Âu cũng là cuộc sống, các bài toán liên tục đặt ra và chờ lời giải. Hình ảnh người cán bộ, chiến sỹ biết cống hiến, hy sinh vì cộng đồng cũng từ đó mà sáng lên qua từng bài toán. Cộng đồng đi lên phía ánh sáng bình yên sau mỗi độ mỗi bài toán hóc búa kia tìm được đáp số! Trong sự thể muông thú lục tục trở về có quá nhiều niềm vui, nhưng cũng chứa theo nỗi lo nào đó rất thật. Giữa lúc đó, người ta nghĩ nhớ khẩu súng gối đầu giường/ bất ly thân của những chàng trai bản vạm vỡ. Nhớ da diết, nhớ một tí một tí thôi. Nhưng, những cái anh chàng phóng khoáng, đêm đêm hát lượn – ngày ngày bắt chim ơi, không có chuyện mỗi anh lại khoác trở lại một khẩu súng lừng lững để vô tình hay hữu ý gây nên những niềm đau súng đạn nữa đâu đấy nhé. Súng nấu thành nước lõng bõng cả rồi. Tạm thời mất vài bắp ngô, quả bí, còn hơn là mất hàng chục hàng trăm mạng người vì thuốc nổ - đạn ghém, vì tù tội, vì sự mông muội, vì chúng ta cùng nổ súng để nhẫn tâm với thiên nhiên kỳ thú đang chở che Con Người.
Điện Biên 2007
Đỗ Doãn Hoàng













ha binhhabinh # Wednesday, September 19, 2007 6:09:07 PM
Chao than ai
Unregistered user # Monday, July 18, 2011 7:33:46 AM
Đỗ Doãn Hoàngdodoanhoang # Tuesday, July 19, 2011 12:42:45 AM