My Opera is closing 3rd of March

Khi thầy mo trốn khỏi nhà Tiến sỹ Sơn đi bắt nhái…

Khi thầy mo trốn khỏi nhà Tiến sỹ Sơn đi bắt nhái…
Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng

Lâu nay, giới quan tâm đến sự tồn vong của các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể truyền thống ở Thủ đô vẫn thường lắc đầu lè lưỡi mỗi lần thấy Trần Hữu Sơn tất tả từ “ải Bắc” về dự hội nghị hay là “chạy chọt” (theo cách nói vui) cái dự án gì đó. Là Tỉnh uỷ viên, Giám đốc Sở Văn hoá -Thông tin, Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ tỉnh Lào Cai đã lâu lâu; lại giữ rất nhiều chức danh toàn cỡ Ban Chấp hành, với Uỷ viên thường vụ này nọ ở các tổ chức, Hội ở Trung ương; nhưng Trần Hữu Sơn lúc nào cũng tất tả, mướt mải thế. Anh hầu như không bao giờ về Hà Nội bằng ôtô con, tất tật là đi tàu hoả, lý do: “nằm một đêm là tới Thủ đô, sáng ra cắp cặp đi lo công việc. Tối, cắp cặp lên tàu, ngủ một đêm trong phòng máy lạnh về Lào Cai. Sáng ra vẫn họp ở Sở từ lúc 7 giờ được như ai. Đỡ cho cơ quan ít nhất 2 triệu đồng tiền xăng!

Thầy mo ra công viên bắt nhái về nướng

Đi rừng rú sưu tầm toàn những cái độc nhất vô nhị, lắm lúc đi bộ đến rạc cẳng; nhưng Trần Hữu Sơn toàn uống nước trắng, ăn lương khô. Anh “chén” lương khô giỏi đến mức anh em ở Sở Văn hoá Thông tin tỉnh phát “sợ”. Nhiều khi đi công tác về, vợ con tá hoả thấy anh dẫn theo một đoàn toàn các già làng trưởng bản, ăn mặc mỗi người một vẻ hết sức kỳ dị. Anh giới thiệu: đó là các báu vật nhân văn sống (nghệ nhân dân gian-khái niệm này mang tính quốc tế), họ sẽ giúp các nhà văn hoá bảo tồn và phát huy được các giá trị muôn một sắp thất truyền. Nghe “giới thiệu đại biểu”, các thầy mo thầy cúng chỉ biết hì hụi… cười, bởi họ làm gì biết tiếng Kinh? Thế mới có chuyện thật mà như bịa: nửa đêm, một thầy mo trốn khỏi nhà Trần Hữu Sơn ra ngoài Thành phố Lào Cai. Ông đập ngoé cái một con nhái ngoài công viên cỏ rả, rồi đem về góc bếp nhà “Tiến sỹ Sơn” lì lụt nướng ăn cho đỡ nhớ quê nhà.
Hãy nghe Trần Hữu Sơn phân trần về sự cố này: “Lúc đầu tôi nghĩ đơn giản, trước thì tôi thường xuyên đến sống với người ta ở tít các bản làng heo hút được. Giờ làm lãnh đạo, không có thời gian, tôi tính đưa họ về nhà mình. Họ sẽ sống ở nhà mình; họ dịch sách, kể chuyện cho mình nghe, “lương” trả khá hậu hĩnh (so với ở bản). Tôi đi khắp, gặp gỡ giao du với họ, chỉ lo nếu họ chết mất mà mình chưa kịp khai thác… thì gay! Hôm ấy, ngồi với tôi đến khoảng 9giờ đêm, ông cụ người La Ha bảo: xin phép mình phải đi có việc! Thế là ông ấy ra công viên, bới cỏ vạch lá, đập được một túm nhái. Đem về nhà nướng ăn. Ông bảo thiếu cái chất tanh của con nhái ông ấy không tài nào chịu được”.
“Ước mơ làm sao có một tháng nghỉ phép để… viết”
TS. Trần Hữu Sơn
-Một cán bộ già ở Trung ương bảo, “tay” Trần Hữu Sơn hắn tót từ ga tàu hỏa vào thẳng Hội trường Lớn, ngồi ở bàn chủ trì hội thảo. Vừa “trống tan” xong, chả tiệc đứng tiệc ngồi gì, “hắn” tót đi gặp gỡ, lo thương thảo dự án. Sao anh vội vàng thế?
- TS. Trần Hữu Sơn (cười): Tôi rất sợ nhiều nét giá trị quý của văn hoá dân tộc sẽ biến mất, nhất là trước làn sóng công nghiệp hoá hiện đại hoá như bây giờ. Có khi đi điền dã độ khoảng một năm sau quay trở lại một vùng núi non, nhiều giá trị mà mình đã thấy, đã ghi nhận nó đã biến đi mất rồi. Thế là nó thành một nỗi đau đáu trong những người đã vướng vào nghề bảo tồn: chỉ sợ con cháu mình sau này sẽ không hiểu, không thấy được những giá trị mà cha ông đã gắn bó, đã sáng tạo nên. Cũng như bây giờ, con cháu ta đang không phân biệt được cối say gạo, cối giã gạo; gàu sòng là thế nào, gàu gai là thế nào.
-Nếu bây giờ cho tất cả đều dài rộng thì anh ao ước cái gì cho “nghề bảo tồn”?-TS. Trần Hữu Sơn: Nói thật, bây giờ, ước mơ của tôi là: làm sao tôi có một tháng được nghỉ phép để viết những điều mình tâm đắc nhất. Và, điều mừng nhất của tôi trong mỗi khi Tết về là: Tết được nghỉ 8 ngày. Mình làm lãnh đạo, hiếu hỉ, hội hè mất đến mùng 2 Tết. Còn lại từ mùng Ba đổ đi là tôi đóng cửa tôi viết. Cắm cúi mà viết. Nếu không viết những điều mình thâu lượm được từ bà con ra thì nó sẽ mất mất. Mà cứ làm quan chức mãi rồi cũng chẳng làm được những việc mình thích. Bạn bè tôi nhiều người đã tính đến việc xin về nghỉ hưu sớm để viết. Cứ làm mãi những cái mình không yêu thích, thì cuộc đời cũng chỉ… đến thế thôi (cười).
- Nếu bây giờ có thời gian, anh sẽ viết những cái gì đầu tiên?
- TS. Trần Hữu Sơn: Về một số nghi lễ đặc biệt của người Dao, ví dụ như lễ cấp sắc hay tết nhảy của người Dao. Mỗi đề tài như thế tôi có đủ tư liệu để viết thành một cuốn sách được. Tôi vừa xuất bản một cuốn gần 500 trang, với các loại dân ca, tài liệu quý về người Dao. Dịch xong thì tôi càng thêm kính nể người Dao, một dân tộc có chữ, có học.
Hoặc việc lý giải về bề dày truyền thống của người Mông. Lý giải được vấn đề tín ngưỡng ấy, chúng ta sẽ hiểu được việc một số người Mông theo đạo Tin lành? Tại sao, trong lịch sử của nhiều nước có người Mông sinh sống, mỗi lần nổi dậy chống nhà nước phong kiến cũ, hay chống thực dân, lần nào họ cũng xưng vương.
Bảo tồn mà cứng nhắc thì dễ thành dã tràng xe cát

-Nhiều người nói, công việc bảo tồn văn hoá bao giờ cũng gắn liền với sự… tuyệt vọng. Bởi, cuộc sống vận động, sự méo mó, mai một, thậm chí biến mất của các giá trị truyền thống là tất yếu…
- TS. Trần Hữu Sơn: Ví dụ như chuyện của vùng Y Tý (Bát Sát, Lào Cai). Ba lần tôi đến, ở ba thời điểm khác nhau - và thấy nó đã thay đổi nhiều đến đáng sợ! Có những tư liệu, lần đi thực tế trước tôi đã sưu tầm rất cẩn thận, bây giờ đem ra đối chiếu, thì: chính người Hà Nhì bản xứ cũng đã… quên. Ví dụ cái tục cúng rừng ở Y Tý, một tín ngưỡng yêu thương và bảo vệ rừng. Bao giờ người ta cũng quan niệm là có rừng vợ, rừng chồng. Trước tôi vào, bố đẻ của ông Phó Chủ tịch xã kể rất rõ rừng vợ rừng chồng rồi dẫn tôi ra cánh rừng đó; nhưng đến bây giờ trở lại, dân hầu hết không biết gì về tục ấy nữa cả. Không hiểu tại sao như thế.
Hay như cái lán cúng thờ thần rừng (lời thề giữ rừng) là phải dùng cỏ tranh để lợp, rất hay. Trước hôm lễ, cả cái vùng Hà Nhì ấy bà con phải đi cắt cỏ tranh ở cái vùng mà con trâu thờ nó ăn lúc “sinh thời” để lợp lán thờ. Điều này thể hiện tính cộng đồng rất cao. Nhưng đến bây giờ người ta bảo: thôi bỏ đi, lợp phibroximang vào. Tôi bảo sao lại làm thế này? Bảo “đây là sáng kiến của xã”.
-Cũng nhờ những tâm huyết của anh và đồng nghiệp, nên Lào Cai đã trở thành tỉnh đầu tiên ở Việt Nam duyệt và thực thi được đề án với số kinh phí khổng lồ lên tới 62 tỷ VNĐ (so với ngành văn hoá thế là to) nhằm sưu tầm, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá trên địa bàn…
-TS. Trần Hữu Sơn: Mới đây chúng tôi đã bước đầu tổng kết đề tài này, với nội dung nhấn mạnh là ứng dụng đưa tri thức bản địa vào phục vụ du lịch. Mỗi một cộng đồng đều có tri thức đặc sản, cây con đặc sản, chúng ta phải biến nó thành sản phẩm hàng hoá. Ví dụ, người Hà Nhì có nghệ thuật đan lát; người Dao có các bài thuốc dân gian; người Giáy thì có giống mận Tả Van; người Nùng Mường Khương có xôi 7 màu, gạo Sén Cù, tương ớt (cả hai đã đăng ký thương hiệu quốc gia!)…
Cho nên, ở Lào Cai mới có “nghịch lý” là: cánh “văn hoá” làm “công nghiệp không khói”, thu tiền về “ác” hơn nhiều ngành sản xuất. Tại di tích Đền Thượng, năm 2005 thu hơn 1 tỷ cho ngân sách, trong khi đó, công ty xuất nhập khẩu của tỉnh nộp ngân sách nhà nước vẻn vẹn có 120 triệu (!). Di tích đền Bảo Hà nộp ngân sách nhà nước 998 triệu trong khi đó, cùng năm, nhà máy giấy xuất khẩu ở gần đó, nộp ngân sách có chưa đầy 200 triệu.
-Tuy nhiên, công cuộc bảo tồn vẫn luôn…bất lực?
- TS. Trần Hữu Sơn: Nên chấp nhận cuộc sống biến đổi. Cuộc sống là thế. Cũng như lẽ ra người Vịêt phải mặc khăn sếp áo the thì mới giống ông bà mình cách đây trăm năm, giờ quần áo mình là của Tây, phong tục Valentin cũng là của Tây, mà chúng ta vẫn “dùng”. Tôi nghĩ, sự thích nghi của văn hoá với “thời buổi” (ở góc độ nào đó là) không bao giờ con người có thể cưỡng lại được. Cho nên, mình phải có cách nghiên cứu khác đi, để nghiên cứu quy luật tiếp biến văn hoá như thế nào sau đó. Bảo tồn mà cứ nhất nhất cứng nhắc là không được, nó sẽ như là dã tràng xe cát, chống lại cả một cơn lốc như thế là không tưởng. Nhưng chúng ta phải thận trọng đưa vào tư liệu tất cả những giá trị truyền thống vào lưu giữ vĩnh viễn (ghi âm, ghi hình thật bài bản). Và, quan trọng hơn, bảo tồn để rồi có thể phục dựng lại được khi cần./.

Trần Hữu Sơn, SN 1956 tại Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc; tiến sỹ Sử học (chuyên ngành dân tộc học); hiện là Giám đốc Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Lào Cai; Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Lào Cai; Uỷ viên Ban Thường vụ Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam; Uỷ viên BCH Hội Di sản văn hoá Việt Nam, Uỷ viên BCH Hội Dân tộc học Việt Nam. TS Sơn cũng là Uỷ viên Ban chấp hành Tỉnh uỷ Lào Cai.
Các tác phẩm đã xuất bản: Vấn đề người Mông theo đạo Kitô-viết chúng - 1991; Văn hoá Mông - 1996; Văn hoá dân gian Lào Cai - 1997; Lễ hội cổ truyền Lào Cai (chủ biên) - 1999; Lễ cưới người Dao Tuyển - 2001; Dân ca người Dao Tuyển…
Đỗ Doãn Hoàng
http://service.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=140339&ChannelID=10

Có một “Hoàng thành” trên Bắc ảiNhật ký của người thổn thức

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28