My Opera is closing 3rd of March

Kể lan man ra kẻo nữa rồi lại quên mất...

Điện Biên trong mắt tôi…

Tản mạn của Đỗ Doãn Hoàng
(Dài loằng ngoằng, dây cà dây muống, đã đăng ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội nhân dịp 7/5/2009. Cụ chữ nghĩa nào nói chí phải quá, vì không có thời gian nên nhà cháu phải viết... dài!)


Với tôi, cứ mỗi lần nghĩ đến Điện Biên, Tây Bắc, là cái thương mến cứ dịu dàng dâng lên; mỗi lần trở lại Mường Then (Mường Trời, tên gọi khác của Điện Biên, theo tâm thức người Thái bản địa), tôi đều có cảm giác đang trở với về ngôi nhà của mình. Dẫu con đường “vút ngàn trùng xa”, “núi như ngàn vò rượu/ xếp ngổn ngang bên đường” (hình như thơ Nguyễn Việt Chiến) suốt năm trăm cây số Hà Nội - Điện Biên, bao năm rồi vẫn trúc trắc trục trặc như thế.

Còn nhớ, cách đây gần chục năm, khi trận động đất khủng khiếp đang gây hoảng loạn ở Điện Biên, từ Hà Nội, chiếc xe đặc chủng của toà báo chúng tôi vẫn phải đi gần hai ngày trời (tối ngủ ở Sơn La) mới tới được lòng chảo Điện Biên. Bấy giờ, sự giật mình của quả đất già nua vừa mới gây nên thảm họa hủy diệt hàng nghìn hàng vạn người ở Apganistan, nên ai cũng hãi, kể cả cánh nhà báo vào sinh ra tử nhất. “Quả” rung lắc đầu tiên đã khiến cho hàng loạt nhà cửa ở Điện Biên bị vặn cho đứt gãy, đường xá, cầu cống, các đập thủy lợi đều đã nứt toang hoác. Nếu cứ suy từ quy luật thảm họa hủy diệt ở Apganistan ra, thì “quả” đầu chỉ là phát như đánh nhứ, đánh lấy đà thôi, phát thứ hai, cụ Địa Cầu mới chính thức “xuống tay” tàn sát. Liệu có “dư chấn” khủng khiếp thứ hai không, sẽ là cái gì đang chờ đợi bà con Điện Biên và những vị khách hiếm hoi đang xông từ Thủ đô lên vùng hoảng loạn như chúng tôi đây, nhỉ? Tôi nghẹt thở. Bà con nằm la liệt ở những nơi không thoáng đáng, như sân vận động, bờ các hồ nước, các lòng đường lớn, các lòng chảo bằng phẳng mà không có cột điện hay núi đất đá, nhà cao tầng bên cạnh. Ngày, họ xếp hàng ở bưu điện tỉnh, chờ được gọi điện thoại cho người thân lần… cuối (theo cách nghĩ của họ). Quá nhiều hoạt động bị tê liệt, khu bờ tường rộng lớn ở nghĩa trang Điên Biên Phủ bị cụ Trái Đất giãy giụa, chằn chuội hai ba cái, nó dướn lên như con rắn bị đánh gãy ngang lưng, rồi nằm oặt cong tớn dưới mặt đất vân vi cát sỏi do các sang chấn tạo thành. Mặt đất bị chao lắc nhiều, cứ mịn và vân thớ như nong bột đã có ai sàng sảy, ve vuốt vậy. Khách sạn chúng tôi ở, tự dưng con đại bàng bê tông ở nóc nhà biết… bay. Nó bay từ đỉnh cao mấy chục mét, rơi xuống ngay trước mũi những người dân chết đứng vì sợ hãi dưới lòng đường. Có vị khách, đang tắm nóng lạnh trong khách sạn Hoàng Hoa, thì cái bình rơi bộp vỡ tan cả bồn cầu và gạch men lát nền. Đêm, mất điện toàn bộ, kể từ sau Giải phóng Điện Biên, có lẽ chưa bao giờ lòng chảo này đông người ở ngoài đường với gồng gánh chăn màn, khăn khố, lều bạt, cơm niêu nước lọ đến thế. Khi những bài viết, những hình ảnh đầu tiên về động đất của chúng tôi được truyền từ Điện Biên về, đăng trên báo Thanh Niên (tờ báo đầu tiên có tường trình và ảnh sinh động về vụ động đất kể trên), thì cũng là lúc hệ thống truyền tín hiệu, điện thoại của chúng tôi cùng tắt ngúm. Vì cả lòng chảo Điện Biên mất điện, thiết bị nào cũng hết pin. Tòa soạn đã có nhiều người tin: động đất, giống như ở Apganistan với hàng nghìn sinh linh thảm sầu đã diễn ra với Điện Biên, trong đó có 2 gã nhà báo chúng tôi. Khi có mặt ở Hội trường Tỉnh ủy Điện Biên, chứng kiến cuộc họp khẩn cấp do Bí thư Trịnh Long Biên chủ trì, tôi đã nhận cái bắt tay và lời nói rưng rưng của ông Biên, rằng: lúc nước sôi lửa bỏng, lúc mọi người đều tìm mọi cách để thoát khỏi vùng động đất càng nhanh càng tốt, mà các anh đi hai ngày ròng rã để có mặt với chúng tôi, “quý hóa không biết thế nào mà nói”. Các anh đã chấp nhận sự rủi ro tính mạng có thể có với chúng tôi.

Tôi chứng kiến những khẩu trọng pháo của di tích chiến trường Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu chấn động địa cần”, sau hơn bốn mươi năm câm nín, giờ nó cứ hực lên như đòi khạc đạn. Vì động đất đang thúc vào bệ pháo! Trời sinh ở đất Mường Trời nằm ở vào điểm xuất phát của ít nhất 5 cái đới đứt gẫy (đại loại thế) có thể gây ra động đất. Nếu ví mỗi đới đứt gẫy nguy hiểm kia là một ngón tay dài mênh mông và rộng miên man thọc từ Tây Bắc chếch xuống đông nam, dần ra phía biển, thì Điện Biên nằm ở vào cái lòng bàn tay, nơi mà mọi rung động (thảm họa) ở bất kỳ ngón tay nào (hoặc một vài, hoặc tất cả các ngón tay) đều có khả năng gây tổn hại dây chuyền. Nghĩa là tỷ lệ bị các sang chấn của Điện Biên sẽ nhiều gấp 5 lần các vùng nằm trên các đới đứt gẫy riêng lẻ kia.

Điện Biên luôn gây cho tôi những ấn tượng mạnh, khó quên, không chỉ vì động đất. Một đèo một đèo lại một đèo, con đường Quốc lộ 6, còn gọi là đường Bốn Mốt, vì nó được khánh thành năm 1941, sau hơn hai chục năm, hàng vạn lao phu Việt Nam (có nhiều tù binh cộng sản) phải còng lưng phá đá dưới roi cặc bò, súng ống dữ dằn của xâm lăng, cùng những trận sốt rét thập tử nhất sinh để vỡ mở lối đi. Đường còn có tên là đường Sanhpulop, để “tri ân” viên công sứ người Pháp đã chỉ huy làm đường. Đó là một con đường ám ảnh bất kỳ ai đã từng qua. Cửa ngõ Tây Bắc đã có dốc Cun đón đầu, rồi cái đèo Ma nọ ma kia, dốc Quái nọ quái kia liên tiếp. Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ, dài 32 cây số, nó nằm án ngữ con đường thiên lý gian nan giữa hai tỉnh Sơn La và Điện Biên. Trước, ông vua Lê Lợi chinh phạt giặc cỏ và ngoại bang ở Tây Bắc, chưa có đường Sanhpulop, cụ Lê đều phải theo các chiến thuyền đi dọc sông Đà, mỗi nơi, ngẫu hứng, cụ lại rút gươm khoét vào vách đá mà đề thơ khắc chữ để lại cho muôn đời con cháu. Bia Lê Lợi ở Hào Tráng, Hòa Bình; bia Quế Lâm ngự chế ở thị xã Sơn La, bia Lê Thái Tổ ở Bản Trang, Sìn Hồ, Lai Châu. Giữa lúc “bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền” ấy, ông Lê Lợi đã áo vải cờ đào viết rất chí lý: đường Tây Bắc của chúng ta, chỉ tiếng “gió thổi hạc kêu” cũng làm quân giặc kinh hồn bạt vía.

Kể từ khi viên Công sứ Pháp Sanhpulop chỉ huy khổ dân người Việt làm xong con đường Quốc lộ 6, chắc ông ta và lao phu không thể ngờ được rằng: con đường dần dà lại chiếm quá nhiều kỷ lục. Đó là con đường cua gấp, với nhiều cua tay áo, cua đũng quần, cua “ăn thịt người” nhất Việt Nam. Đó là con đường mà hai bên rợp trời hoa ban (khi púng mùa khoe sắc) nhất Việt Nam. Tôi lại đã đi những ngày mà dọc đường Sanhpulop có nhiều đám cháy rừng thâu đêm, thơm thơm khen khét cây rừng tươi bị cháy như ma trơi nhất. Lại nữa, những ngày triền miên đi dọc Tây Bắc của tôi, đường Bốn Mốt, là con đường có nhiều cô xòe quyến rũ nhất. Họ uống rượu với cái văn hóa “rượu đây tay ngà” tinh khiết, uống đầu làng cuối bản hãy còn thơm/ uống ba năm rượu hãy con say, những đem xòe, ngày xòe mà bài tình ca nào của Tây Bắc cũng có nhân vật trữ tình là hoa ban, cô gái nào cũng áo cóm, khăn piêu, bộ xà tích bạc diễm tình hơn cả… hoa ban. Các nọng (em) hát inh lả ơi, giai điệu vừa lả lơi mà vừa trinh trắng e lệ, giống như ong bướm tinh khôi rợp đường đèo đúng mùa hoa ban đang búng sắc. Đặc biệt, đường Sanhpulop, còn là con đường đã tố cáo cái lối làm đường xá cẩu thả và điêu trá của thời mới (thế kỷ 21) một cách đanh thép nhất. Bao nhiêu năm ròng, con đường cứ trơ gan đèo dốc với lớp nhựa đường nhẵn thín như thế. Cho đến khi, người ta bảo đường bé quá, các góc cua nguy hiểm “nhể ốc” quá (điều này đúng), phải làm lại, thế là đổ tiền ty ra, là cắt cua, là uốn nắn và trải lên cốt đường cũ những khối nhựa đường mới. Trời ạ, tôi chứng kiến, đường vừa làm xong, cứ liên tục bị nứt, hổng, vỡ, bong từng mảng như cái chiếu đôi, lại vá, vá lại nứt, lại vá. Nếu ví con đường như cái nong bánh đúc, thì cánh thợ những những tên phàm ăn, họ dùng dao kéo đũa thìa khoanh cắt từng miếng bánh đúc vuông vặn như viên gạch chỉ, rồi khênh vứt hết xuống vực. Thời gian sau, chuẩn bị đủ nhựa đường, sỏi đá, họ mới quay lại vá cái khoanh hang hố bị đục đẽo bóc đi kia. Con đường bị đào bới, vá víu, lại hỏng, lại vá víu và đào bới, như một tấm áo rách nhục nhằn. Mỗi lúc xe qua, xóc đến rợn tóc gáy! Không biết cái “pê-mờ-u” nào làm con đường ấy, nhưng quả thực là nó đã bị ông Sanhpulop dùng roi cặc bò tố cáo sự cẩu thả và khuất tất nhiều lắm. Tôi thấy ngượng với Điện Biên, mỗi lúc thấy bà con phải quá khổ sở đi cái đoạn đường đang thi công, nó lầy như một ruộng cày, bánh xe ô tôi ngập đến ba chục xangtimet trong bùn đất đá. Thậm chí, có đơn vị thi công ẩu, để xe cộ của mình húc chết nhiều người quá, ngoài việc bị xử lý trong từng vụ việc cụ thể, doanh nghiệp ấy còn bị tỉnh Điện Biên đem ra khởi tố (ơ hay, cứ cẩu thả húc chết người rồi đền tiền là xong ư?). Thậm chí, họ san ủi xong dũi toàn bộ đất đá xuống các thung lũng, gây ách tắc dòng chảy, khiến cho mấy cái thủy điện không hoạt động được vì bùn loãng xâm nhập, bít hết máy móc.

Trong sự phát triển đó, Điện Biên ngổn ngang khó khăn. Có thời gian dài, bà con phải bỏ đường Sáu, đi từ Hà Nội, vòng sang quốc lộ 2 bên Yên Bái, Lào Cai, vượt con đèo dài nhất Việt Nam (đèo Ô Quy Hồ, dài 54km), qua dãy núi cao nhất Việt Nam Hoàng Liên Sơn với nóc nhà Đông Dương cao 3.143m, qua Lai Châu để về được nhà mình. Đó là sự thật đáng xấu hổ về cung cách làm đường ở ta! Con đường vòng Ô Quy Hồ, hiểm trở đến mức, xưa, cụ Nguyễn Trãi đã từng phải thốt lên: ở đó, gió hú rít mạnh khiến cho cỏ cây không thể mọc được, bà con vừa đi vừa run sợ trước lục lâm thảo khấu (nay không còn). Và, tôi cũng chứng kiến quá nhiều chiếc xe khách cà tàng mất lái rơi xuống vực, đến khi không còn lăn lốc được nữa thì xe đã thành cục sắt vụn tròn vo. Có người chống lại hệ lụy làm đường kiểu “bày ra bỏ đó” bằng cách cóp nhóp tiền của để chọn cách đi tàu bay 500km từ Nội Bài lên Điện Biên Phủ. Nhưng tuyến bay này cũng đầy bản sắc Mường Trời, bởi lòng chảo nhiều mây mù quá, tàu bay lại bé nhỏ cũ kỹ quá (máy bay ATR72), thành thử “khu trục” cứ vù lên Điện Biên, gương mắt lửa ngươi vàng nhìn xuống cánh đồng màu mỡ và rộng lớn nhất Tây Bắc, thấy mây giăng bủa bít lối trần gian, là chiếc ATR lại co vòi không dám hạ cánh. Nó và khổ khách cùng lục cục bay về Hà Nội nghỉ ngơi chờ… tan mây. Đã nhiều lần, tôi phải bay lên rồi lại bay về như thế. Lúc ấy, cứ ước ao: giá mà máy bay nó biết như con chuồn chuồn ớt, biết tung cánh đứng im chờ đợi bất động giữa không trung, chờ cho bến đỗ “mây quang trông tỏ mặt trời”, đủ an toàn rồi mới đáp xuống, thì hay biết mấy.

Điện Biên màu mỡ và hoang sơ, cam khó như núi mà vẫn diệu kỳ như mây. Cuộc chiến đấu tiêu diệt 16 tập đoàn cứ điểm khốc liệt giải phóng Điện Biên “lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu” năm 1954 đã và sẽ mãi sừng sững trong lịch sử nhân loại. Nhưng, khi vừa ngưng bom đạn, tượng đài chiến thắng chưa kịp dựng, bia Hận Thù với ngọn lửa napan tưởng nhớ 444 người phụ nữ và trẻ em bị tàn sát cũng chưa kịp dựng, thì sương khói ở cánh đồng Mương Thanh từ thượng cổ lại vẫn mơ màng bủa kín tất cả. Mường Thanh vẫn dịu dàng thế. Mường Trời vẫn thanh bình thế, cánh đồng rộng lớn và màu mỡ nhất của toàn cõi Tây Bắc (chiều dài 20km, chiều rộng 8km!) vẫn như một món quà lạ lùng của thượng đế, hạt lúa gieo xuống, cứ mặc trời đất nuôi dưỡng, tự khắc sẽ có mùa vàng bội thu, chẳng cần vội vàng đăng ký thương hiệu quốc gia cho Gạo Điện Biên làm gì đâu. Mặc, những cỗ xe, từ xe quan chức đi “kinh lý” đường đèo cho đến cỗ xe khách khọt khẹt đường đèo dốc, vẫn cứ đầm đi, lừ đi vì sức nặng của hạt gạo ngon nghẻ làm quà cho miền xuôi. Người đàn bà Thái đang cầm cành ban múa xòe, gợi cảm với áo cóm, khăn piêu, tấm eo thon nuột như những tấm eo từng làm Sở vương mất nước năm xưa - cũng chính là “nguyên mẫu” cho bức tượng bế đứa trẻ mềm oặt đã chết trong vụ thảm sát Noong Nhai? 444 người phụ nữ và trẻ em đã chết cháy trong cơn say máu cuối cùng trước khi bị tiêu diệt của giặc Pháp hồi Chiến dịch Điện Biên 1954. Một trong những nạn nhân còn sống, chính là ông Lò Văn Puốn, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Điện Biên, người chị gái của ông Puốn cũng bị tàn tật vì vụ thảm sát đó, giờ vẫn đang sống ở lòng chảo Mường Thanh. Cái lòng chảo này, là nơi ông Đờ-cát đã được phong tướng, nghe nói, chai sâm-banh và tấm lon tướng chúc mừng ông ta đã được thả từ trên máy bay xuống giữa lúc bị bao vây khốn khổ. Lòng chảo này, được xem là kinh đô cổ của người Thái khi đến Việt Nam, nơi người Thái với huyền sử sinh ra từ quả bầu tiên. Người đàn bà mặc áo cóm bế con trong bức tượng thảm sát Noong Nhai, có khi cũng chính là cô văn công “tự biên tự diễn” từng hát lí lơ trong các đêm múa sạp chung vui cùng anh bộ đội cụ Hồ giữa mùa chiến dịch “năm sau ngày đêm khoét núi ngủ hầm/ mưa dầm cơm vắt/ máu trộn bùn non”? Chính nàng đã bước ra từ quả bầu “cô Tấm” của tổ tiên mình. Lại cũng chính nàng, áo trắng như một nhành ban, tay cầm nhành ban với điệu dân vũ ảo diệu “tính tẩu so dây” giữa đêm xòe của Ngày văn hóa các dân tộc Tây Bắc hôm nay?

Các tộc người quá sặc sỡ, hoang sơ, núi quá cao, rừng quá sâu, mây trời đôi lúc vón cục như có thể nắm lấy mà cấu véo được, Điện Biên luôn đẩy cảm xúc của người ta đến những bờ bến ám ảnh nhất. Hạt gạo Điện Biên ngon đến mức không lý giải nổi. Cái sự rẻo thơm, cứ như gom cả sắc nước hương trời Mường Then vào vậy. Thế mà, bông lúa từ bàn tay người eo lẳn mặc áo cóm màu hoa ban, nó đã từng đi theo kẻ lầm lạc đòi thành lập Xứ Thái tự trị, với “quốc kỳ” là hai bông lúa Mường Trời đan cài vào nhau, những khẩu hiệu (bằng văn bản) rất là mị dân. Có lần tôi cùng lãnh đạo Công an tỉnh Điện Biên vào thăm lại cái con người to gan lầm lạc tên là Lò Văn An ấy: ông cười hềnh hệch, giờ “hoàn lương” rồi, giờ rót rượu mời các cán bộ đã bắt giữ mình rất vui, dạo ấy đầu mình đặc mít như hòn đá, “chúng nó” bảo gì là nghe đấy, không bằng con trâu ở đầu sàn. Nhà sàn, các cái lán nương làm nơi hội ý, đề thảo các nghị quyết của “quốc gia tự trị”, có người đàn bà góa tronb ản, có người đàn ông vốn làm nghề hàn nồi hàn xoong cũng bị lôi kéo vào với lời hứa ngọt ngào từ các thế lực chống phá cách mạng ở bên kia bán cầu. Họ “quần tam tụ tứ” cứ nghị quyết và chờ đợi “mấy nghìn quân từ bên Tam giác vàng” tràn sang “trợ chiến”, họ phô trương thanh thế và hoang tưởng về một quốc gia với những nhành lúa Mường Then đan chéo, cho đến khi… bị bắt.
Với tôi, đó là những ám ảnh kiểu Mường Trời.

Di tích ở Điện Biên cũng vậy, đôi lúc nó được đối xử rất là vùng cao. Có khi ai đó ngẫu hứng sơn toàn bộ những xe tăng, sơn pháo, súng lớn súng bé… bằng nước sơn xanh lè, mới toe; giống như người ta xé tấm áo chiến bào bách chiến bách thắng còn thơm mùi thuốc súng của người anh hùng đi để may áo mới cho nó… đẹp. Kỳ lạ thay, chỉ vài năm sau chảo lửa đạn bom năm 1954, người bước ra từ cuộc chiến còn chưa kịp hoàn hồn, như nhà văn Nguyễn Tuân đã “bút ký” lại: thì, bọn đồng nát nó đã đi tiên phong, nó dọn vài năm là sạch bách không còn những chiến trường ngổn ngang súng đạn, xe tăng, ống pháo, ô tô lớn nhỏ. Dây thép gai chằng bủa tưởng như miên man khắp lòng chảo thời chiến, giờ không còn một mẩu. Lúc ngành văn hóa, bảo tàng muốn tái hiện lại khung cảnh chiến trường xưa, thì mới ngã ngửa: ô hô, ai đã “thu dọn” nhanh thế nhỉ? Cách đây vài năm, nghĩa là sau gần 50 năm ông Đờ - Cát và các thuộc cấp của ông ta gương cờ trắng, giơ hai tay lên trời lênh khênh ra khỏi hầm trú ẩn, bỗng dưng một khẩu pháo, một chứng tích lịch sử tuyệt vời đột ngột hiện ra sau nửa thế kỷ luân lạc. “Ngài” pháo ngơ ngác bò ra từ tay bọn… buôn sắt vụn. Chúng nó lùng sục khắp núi rừng Tây Bắc, có chúng khi xẻ từng khúc của chiếc máy bay “chiến hạm” ra, gùi dần về bán kiếm ăn. Dân báo tin: có gã mua được cái nòng pháo to đùng, tròn xoe, mới tinh, bảo tàng đến gạ mua với giá phế liệu, chỉ vài trăm nghìn đồng. Dân lại báo, ở cái bản nọ, từ lâu lắm, bà con vẫn đi trên một cây cầu vững chãi vô cùng, vừa rồi lũ lớn tràn qua, cầu trơ khấc là một mâm pháo khổng lồ đã bị mắc giữa khe suối từ đời nảo nào. Các chuyên gia lên giám định, thì, tuyệt chưa, nòng pháo và mâm pháo khớp lại, thành một khẩu pháo tối tân. Sau gần nửa thế kỷ, hai phần cơ thể quý báu của ngài mới được đoàn viên, “châu về Hợp Phố”. Hóa ra, đây là một trong hai (hoặc ba) khẩu pháo hiện đại, dữ dằn nhất mà “quan thầy” Mỹ đã từng “viện trợ” cho giặc Pháp khi chúng đang bị vây ráp ở lòng chảo Điện Biên Phủ. Chỉ tiếc rằng, giống như chai Sâm-panh khao vụ được thăng hàm cấp tướng của ông Đờ - Cát bị tàu bay ném nhầm cho dân bản Thái thưởng thức, nòng và mâm của khẩu pháo lớn đã bị các phi công thần hồn nát thần tính ném vào hai khu vực khác nhau. Rồi, giữa hoang vu rừng nhiệt đới, bọn chúng không tài nào tìm thấy được nữa. Thứ vũ khí tối tân đó, suốt 55 năm qua, vẫn chưa một lần được bắn thử.

Đó, đó cũng là những hiện vật bảo tàng kiểu… Mường Then.


Giữa khó khăn chồng chất, tôi đã có những người bạn tỉnh Lai Châu cũ (gồm hai tỉnh Lai Châu và Điện Biên nay) phải buồn bã đứng trên cầu Hang Tôm, đọc thơ “vỉa hè”: “Đất Phong Thổ vùi chôn tuổi trẻ/ Núi Dào San che khuất tương lai”, rồi anh “chạy chọt” để về xuôi sau 10 năm cắm ở xó rừng góc núi nọ. Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ biết dành phần ai? Đến với Phong Thổ, Dào San, các địa danh thương mến và biểu trưng lam lũ chon von của Tây Bắc, luôn là niềm tự hào cho tuổi trẻ kiêu hùng của mỗi con người. Tôi, thậm chí đi với lực lượng chống ma túy, PC17, Công an Điện Biên, trinh sát hóa trang vào nhiều điểm nóng “tử thần” để cảm nhận nhiều hơn về lẽ sống này. Thung lũng Na Ư xanh mướt nhà lầu xe hơi thế, nhưng đây là một trong những vùng đất chết, với nhiều án tử hình nổi tiếng Việt Nam. Đã bao lần, các chiến sỹ buộc lòng phải nổ súng ở đèo Tây Trang? Đã bao lần giữa đêm vây ráp, rồi chính lực lượng công an lại đối tượng quá khích quây đánh cho thừa sống thiếu chết ở nơi này? Tôi thắp nhang bên mộ Trung úy Phạm Văn Cường (chiến sỹ Công an Điện Biên đã hy sinh khi đang trinh sát hóa trang, phá đường dây ma túy lớn của Lý A Va và đồng bọn), thắp nhang lên mộ hai người quần chúng tốt giúp công an phá án. Tôi đi với người lão luyện đánh án, từng bị các “bố già” treo giải thưởng: đứa ai giết chết anh, được sẽ thưởng cả 1 tỷ đồng. Có khi cả băng đạn AK xả vào thân thể người trinh sát nhỏ bé ở bìa rừng hoang vu, có khi, một ông trùm bị bắt với máy ép heroin, với cả tải thuốc phiện; có khi, xe U oát của công an bị đối tượng dùng súng lớn bắn cho lỗ chỗ, rồi chúng dùng rừu chặt đứt cả còng số 8 giải cứu đồng đội và tang vật (thuốc phiện). Có khi, một sơn nữ đẹp rờ rỡ, hai bàn tay nuột nà tra vào còng mà trong các chỗ kín khắp cơ thể nàng vẫn được nhồi nhét các bọc gói heroin, bông hoa rừng bị ám gió độc khiến người ta vừa giận vừa thương! Có khi, ngược Tây Bắc, tôi chứng kiến cảnh lực lượng công an Điện Biên có tới 6 người đang phải nín thở vừa đi đánh án, vừa uống thuốc ngừa phơi nhiễm HIV cấp. Bởi họ thường xuyên đổ máu, đổ máu bởi các đối tượng có HIV. Lại còn có 2 anh, vừa uống thuốc ngừa HIV cấp, vừa xúc động đón nhận Huân chương lao động do Nhà nước trao tặng.

Họ và đồng đội đã quả cảm dựng một bức tường lửa ngăn chặn thác nguồn giết chóc từ nạn thẩm lậu ma túy qua biên giới. Cửa khẩu Tây Trang, nắng cháy rát, nắng biên thùy núi đá trơ khấc ấy nó đáng sợ như có ai cầm bó lửa hơ vào mặt bạn giữa lúc Hà Nội đang 39 độ C, hoa sim hoa mua tím não nùng ở các quả đồi trọc. Trạm biên phòng Tây Trang, có lần tôi đến, sau cơn lốc ma túy do đường dây xuyên quốc gia Xiêng Phênh - Vũ Xuân Trường gây ra vừa làm kinh động dư luận cả nước, vẫn còn cái xe Win do tử tội Bùi Danh Ca để lại. Bấy giờ, cửa khẩu Quốc tế khang trang hiện nay chưa xây. Đường biên hai nước, chỉ có một cái barie, lật khật cẩu lên hạ xuống là đã “thông thương”, là xuất ngoại hay nhập tịch ngon ơ. Chiều, hai trạm biên phòng hai quốc gia, vẫn sang xin nhau tí muối, tí mỡ để nấu nướng, chiều, họ lại quần cộc tập hợp nhau thành hai đội bóng xôm trò, vui tưng bừng giữa tím thắt ruột sim mua. Tôi chứng kiến cảnh con dê của nước bạn lạc sang nước ta, anh lính trẻ ời ời gọi bạn sang bắt dê cỏn buồn sừng phải sớm hồi hương. Có lần, trạm biên phòng nọ bị “thay máu” (thay và xử lý toàn bộ) vì họ đều dính dáng tới các đường dây ma túy, thay “máu” xong, tôi trở về, viết trên báo là “ có thể tạm yên tâm”, nhưng ít lâu sau, lại nghe báo chí loan tin, cái đợt mới lại “dính”, lại phải “thay máu” nữa. Lại có người chống ma túy bị dính án ma túy. Ma túy ám ảnh tôi từ đó, nó đáng sợ hơn cả ma cà rồng (nến thế gian thật sự có ma). Giờ trở lại, sau 55 giải phóng Điện Biên, “cổng trào” khang trang, đồn trạm nguy nga, đường nhựa thẳng reo, hoa loa kèn nở rực rỡ ở cái chỗ anh lính làm nhiệm vụ, mừng quá. Cơn lốc ma túy đã hạ nhiệt nhiều, lại càng mừng hơn.

Lại nói chuyện cái cửa khẩu ở Điện Biên. Năm 2004, khi tôi vào ngã ba biên giới A Pa Chải, vẫn phải đi bộ mất 7 ngày ròng rã. Dọc đường, qua những bản làng người Mông, người Hà Nhì, người Si La, xin ăn, xin uống, xin ngủ nhờ, rồi lại kéo lê mình qua những cánh rừng hoang rậm rịt, vắt nhảy như nong tằm, đêm, đi qua những đám cháy rừng khét lẹt, rạng ngày cây đổ đen thui kéo hút tầm mắt về phía chân trời. Có bản làng, thuốc phiện còn nhuộm đen nhiều thân phận người, có cán bộ xã đi ở tù, có anh giỏi trai nằm khểnh hút bàn đèn khói lơ mơ. Ở Chung Chải, dọc suối Nậm Ma, vẫn còn những nấm mồ tội nghiệp của người đi rừng bị gấu hoang tát chết, có người đàn bà tên là cô Gấu, vì đã cả gan dùng liềm Giang Thành (cái liềm cắt lúa to như cây kiếm) đánh gãy xống mũi gấu; có ông Mai Lình đã mang tên một con dốc cao vời án ngữ giữa Chung Chải và Sín Thầu, vì ở đó, ông đã sống sót nhờ võ nghệ “tay bo” đánh nhau với gấu ngựa. Đêm hôm, tôi đã đi dọc Leng Su Sìn để ngậm ngùi ngồi bên ông Chang Gố Chừ, người đàn ông da dẻ mốc thếch (gọi là ông Mốc) có mẹ ruột và con gái ruột (13 tuổi) bị hổ ăn thịt. Cái khe nước gồm những bờ đá nhẵn thín do hoang thú nó xuống uống nước rồi thè lưỡi liếm láp suốt bao đời (vì đá và nước ở khu vực có chứa muối), nơi mẹ và con gái ông Gố Chừ bị bầy hổ ăn thịt, giờ đây vẫn mang tên khe Hai Bà Cháu. Rừng, con hoẵng chạy lố nhố trên nương cỏ tranh, cái sừng hoẵng nhô lên như mào… con gà trống; đêm nào, ngày nào, ông Pờ Sí Tài cũng đãi tôi (vị khách xa xôi hiếm hoi) bằng thịt nai, thịt hoẵng, thịt sơn dương, lợn rừng, gà rừng (xin lỗi các đồng chí kiểm lâm và các nhà bảo tồn động vật). Bản làng, chưa bao giờ biết đến một cái bánh xe hình tròn (xe máy, xe đạp, ô tô), nhưng họ biết rất rõ chiếc máy bay trực thăng cứu trợ mỗi lúc đói quá, rét quá, hoặc một thiên tai nào đó lại hành hoành. Có khi, lũ lớn quá, bà con chạy lũ bắt được cả chú voi con bị trôi theo dòng bùn nước dọc suối Mo Phí đầy đá hộc. Nhiều bản làng, có những bãi cỏ rậm rì, là nơi hạ cánh của máy bay trực thăng, có khi chú phi công vừa đem lương thực cứu trợ đến, một ông già khoác một chục đõ mật ong rừng đựng ống tre lớn, và cặp… ngà voi ra cảm ơn. Cách đây chưa lâu, thỉnh thoảng, mỗi sáng sớm, ông Tài lại ra đầu bản nhặt được con nai con hoẵng bị chó sói ăn thịt, loài vật hung dữ kia chỉ vội vàng moi ăn “nóng sốt” bộ lòng nai, rồi bỏ nguyên cả thịt thà lại khi thấy ông - cái con người to cao lừng lững từng 10 năm không một giấc ngủ ngon vì đánh phỉ dọc đường biên ấy.

Chẳng đâu xa, khi tôi có mặt ở trung tâm huyện tạm Mường Nhé (bấy giờ huyện mới tách ra từ Mường Tè), giữa trưa, có anh khênh cá con nai ra chợ “phanh thây” rồi bán bán mua mua ầm ĩ. Kiểm lâm ra bắt giữ, anh ta bảo: tao bắn được trong rừng, mày có ăn tao chia cho một đùi, chứ tao có ăn trộm bò lợn nhà ai đâu mà mày bắt? Giữa bối cảnh rừng rú rợn người như thế, tôi nghe em trai của người đàn ông Pờ Sí Tài (người ngày nào cũng cho con cháu đi bắn sơn dương, nai, hươu mời khách) nói về cửa khẩu tầm cỡ quốc tế sẽ được mở ở A Pa Chải. A Pa Chải, với tôi là biểu tượng của sự hoang vu, hoang sơ, những câu chuyện khó tin như huyền thoại núi rừng mà tôi đã tận mắt chứng kiến sau những ngày đi bộ đến toạc máu hai gan bàn chân. Người em trai của ông Tài, là anh Pờ Diệp Sàng, Phó Bí thư thường trực huyện ủy Mường Nhé. Diệp Sàng bảo: sẽ mở đường ô tô, xây cầu cống, sẽ phủ sóng điện thoại di động vào A Pa Chải, sẽ thông thương với hai quốc gia Lào, Trung Quốc ở cái điểm ngã ba biên giới (cả Việt Nam có hai điểm mốc ngã ba biên giới trên bộ thôi, một điểm Việt Nam - Trung Quốc - Lào ở A Pa Chải, một điểm nữa: Lào - Việt Nam - Cam pu chia ở Kon Tum). Anh Diệp Sàng còn nói nhiều về kim ngạch buôn bán với hai nước láng giềng, đời sống của người Hà Nhì được nâng cao, sẽ phát triển du lịch rừng nguyên sinh, du khảo văn hóa tộc người sặc sỡ, sẽ có tua hành hương về vùng ngã ba biên giới anh hùng. Lúc bấy giờ, thú thật, tôi chỉ ừ ào cho Diệp Sàng khỏi buồn. Anh là người con của bản Tả Kho Khừ ven cột mốc ba cạnh ngã ba biên giới, có phải vì thế mà anh hơi quá lạc quan để kỳ vọng vào sự cất cánh của dải rừng hoang vu từ thượng cổ đó chăng?

Bấy giờ, trong đầu tôi hiện lên những ký ức A Pa Chải: cái trạm biên phòng với cổng đóng bằng ba miếng gỗ nhỏ bé, tự tay chú em Quỳnh (trạm trưởng) vẽ dòng chữ “Trạm biên phòng A Pa Chải” bằng sơn đỏ; rồi tôi ở trạm mấy ngày, giết chó, giết bò uống rượu với 7 anh chàng lính trẻ xa nhà đó, mà tuyệt nhiên không thấy ai làm thủ tục “đi nước ngoài” (hay nhập tịch Việt Nam). Ngày thứ ba, là phiên chợ, mới thấy vài người đàn bà Hà Nhì lục tục từ trong sương mù lãng đãng đi về phía trạm, họ là cư dân biên giới, họ xin cái dấu triện để sang chợ Giang Thành (của Trung Quốc) mua ít lương thực thực phẩm. A pa (bà) của thằng Hùng Sang thò quyển sổ xin dấu ra và bảo: thằng Quỳnh, triện cho a-pa nhanh lên nào. Diệp Sàng nói, tôi lại nhớ đến những dãy lều tạm rách rưới ở trường Sín Thầu, với những em bé ăn cơm bốc trong cái nồi nhọ nhem, chấm muối, chiều đến ra suối Mo Phí tắm ào ào, mỏi mắt chờ phiên chợ Giang Thành nước bạn (ở khu vực không có chợ Việt), để rồi, khi đi qua, mẹ em ném vào lều cái bắp cải hay gói muối, gói gạo để tiếp tục dựng lều học chữ. Bản làng tuyệt vời đến mức: khách đến, các ngôi nhà đều mở cửa, bà con đi lên đồi nương vắng cả, khách cứ bỏ túi sách, khoác áo của mình vào ghế rồi ra suối tắm hay đi đâu đó tùy thích; chủ nhà về, thấy có đồ đạc của người lạ, tự khắc họ sẽ mổ gà, nấu cơm, lặt rau cỏ tập tàng đãi khách. Bữa đến, họ đi lang thang trong bản tìm cái ông khách hay bà khách nào đó ơi, ông bà về nhà tôi ăn bữa cơm lạt. Không có đường đi, không có điện thoại, không quán xá, nhà nghỉ, khách sạn, dường như cuộc sống diễm tình kia buộc phải có (anh làm thế với tôi, khi anh đến bản tôi, tôi cũng làm thế với anh), dần dà nó trở thành cái văn hóa đáng mềm lòng ở miền sơn cước A Pa Chải. Nó làm tôi nhớ đến những cái “quán tự giác” (tự ăn, tự bỏ tiền vào, chủ quán không có mặt) ở dọc con đường Sanhpulop trước kia.

Tôi đã về Hà Nội và kiên quyết không tin vào giấc mơ ít nhiều “hão huyền” của Phó Bí thư Pờ Diệp Sàng. Cho đến khi, những điều Diệp Sàng nói trở thành sự thật. Giờ đây, mở internet ra, tôi thấy cả kho ảnh về ngã ba biên giới A Pa Chải, quê hương Diệp Sàng trở thành điểm mũi chinh phục huyền diệu bậc nhất của giới trẻ bây giờ. Thanh niên Sín Thầu về Thủ đô học Đại học. Ô tô và các dịch vụ hiện đại đã băng rừng vượt núi về với Sín Thầu, như một điều khó tin nhưng có thật ở đời. Cũng như Tây Trang giờ nườm nượp xe cộ, hàng hóa chất ngất. Như tuyến tàu bay Hà Nội - Điện Biên Phủ liên tục tăng chuyến, có khi người ta vù bay ngót chục chuyến/ngày phục vụ các sự kiện lớn. Mà Điện Biên, trái tim của Tây Bắc, Mường Trời của Tây Bắc, chiến trường oanh liệt “lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu” của Việt Nam và thế giới thì luôn có rất nhiều sự kiện lớn lắm. Bản thân sức bật của Điện Biên, cũng là một sự kiện lớn.

55 năm đã trôi qua, kể từ ngày lịch sử thế giới có thêm sự kiện trọng đại Chiến thắng Điện Biên Phủ. Năm ông Đờ Cát và đội quân viễn chinh (cùng lính đánh thuê và ngụy) đầu hàng Việt Minh ở chảo lửa Điện Biên Phủ, mẹ tôi vẫn chưa đầy một năm tuổi; thế nhưng, chỉ với 12 năm làm báo đi lại, gắn bó với Điện Biên, tôi đã cảm nhận sâu sắc những bước tiến quan trọng của đất Mường Trời (chứ nếu so giờ với 55 năm trước, thì một trời một vực). Thành phố Điện Biên Phủ lộng lẫy hôm nay, vốn là một bãi chiến trường thảm khốc; “cửa khẩu quốc tế” với đường ô tô láng cóng và sóng điện thoại di động tưng bừng kia, cách đây 5 năm vẫn còn là biểu tượng của hoang sơ; “Tây Trang gió bụi biên thùy”, ruồi vàng bọ chó gió Tây Trang, giờ đã trở thành một đô thị vùng biên; thung lũng tử thần Na Ư dần hồi sinh với giống mới, cung cách làm ăn mới. Một chi tiết nhỏ đầy biểu cảm: mới đây, trong chiến dịch vận động giao nộp súng tự chế, tỉnh Điện Biên đã giữ kỷ lục quốc gia, thu được 26.000 khẩu súng tự chế đem đi Thái Nguyên cho vào lò nấu thép. Đó là con số tuyệt vời của ý Đảng lòng dân. Từ nay, những anh chàng lãng mạn và kiêu hùng “đêm đêm hát lượn ngày ngày bắt chim” đã quy hàng thiên nhiên hoang dã, bảo vệ hoang thú và không săn thú bắn nhầm người nữa…
Ai đó bảo: với Tây Bắc, đặc biệt là chiến trường xưa Điện Biên Phủ, một bước phát triển của họ, ta phải quy đổi bằng ba bước tiến ở miền xuôi. Rất có lý. Tây Bắc chiến trường xưa ân tình mà kham khó, Tây Bắc sặc sỡ sắc màu gần ba chục tộc người anh em, việc giữ gìn bầu sữa thiên nhiên và bản sắc để Tây Bắc phát triển , là trách nhiệm của tất cả chúng ta. Là lẽ nhân ái, là món nợ ân tình mà tất cả chúng ta phải sớm trả.

Hà Nội, tháng 4 năm 2009
Đỗ Doãn Hoàng

Một trang núi rừng buồn của phía Tây toàn núi...Ca ngợi VTV một tí nhỉ!

Comments

Unregistered user Wednesday, May 20, 2009 7:10:28 AM

Anonymous writes: À, bữa nay đọc bài của Hg trên Tuổi Trẻ, không rừng núi, không HIV, không nhăng nhít, không di tích di tiếc, không lịch sử lịch siếc, không chuyện gì của năm xửa năm xưa... tóm lại là không phải Hg quen quen, bỗng dưng thấy bài này hấp dẫn và mới mẻ nha.

Đỗ Doãn Hoàngdodoanhoang Saturday, May 23, 2009 7:43:09 AM


Ối cha mẹ ơi, với tớ thì khen cũng như chưởi bố tớ lên. Mặc kệ các đồng chí nhé. Viết nhăng nhít cho vui. Nghĩ gì viết nấy, biết là dở cũng viết, đoán là hay cũng viết. Chữ của tớ Nhẹ, nên ít Chết Vì Chữ như các ông các bà:)

Đỗ Doãn Hoàngdodoanhoang Monday, August 10, 2009 4:04:41 PM

Xin lỗi ngài độc giả đã liên lạc nói rằng tôi viết sai chính tả. Ngài nói đúng 100%, tôi viết sờ nặng và sờ nhẹ toàn sai, gi với d hoặc r cũng sai toét. Đấy là qua chỉnh sửa của người biên tập rồi đấy. Thành thật cáo lỗi smile . Tôi đã cố sửa nhưng tài hèn sức mọn, đầu óc già nua, giờ lẫn cẫn lắm cơ.
February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28