My Opera is closing 3rd of March

Lang thang với bản Nghèo, bản Khó...

http://laodong.com.vn/Home/phongsu/2007/12/69988.laodong


Lang thang với bản Nghèo,
bản Khó và bản Chết đói...
Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng

Mới đây, trong một chuyến điền dã vùng thượng du tỉnh Thanh Hoá, chúng tôi đã lạc vào một miền cổ tích, nơi mà không có từ ngữ nào diễn tả chuẩn hơn là mỗi bước chân mỗi huyền thoại. Con người ở xứ Thái này cũng yêu huyền thoại, thích chữ nghĩa.
Một tờ giấy kẻ ôly có ghi: "Thông báo của Ban quản lý bản Khó..., nghị quyết của bà con bản Nghèo..., Hồ sơ xây dựng làng văn hoá bản Tai Giác (Chết đói)". Mở bản đồ ra thì đó là những cái tên đã được đồng bào ghi nhận bằng giấy trắng mực đen, chứ đùa đâu.

Những người... ước ao được nghèo
Ruộng bậc thang sẽ là hạt nhân cho sự phát triển ở bản Khó
Trên tấm bản đồ treo choán hết một góc phòng của ông Chủ tịch UBND huyện Quan Hoá, "bản Nghèo", "bản Khó" nằm rất gần nhau, cái phần màu trên diện tích các bản tươi rói. Nhưng, đường vào bản thì hầu như ngược lại. Dốc dác, qua ngầm, qua suối, vách đá vòi vọi, trơn truội.
Anh Phạm Hồng Sơn, người xã Hồi Xuân, vừa mắm môi mắm mỏ leo dốc vừa giải thích: Ta qua cái này là kẽm (khe núi) Si Nùng, chiết tự và đọc chệch một tí theo tiếng của người Thái, có nghĩa là cái kẽm mà ai đi qua cũng phải miết vú mình vào. Đường trước đây rất nhỏ, lối mòn luồn qua khe đá nhỏ, cao dựng trời, đàn ông nghiêng người thì lách qua được, đàn bà mỗi lần qua là phải miết hai bầu ngực mình vào bờ đá. Xưa, mỗi lần dân bản muốn bán con trâu ra chợ huyện, thì cứ phải giết trâu, xẻ nhỏ, rồi mới luồn được từng súc thịt qua khe đá. Quan lang ngày xưa, nhân kỳ lễ lạt vui mới tổ chức cả hội thi vượt qua kẽm Si Nùng mà không quệt vú. Vui tợn!
Mưa lây rây, càng trơn. Vách đá bị xẻ ra để vỡ đường qua "thắng tích" kẽm Si Nùng dựng cao đến chóng mặt. Những kỳ quan thiên nhiên hiện ra: một dòng suối chơi trò ú tim giữa đại ngàn, nó nhận nước từ kẽ núi cách chỗ chúng tôi đứng vài cây số, bất chợt chuồi ra khỏi thế giới ngầm hang hốc bí ẩn của mình, phun ra mặt núi. Bà con gọi là sông Luồn, sông Lủi, dòng sông luồn lọt chui lủi trong bụng núi rồi bất chợt hiện ra. Nước trắng xoá đổ ra suối Khó (suối của bản Khó).
Bản Khó hiện ra, với những tràn ruộng bậc thang sũng sĩnh nước mùa gặt, những căn nhà tranh bé tẹo nằm ềm ệp sườn non, những chuồng lợn, chuồng bò, lợn, gà làm chỉ bằng một tấm phên liếp nhỏ, còn ba mặt đều lợi dụng các hang, vách núi. Có cảm giác, bà con dựa vào thiên nhiên ở mức độ nhiều nhất có thể.
Một đêm nằm trên nhà sàn, ông Phạm Hồng Nêu (người Thái, ngoài 70 tuổi, nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện Quan Hoá) kể cho tôi nghe về sự tích bản Nghèo, bản Khó: Hai bản, xưa vốn là một, gắn bó như anh Nghèo, anh Khó.
Bản, xưa không có cái tên khốn khó như bây giờ. Nó thuộc xã Hồi Xuân, tổng Phú Lệ, châu Quan Hoá. Nằm ven sông, lại trù phú với những thung lũng bằng phẳng, tốt tươi, bản làng rất sung túc. Vị quan lang của bản sống quá đủ đầy, viên mãn; đến mức, tự dưng một ngày đốc chứng muốn biết cảm giác về sự nghèo khó. Thử nghèo một lần xem sao. Ông này bèn đến gặp thầy mo, rằng ông cúng bái thế nào để Trời cho tôi nghèo khó thử. Thầy mo bảo: nhà ông có hàng nghìn con trâu, nhưng con trâu trắng đầu đàn là quý nhất. Ông về, lắp cày vào trâu trắng, bảo gia nhân đào sân nhà ông lên, đổ nước vào mà cày.
Cày chán, ông nói với những người bán vợ đợ con cho ông là cho tao mượn cái chài bắt cá nhà chúng mày. Về nhà, ông tập túm chài, quăng nó lên bàn thờ, hãy coi bát nhang là con cá.
Gã quan lang nghe lời, về nhà, túm các vòng chài ném lên bàn thờ rồi giật, rồi kéo, tuốt, khua khoắng tay trong chài tìm... cá. Cảm giác về sự khổ bắt đầu, khi gã túa mồ hôi, và sờ soạng (biểu diễn mò cá), dính một cái dằm gỗ của khung bàn thờ. Vết thương tấy lên, mưng mủ, nhiễm uốn ván, không thuốc nào chữa được. Gã nhà giàu "sướng quá hoá rồ" lo quá, đến gặp thầy mo kể lể. Thầy mo bảo: Chỉ còn cách đem con trâu trắng đến giết thịt, tế trời, tế thầy, thì mới khỏi.
Vị quan lang nghe theo. Bệnh chưa khỏi thì đàn trâu thấy con đầu đàn bị chết oan, sợ hãi bỏ đi hoang trong rừng rậm gần hết; số còn lại chết dần chết mòn (như kiểu dịch "lở mồm long móng" của chúng ta hiện nay). Càng nghèo, càng chìm đắm vào cúng bái, càng lụn bại về kinh tế, sa sút về tinh thần. Bản làng nghèo khó triền miên. Từ bấy, các cái tên bản Nghèo, bản Khó ra đời, thành tên gọi trong dân gian và cả trên bản đồ hành chính đến nay.

Trưởng bản Khó - anh Phạm Bá Hoành - gầy nhong nheo, tiếp khách bằng nước sôi trên nhà sàn tối om. Phải nói là bản còn rất nghèo, nhưng cũng không thể nói rằng nghèo đến mức phải luỵ vào cái tên Nghèo Khó. Cái tên là một câu chuyện văn hoá.
Tôi bảo: "Hay là bản anh xin cấp trên cho đổi lại cái tên đi, nghèo thì lâu chứ giàu thì mấy chốc. Khối nhà trong bản, sàn trên sàn dưới dễ tích được đến dăm ba tạ lúa rồi; so với hơn 3.200 bà con ở toàn xã Hồi Xuân này, bản mình cũng đâu có nghèo!".
Anh Hoành gãi đầu, cười cười, bởi quá quen với câu thắc mắc kiểu này của khách lạ: "Cũng nhiều người trong bản gặp tôi đặt vấn đề, tên bản là do các cụ đặt từ hồi các cụ còn nghèo khó. Giờ ta khá lên, thấy cái tên này không được "đẹp" lắm. Hay là ta đổi?". Bà con bảo, giờ bình yên, cứ cày nhiều ruộng, nuôi nhiều bò là hết nghèo chuyển sang giàu có, đổi tên làm gì".
Mẹ anh Hoành - bà Cao Thị Ăm, 90 tuổi - ngồi bên bếp lửa đầu sàn thủng thẳng: "Từ nhỏ, bản tôi vẫn tên là bản Khó, cũng chả nên đổi tên làm gì".
Với 428 người, 105 nóc nhà, bản Khó hiện còn khó khăn với khoảng 80% số hộ nằm trong diện nghèo. Bản bên cạnh là bản Nghèo, nhờ có mặt bằng rộng rãi như... thảo nguyên, họ tổ chức chăn thả gia súc lớn, kinh tế có khá hơn.
Bản Khó khó khăn hơn bản Nghèo. Sống trên đá, hiếm nước. Nước tụt cả xuống các kẽ đá vôi lớn của địa hình cacxtơ đặc trưng. Từ các hõm nước ngầm gào réo trong lòng đất, mùa lũ, nước ngập, đường vào bản chìm dưới 2m nước. Chỉ đàn ông mới dám xuống núi, đi thuyền ra... huyện.
Anh Hoành tự hào mình là Trưởng ban quản lý bản Khó, lại được kiêm cả chức Đại biểu Hội đồng Nhân dân xã Hồi Xuân, rồi là cộng tác viên của Dự án Tầm nhìn Thế giới tại Việt Nam, chương trình vùng Quan Hoá. Họ đem cây trồng, vật nuôi, các dự án nước sạch đến cho bà con vùng vừa ngập úng vừa khô khát.
Tôi hỏi: "Bản mình khó khăn thế, thì anh đưa tôi đến hộ "giàu" nhất được không?". Anh Hoành giãy nảy: "Làm gì có hộ giàu. Bản Khó thì cái chi cũng khó mà, các cụ đã đặt thành câu ca rồi. Chỉ có hộ thoát nghèo thôi".

Bản Chết đói đã no cơm
Đường vào bản Nghèo, bản Khó đã có đường cho xe máy đi
Đêm, đường bản hum hủm hang hốc. Đường thị trấn thì lổn nhổn đến mức đá bằng quả táo cứ văng tứ tung ngũ hoành mỗi lúc có ôtô nhả khói, trệu trạo bò qua. Bốn bề là sự thống trị tuyệt đối của những đỉnh núi câm lặng. Đèn điện leo lét sáng. Thị trấn không có đường chân trời. Sáng ra, phiên chợ lèo tèo.
Tôi bị ám ảnh bởi cái thị trường tóp mỡ chộn rộn của phiên chợ nơi này. Tóp mỡ được rán kiểu gì mà nó khô xác như củi mục, hắc xì như... tẩm hoá chất, chúng lại còn được tẩm muối rồi bốc từng bát loa bán cho bà con làm thức ăn. Người ta bán tóp mỡ kiểu bán "quạ", đong cứ 2.000 đồng/bát loa. Mỗi bát là "thức ăn" cho cả nhà trong vài bữa thịnh soạn ư?...
Nhưng rồi, những cảm nhận buồn se thắt vì sự nghèo đã tan đi. Bởi nỗ lực của bà con trong việc đi tìm cái chữ, xây dựng các mô hình kinh tế mới. Và, hơn thế, tôi đã rất bất ngờ khi biết tin bản Chết đói (thuộc xã Phú Sơn, huyện Quan Hoá), với một hồ sơ "làng Văn hoá" tưng bừng.
Có nhiều thuyết khác nhau giải thích về cái "tiếng" Chết đói đặt thành tên của bản. Rằng, bấy giờ ai chả đói, nhưng mà Tai Giác đói rạc đói rài, đói đến chết lả gần như "xoá trắng" cả một vùng quê. Nhưng (dĩ nhiên), khi làm hồ sơ báo cáo thành tích để tôn vinh làng văn hoá Tai Giác thì bà con lại kể một "dị bản" khác.
Trước thế kỷ 18, bản có tên là Chiềng Muống. Sự kiện đau lòng xảy ra trong một mùa đói kém, bà con tràn từ Mường Tuồng sang Chiềng Muống ăn xin. Có người nọ đói quá, đi khắp Chiềng Muống ăn xin, đến nhà nào bà con cũng tiếp đãi rất tử tế. Người này ăn rất nhiều, ăn đến nỗi bội thực, bục dạ dày và chết. Ông ta chết trong tư thế ngồi tựa lưng vào tổ mối. Sau này, mối đùn lên như trái núi màu đỏ. Từ đó, dân trong vùng và bà con nội bộ bản cùng nhau cứ thế gọi Chiềng Muống là bản Chết đói, tiếng Thái là Tai Giác.
Cả hai cách giải thích đều... đúng, bởi sự thật là trên bản đồ nước ta đã có một bản Tai Giác (Chết đói) - rất gợi trí tò mò. Trong hai cuộc kháng chiến, và đến hôm nay, dấu tích của sự đói khổ không còn là "âm hưởng chủ đạo" ở Tai Giác nữa. Đất đai trù phú, ba đồng chí trong Ban quản lý bản tháo vát. Xe máy, máy xát gạo, ăngten chảo, tivi màu là những "tài sản" đã tương đối phổ biến ở bản.
Có thể, khi còn nghèo, còn khó, còn la liệt chết đói, ai đó rất áy náy, mặc cảm, ngượng ngùng khi phải "xướng" tên bản mình ra chỗ đông người. Nhưng, thời gian, sự nỗ lực vươn lên, công cuộc đưa miền núi tiến kịp miền xuôi của chúng ta đã dần xoá đi những nỗi đau nghèo đói chết chóc "bị" (được) đặt thành tên như thế. Nay, khi cuộc sống của bà con sung túc, an lành, bóng mây u buồn ngày cũ sẽ tan đi, những cái tên bản Nghèo, Khó, Chết Đói chỉ còn lại như là sự ngưng tụ của những lớp lang văn hoá, lịch sử đáng suy ngẫm. Đám mây ấy, mỗi lần bay qua ký ức của dân thôn, bà con lại thấy tự hào, thấy thôi thúc mãi trong mình cái ý chí vươn lên, kiểu như ai đó hay bảo: "Biến đau thương thành hành động"...
Đỗ Doãn Hoàng

“Pháo lậu” và những ngòi nổ công khai!Tiệc rêu suối ở Mường Lò

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28