Lâu rồi mới viết bút ký!
Monday, June 2, 2008 7:12:25 AM
Lẫm liệt Mã Pí Lèng[/SIZE]
Bút ký của Đỗ Doãn Hoàng[/I][/ALIGN]
1. Mỗi lần, đứng trong sương mơ và gió lạnh của đỉnh Mã Pí Lèng vời vợi, nhìn dòng Nho Quế lắt lẻo chảy giữa bịt bùng núi cao và vực sâu “ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”, tôi cứ vừa ngưỡng vọng một kỳ quan dựng giữa đất trời cao; lại vừa rợn ngợp trước sức quai choòng phá đá thủ công của những người trẻ Việt Nam để làm nên một “Vạn lý trường thành” mang tên đường Hạnh Phúc. Kỳ quan của sức người dựng trước rợn ngợp thiên địa từ 50 năm trước! Núi điệp trùng, đẹp đến thảng thốt. Sông - nhìn từ đường nhựa xuống, chỉ như một luồng ánh sáng yếu mờ, như là không còn chảy nữa, như là không phải sông làm bằng… nước. Sông giống hệt thẻo mây trắng mơ màng dũi lút mình vào trong các kẽ núi xanh, rồi biến mất sau một rông núi uốn lượn như bờm ngựa dựng nào đó. Gió lạnh lùa như nhát chém. Sông cũng giống một thanh kiếm dữ, từ triệu triệu năm trước đã cần mẫn xẻ đôi, bổ dọc các đỉnh núi dựng trời mà tự chôn mình vào trong lòng cao nguyên đá. Các nhà khoa học bảo, sông Nho Quế vẫn hằng ngày hàng giờ tiếp tục chém đứt lìa các khối đá lẫm liệt với “nhát dao” dài dăm ba chục cây số mà triệu triệu năm qua nó đã đả thương cao nguyên đá. Dần dà, có thể, sông sẽ trường chinh vào trong lòng núi đến mức: không ít dãy núi trẻ bị sông bửa gẫy chân, bỗng đổ ụp vào nhau gây nên một kiến tạo địa chất mới…
Đó cũng là lý do mà ngay cả khi du lịch chinh phục cao nguyên Đồng Văn ngút ngàn đang là mốt, số người xuôi chạm được tay tới dòng Nho Quế ở chân Mã Pí Lèng cao khoảng 2.000m so với mực nước biển vẫn chỉ đếm trên đầu ngón tay. Bởi, thường thì bạn phải đi bộ từ sáng đến… tối, mới sờ thấy được dòng nước thăm thẳm dưới chân mình.
Bút ký của Đỗ Doãn Hoàng[/I][/ALIGN]
1. Mỗi lần, đứng trong sương mơ và gió lạnh của đỉnh Mã Pí Lèng vời vợi, nhìn dòng Nho Quế lắt lẻo chảy giữa bịt bùng núi cao và vực sâu “ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”, tôi cứ vừa ngưỡng vọng một kỳ quan dựng giữa đất trời cao; lại vừa rợn ngợp trước sức quai choòng phá đá thủ công của những người trẻ Việt Nam để làm nên một “Vạn lý trường thành” mang tên đường Hạnh Phúc. Kỳ quan của sức người dựng trước rợn ngợp thiên địa từ 50 năm trước! Núi điệp trùng, đẹp đến thảng thốt. Sông - nhìn từ đường nhựa xuống, chỉ như một luồng ánh sáng yếu mờ, như là không còn chảy nữa, như là không phải sông làm bằng… nước. Sông giống hệt thẻo mây trắng mơ màng dũi lút mình vào trong các kẽ núi xanh, rồi biến mất sau một rông núi uốn lượn như bờm ngựa dựng nào đó. Gió lạnh lùa như nhát chém. Sông cũng giống một thanh kiếm dữ, từ triệu triệu năm trước đã cần mẫn xẻ đôi, bổ dọc các đỉnh núi dựng trời mà tự chôn mình vào trong lòng cao nguyên đá. Các nhà khoa học bảo, sông Nho Quế vẫn hằng ngày hàng giờ tiếp tục chém đứt lìa các khối đá lẫm liệt với “nhát dao” dài dăm ba chục cây số mà triệu triệu năm qua nó đã đả thương cao nguyên đá. Dần dà, có thể, sông sẽ trường chinh vào trong lòng núi đến mức: không ít dãy núi trẻ bị sông bửa gẫy chân, bỗng đổ ụp vào nhau gây nên một kiến tạo địa chất mới…
Đó cũng là lý do mà ngay cả khi du lịch chinh phục cao nguyên Đồng Văn ngút ngàn đang là mốt, số người xuôi chạm được tay tới dòng Nho Quế ở chân Mã Pí Lèng cao khoảng 2.000m so với mực nước biển vẫn chỉ đếm trên đầu ngón tay. Bởi, thường thì bạn phải đi bộ từ sáng đến… tối, mới sờ thấy được dòng nước thăm thẳm dưới chân mình.
Nay, đi trong một ngày, bạn có thể lướt hết gần 400km con đường vòng thúng ôm gần như tròn vẹn cao nguyên đá: Quản Bạ - Yên Minh – Mèo Vạc – Mã Pí Lèng - Đồng Văn – Yên Minh (hoặc ngược lại). Toàn đường rải nhựa, với những vách đá, những khúc cong cua quyến rũ con mắt, quyến rũ các tay chơi phim chơi ảnh đến độ… nhất Việt Nam. Có được điều này, là nhờ, từ gần nửa thế kỷ trước, hàng nghìn thanh niên xung phong (TNXP) đã đổ mồ hôi, đổ máu, trong 7 -8 năm trời quần quật, tay trần cầm xà beng cuốc xẻng chọi vào cao nguyên cao nhất Việt Nam, như trứng trọi với đá. Trước, từ thị xã Hà Giang, cứ là phải mất 5 ngày chân trần trèo núi với sức vóc của hổ, báo, sơn dương, chúng ta mới được nhìn thấy Mã Pí Lèng. Mã Pí Lèng, chiết tự theo tiếng Quan hoả, nghĩa là dốc núi cao dựng đứng như sống mũi con ngựa Mèo, hoặc, dốc núi cao tới mức con ngựa lên đây thì truỵ tim, “trung tiện” mấy cái rồi ngúc ngắc cái hàm thiếc lạnh cóng mà chết. Cho đến năm 1959, trước khi hàng nghìn thanh niên của 8 tỉnh, thuộc 18 dân tộc tổ chức 2 triệu ngày công phá đá, khai mở con đường vào Đồng Văn thì cả tám vạn đồng bào ở vùng đất rộng và cao tới mức chỉ một nhát đường bổ ngang đã dài 200km này vẫn chưa bao giờ dám nghĩ rằng có một ngày có cái bánh xe hình tròn lại vào đến quê mình. “Vua Mèo” (theo cách gọi dân gian) Vương Chí Sình, năm những năm 1946, khi về Hà Nội gặp Bác Hồ hay liên tục sau đó là đi họp Quốc hội, vẫn phải cho lính dõng bỏ Vương vào cáng vừa khênh vừa chạy khênh 3 ngày đêm mới ra đến thị xã Hà Giang. Và, khi ông mất, năm 1962, khi đường Hạnh Phúc đã thi công được 4 năm, đã thông xe nhiều đoạn; song, cỗ quan tài của Vương trước khi được vùi sâu chôn chặt trên miền đá, vẫn phải chông chênh trên lưng các tráng đinh người Mông vượt núi rừng ba chục tiếng đồng hồ. Ngay cả khi ông Phạm Đình Dy (nay sống ở Hà Nội), nguyên Trưởng ty (Giám đốc Sở) Giao thông Hà Giang, nguyên Bí thư Tỉnh uỷ Hà Giang, năm 1959, khi nhận nhiệm vụ khảo sát tuyến mở đường Hạnh Phúc, ông vẫn phải bàn giao công việc ở Ty trong cả cái tháng tiếp theo rồi xách tay nải gạo nước mắm muối, cứ bặm môi lội núi mà đi. Lời hẹn, “nếu thời tiết thuận lợi, nửa tháng sau có thể sẽ… về”, nghe có gì đó thật chua xót, nhưng là sự thực của cái thời kham khó ấy. Ông và lãnh đạo tỉnh bị lạc đường, ngủ trong hang núi khiến bà con phải đốt đuốc đi tìm, sáng rực cả núi đồi.
2. Cao nguyên Đồng Văn (tỉnh Hà Giang) là cao nguyên cao nhất Việt Nam, nó trùm lên tất cả các huyện miền Bắc núi đá tai mèo của tỉnh, nó được tôn xưng là cao nguyên đá. Nóc nhà lẫm liệt nhất của cao nguyên Đồng Văn là đỉnh (đèo) Mã Pí Lèng, trên ấy lịch sử đã dựng một tấm bia đá bất hủ, nguyên văn chữ nghĩa như sau: “Nhân dân vùng núi tiến kịp vùng xuôi. Trung ương Đảng khi về Việt Bắc quyết định mở đường Hà Giang - Đồng Văn – Mèo Vạc. Ngày khởi công 10/9/1959; ngày hoàn thành 10/3/1965. Thành phần mở đường gồm bà con của 16 dân tộc thuộc các tỉnh Cao - Bắc - Lạng – Hà – Tuyên - Thái và Nam Định – Hải Dương. Riêng dốc Mã Pì Lèng, công nhân đã treo mình 11 tháng để mở đường”.
Hai triệu ngày công, quần quật trong suốt 7 - 8 năm trời, hàng nghìn người trẻ lúc nào cũng nườm nượp chín rạn tay chân, chín rạn đôi vai (khẩu hiệu công trường là “luyện tay thành chai, luyện vai thành ụ) để khoan đá, đập đá, bẩy đá, xếp đá và cả treo mình trên vách đá suốt 11 tháng trời chỉ để cấn khảm đường vượt qua chỉ một con dốc án ngữ giữa hai huyện Đồng Văn và Mèo Vạc hiện nay. Con dốc đã cãi cả ý trời, khi gồ lưng vòi vọi, biến mình thành ranh giới giữa hai tiểu vùng khí hậu. Hơn thế, lịch sử khai sơn phá thạch làm đường Thanh niên Việt Bắc (tên gọi khác của đường Hạnh Phúc) đã lưu cho mai hậu cả một khu “Nghĩa trang Thanh niên xung phong mở đường Hạnh Phúc” ở huyện lỵ Yên Minh, nơi dành riêng để chôn cất, tưởng nhớ những người anh hùng đã ngã xuống cho con đường dài gần 200km được khai sinh, để cho hơn 8 vạn đồng bào muôn đời muôn kiếp sống sau điệp điệp núi cao và mây mù lần đầu tiên nhìn thấy cái ôtô. Họ đã đánh thức, giác ngộ cả một miền đất mẹ mênh mông bị chìm khuất trong mây mù tự hồng hoang và không ít lầm lạc trong những khúc quanh của lịch sử, khi mà kẻ xấu đã đóng cổng trời lừa mị đồng bào mình. (Xin mở ngoặc về con số hai triệu ngày công mà tuổi trẻ Việt Nam đã bỏ ra cho đường Hạnh Phúc được khai sinh. Đó là con số mà cơ quan chức năng và những người trực tiếp tham gia đại công trường đã thống kê một cách đáng tin cậy, bằng trả lời phỏng vấn chúng tôi và bằng văn bản trong các hồ sơ cuộc tổng kết từ gần 50 năm trước. Người viết bài này nhẩm tính thì cũng đúng như vậy. Tuy nhiên, hai triệu ngày công, một con số khổng lồ ngoài sức tưởng tượng, nếu làm phép tính thế này: một con người nào đó, muốn có được 2 triệu ngày công cho một công việc gì đó, thì họ phải sống tới 5.479,5 năm tuổi (hơn năm nghìn tuổi!!!). Cho nên, con số 2 triệu ngày công cần hiểu, đó là biểu tượng khả kính của tình đoàn kết thanh niên - đồng bào 8 tỉnh, bà con thuộc 18 dân tộc trên đất nước ta, trong công cuộc kiến quốc vĩ đại).
Bà Viên Chi Anh, gần 70 tuổi, một cựu TNXP mở đường Hạnh Phúc đang sống ở TP Lạng Sơn vẫn tâm niệm rằng, phần đời hào sảng nhất, xả thân vì cộng đồng nhất mà bà đã có, ấy là thời gian mở đường Thanh niên Việt Bắc. Cái chữ Hạnh Phúc đáng mềm lòng kia là do Trung ương đặt cho con đường do thanh niên của toàn bộ Khu tự trị Việt Bắc (gồm 6 tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang) thi công; khi khánh thành, Bộ trưởng Bộ Giao thông bấy giờ là ông Phan Trọng Tuệ lên cắt băng khánh thành. Năm 1965, khi con đường gần 200km được lê mình nhích từng xăngtimét (theo đúng nghĩa đen) trên biển đá lớn nhất Việt Nam, “cập bến Mèo Vạc” xa xôi, thì cũng là lúc đất nước ông bà có thêm những kỷ lục: đường Thanh niên Việt Bắc là con đường thi công gian khổ - hiểm nguy nhất, thủ công nhất, huy động lượng TNXP đông nhất, làm trong thời gian lâu nhất, với số ngày công khổng lồ nhất. Nửa thế kỷ qua, chưa có con đường nào phá một trong những kỷ lục trên. Và, có lẽ, vĩnh viễn, trong thời đại của máy móc, tên lửa vũ trụ này, chúng ta sẽ không còn phải đổ quá nhiều mồ hôi và máu để lập kỷ lục bi tráng kiểu kia nữa.
Đó là một khúc tráng ca của sức trẻ Việt Nam, là sự chiến thắng của họ trước khúc tráng ca của đá. Bà Chi Anh khóc: “49 năm đã trôi qua, người bây giờ sẽ không ai hình dung được ngày đầu tiên chúng tôi thông xe vào đến những bản làng heo hút. Khi xe đi rồi, đi dăm ba cây số rồi, chó trong bản vẫn sủa rền vang, vì chó bản nó chưa gặp một “sinh vật lạ” đi như con ngựa mà không ăn cỏ (cái ôtô) bao giờ. Độ ấy, bọn phỉ nó thề: bao giờ đá mọc được trên đầu người, bao giờ con dê đực biết đẻ thì Việt Minh mới mở được đường qua cổng trời Quản Bạ, vào Mã Pí Lèng”. Cái vựa thuốc phiện giàu có và ngon nghẻ nơi này, là miếng mồi béo mà quá nhiều thế lực phản động muốn xâu xé, thế nhưng, ngay như người Pháp khi đã đô hộ Việt Nam rồi, họ cũng có làm được đường cho xe chạy vào cao nguyên đá đâu. Quá gian khổ!
Cho nên, khi nhận thấy cái bức xúc là: giải phóng Điện Biên đã được 5 năm mà mấy cái huyện biên cương tột Bắc vẫn chưa có đường vào, Trung ương cũng chỉ dám cử người đi tìm hiểu xem liệu có làm được đường lên Đồng Văn hay không thôi (chứ không ao dám chắc là thi công nổi). Ông Phạm Đình Dy, sau khi đi khảo sát còn bị lạc nửa đêm chưa ra khỏi rừng già, dân bản phải đốt đuốc đi tìm; bèn về báo cáo: ít nhất phải 5 năm mới xong được con đường vào Đồng Văn. Bấy giờ, đồng chí Minh Đức, Phó Chủ tịch kiêm Trưởng Ty Công an tỉnh Hà Giang còn nghĩ xuề xoà tới mức, bảo: “Từ thị xã vào đến Đồng Văn là 160km (sau này mới làm đoạn đi Mèo Vạc 24km nữa) phải không? 160km là 160.000m, mỗi người làm một mét đường đi, dân ta đông, ta huy động 16 vạn dân Hà Giang cùng ra quân, chỉ vài ngày là xong béng”. Thì đồng chí ấy cứ hút thuốc lào roen roét và cứ nghĩ theo kiểu trai bản: mở một mét dài của con đường quê, một lực điền chỉ san ủi đào bới tí là xong, cũng có lý. Song, mở đường trên xứ sở không có gì ngoài đá, đá điệp trùng hai trăm cây số, với những vách núi cao hàng trăm mét, rồi lại còn cầu cống, lại còn những vùng hang hốc cứ rải đường xếp đá xong là sụt như kiểu “An Dương Vương thành vừa xây xong đã đổ”… là một thách thức ngoài sức chịu đựng của cơ bắp con người! Có đoạn như ở Pả Vi, ở Cán Tỷ, hay ở Mã Pí Lèng, suốt 1 năm trời, anh chị em phải treo mình lơ lửng trên vách đá cao nghìn mét, khoan từng xăngtimét đá thì lại càng kinh khủng. Quả nhiên, ông Dy đã phải chạy vạy như con thoi, về gặp cả Bí thư Khu uỷ, xin điều thanh niên của 6 tỉnh, rồi 8 tỉnh lên giúp Hà Giang mở đường; hàng nghìn TNXP, lại cộng thêm lưu lượng gồm hàng nghìn dân công nghĩa vụ lúc nào cũng đủ quân số để phá đá trong suốt 7 năm, lúc đó, đường mới hoàn thành.
Lại nói chuyện bà Chi Anh, thân gái dặm trường dám chặn ôtô của Trưởng Ty Giao thông Lạng Sơn, cùng 300 TNXP của tỉnh xông pha lên Hà Giang, “tiến vào rừng sâu làm giàu cho tổ quốc”. Bà cùng đồng đội chỉ có hai cái dụng cụ là búa và troòng (như cái xà beng tám cạnh) để đục đá. Đục đá nhét mìn vào cho nổ, vỡ đá ra, phá đá, tạc khảm đường vào biển đá, rồi đá xếp nhẵn nhụi cho nó thành con đường có bề rộng 4,5m để ôtô ì ì tiến vào - chứ không có xi măng hay nhựa nhủng gì. Hoàn toàn thủ công: cầm búa nện vào troòng, hàng nghìn người cứ thế phá đá. Chị Chi Anh hồi ấy trẻ, đẹp, là hạt nhân của đội văn nghệ toàn đại công trường. Ngày treo mình trên vách đá bằng một cái dây da bảo hiểm, giắt quanh thắt lưng 3 cái mũi troòng, dùi thủng được vào lòng đá cái lỗ sâu 20cm, lại lấy cái troòng dài 40cm ra đục, đục xong, lại đến lượt cái troòng dài 60cm. Đục càng sâu thì càng phá được khối đá lớn. Càng sớm trở thành “kiện tướng đục lỗ troòng”, trên công trường có thao diễn và có phong “kiện tướng” hẳn hoi. Có khi treo mình trên vách núi quên cả ăn cơm trưa. Tối về, cơ thể thiếu nữ thâm xì những vết hằn do dây xa “treo xác” mình suốt cả ngày.
Chiều muộn, anh chị em được thủ kho của công trường phát cho vài lít nước vừa để rửa ráy, vừa để đánh răng, rửa mặt, giặt bít tất, tưới rau, mài búa rũa troòng phục vụ công việc ngày mai. Bởi cao nguyên đá Đồng Văn là nơi thiếu nước nhất Việt Nam. Những ngày tá túc trong nhà của Vương Chí Sình, ông Nguyễn Mạnh Thuỳ, TNXP Hà Giang còn nhớ y nguyên, anh chị em phải dùng vải màn tuyn lọc bỏ bọ gậy, cung quăng, lọc ba bốn lần chưa hết, rồi đem nước lưu cữu ở các hố các vũng đá nấu lên ăn. Có khi trót đánh rơi miếng xà phòng vào, nước hắc xì, vẫn phải lấy nước ấy nấu cơm, cố mà nuốt. Thiếu nước còn nhục hơn thiếu cái ăn. Mỗi một A (tiểu đội) chỉ 12 người, có hôm anh chị em phải cắt cử tới 2 người đi tìm… nước. May mắn thì có rau quả, “hiếm ngọn rau xanh vì thiếu nước/ bí đỏ muôn năm/ vạn tuế xu xu và cải có lông” (thơ của ông Thuỳ). Rau quả phải mang từ dưới xuôi lên, cao nguyên đá không có rau, có chăng chỉ vài tàu rau cải “tuốt nách” (tuốt vào nách rồi nấu luôn, chứ không có nước rửa). Đại công trường hơn 2.000 người, chỉ có vài con ngựa và hai cái ôtô cũ tiếp phẩm ở những nơi đã thông đường. Những ngày mưa gió, xe không vào được, anh em đành ăn ngô… sống, ăn cơm với mắm tôm khô rang nóng với chảo nóng khét mà không có mỡ. Mắm tôm bốc mùi… thối, vẫn phải ăn. Ông Đỗ Đức Mai, ngoài 80 tuổi, đang sống ở TP Lạng Sơn là người phụ trách hậu cần của C (khoảng 100 người) Lạng Sơn rưng rưng: cho anh em ăn canh đậu lõng bõng, ăn mắm tôm khô, tôi bị cấp trên mắng: ăn thế này thì sống thế nào được. Mồm người thanh niên xung phong không phải là… mồm chắc! Tôi gạt nước mắt chả biết nói gì. Không có mỡ mũi gì, không thịt thà gì, tôi biết “chế biến” làm sao?
3. Nếu không hiểu về cái thời hào hùng xây dựng chủ nghĩa xã hội, mỗi người trẻ muốn xé lồng ngực mình, moi trái tim Đan-kô đỏ như ngọn lửa ra soi đường cho cộng đồng đi tới thì quả là nhiều người sẽ không thể hiểu được hàng nghìn người trẻ ở công trường phá đá Đồng Văn kia lấy đâu ra sức mạnh để làm nên kỳ tích. Hai triệu ngày công! Vắt kiệt sức mình đánh nhau với đá, đêm về lại tập văn nghệ, triển lãm về những anh hùng đội đất đá, kiện tướng chăn trâu; tổ chức thao diễn phong kiện tướng công trường trong kỹ năng… đục lỗ troòng phá đá. Hai vị kiện tướng mà hàng vạn người từng tham gia phá đá ở Đồng Văn không bao giờ quên được, đó là “kiện tướng số 1” Lôi Quang Hải người ở thị trấn Đồng Mỏ, Lạng Sơn, thành tích: trong 7 tiếng đồng hồ dùng xà beng khoan được hệ thống lỗ troòng (sau đó nhét mìn vào đó nhằm nổ phá đá) có tổng chiều sâu tới 4,2m, vô địch toàn công trường. Người tiếp ngay sau trong “bảng xếp hạng” là Lý A Pủn, người Lục Bình, Lạng Sơn. Anh chị em còn bầu ra đội Thạch Sanh đi kiếm củi, đội thợ rèn sửa sang lại búa, troòng, đội may vá quần áo. Có đội xung kích bồng súng đứng gác suốt đêm cho đồng đội an giấc khi mà bọn phỉ vẫn lẩn lút mổ bụng cán bộ, treo xác cán bộ lên cây tập bắn.
Ông Trịnh Văn Đảm, ngoài 70 tuổi, sống thanh bần ở ven sông Lô, thị xã Hà Giang thời mới, giở quyển sổ ố cũ, đọc tên 12 người đồng đội đã ngã xuống vì con đường, có tên tuổi địa chỉ mà ông đã ghi chép được (cũng khớp với tên ghi trên các bia mộ ở Yên Minh) cho tôi nghe. Rồi, quên mất là khách đang ngồi trước mặt, ông giở tập ảnh cũ, nói và sống tuyệt đối với cái ngày treo mình 11 tháng vượt Mã Pí Lèng. Nếu nói là cao và dài, thì dốc Mã Pí Lèng thua con đèo cao - dài nhất Việt Nam Ô Quy Hồ (54km), hay xấp xỉ như Đệ nhất hùng quan đèo Hải Vân (32km); nhưng Mã Pí Lèng rợn ngợp hơn, kỳ quái và gợi nhiều xúc cảm vũ trụ hơn hết thảy những dốc đèo vực thác của Việt Nam. Bởi nó được làm toàn bộ bằng đá, đá khối như vừng trán cương nghị của tổ quốc, đá tai mèo phún sắc chìa ra với vực cao ngàn thước, dưới đó có dòng Nho Quế lượn lờ như một sợi dây chão mà thợ sơn tràng bỏ quên. Trước, khu vực này có một con đường mòn ngoắt ngéo chữ chi để lên tới đỉnh Mã Pí Lèng, đứng trên đỉnh núi, nhìn lối mòn nó cuồn cuộn như con mãng xà trắng, bà con đặt tên là dốc Chín Khoanh. Gần một năm trời khi thi công đường Hạnh Phúc vượt Mã Pí Lèng, dân công bị cho giải tán bởi quá nguy hiểm, chỉ TNXP lành nghề mới được phép thi công. Anh chị em treo mình trên vách đá hun hút. Anh chị em khoan đá, cắm cái xà beng vào vách núi dựng trời, vuông góc với mặt sông Nho Quế làm điểm bấu víu để tiếp tục khoan. Hàng chục cái xà beng cắm lia chia vào vách núi từ thuở khai thiên lập địa chưa có ai rờ đến của Mã Pí Lèng, anh chị em nối dây chão lớn buộc vào các cột xà beng và cứ thế “bơi bơi” đu mãi ra với vực đá. Đu đến đâu, khoan và nổ mìn đến đó. Nhìn xuống vực sâu hut hút, ai nấy chóng mặt, nín thở nhìn đồng đội đánh nhau với đá. Họ nín thở đến 11 cái mùa trăng biên giới. Thì một tai nạn thảm khốc xảy ra.
Người đồng đội quê Thái Nguyên của họ đã tử nạn. Anh tên là Đào Ngọc Phẩm. Đang nghỉ trong lán, thấy viên đá to bằng gian nhà lăn như cơn bão chết chóc vào hai bố con người đàn ông Mông đứng xem công trình, anh Phẩm nhào ra, dúi họ vào hang đá thoát chết. Thương thay! Anh Phẩm bị đá lăn, đá lớn cuốn anh xuống vực. Thi thể anh nát bươm, mắc ở một chỏm đá nhô ra, cách con đường Hạnh Phúc vượt Mã Pí Lèng hiện nay khoảng 800m sâu. Ông Thuỳ, ông Minh đã kỳ công cùng anh chị em khoan vào vách đá, cắm xà beng, trườn mình như mối dách trong mây gió xuống vũng máu nhuộm giữa đá tai mèo, buộc phần da thịt anh Phẩm kéo lên. Mộ anh giờ cũng nằm ở Nghĩa trang TNXP mở đường Hạnh Phúc ở huyện lỵ Yên Minh. (Người viết xin lỗi kể thêm chuyện lẽ ra không nên kể này: từ khi thu lượm tử thi anh Phẩm lên, vĩnh viễn, ông Thuỳ, ông Minh (đang ở Hà Giang) không bao giờ dám ăn một món thịt xương mềm mụp hay hầm nhừ nào trên đời nữa. Bởi, nhìn thấy cái gì mềm mềm xương thịt là nỗi ám ảnh về tai nạn giữa rợn ngợp đá Mã Pí Lèng lại hiện về. Cũng như, từ ngày nhận ra mình rất giống bác Nguyễn Tuân, khi nhà văn cùng các ông Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Văn Cao… lên Đồng Văn đi thực tế ở đại công trường phá đá, ông Minh đã không mấy khi rời cái mũ phớt phớt Ăng-lê y xì phoóc cụ Nguyễn trên đầu mình nữa. Chỉ tiếc, một sự kiện trọng đại, một công trường tụng ca sức trẻ Việt Nam đến ngần ấy, mà đi thực tế rồi, các nghệ sỹ vĩ đại của chúng ta cũng không thai nghén sinh hạ được tác phẩm nào xứng tầm. Để đến nỗi các cựu TNXP kể chuyện cuộc trường chinh lẫm liệt vào trong lòng cao nguyên đá của mình bị xem là: về già, lẩn thẩn, bịa ra… “cổ tích”).
4. Kỳ tích lẫm liệt hai triệu ngày phá đá của tuổi trẻ Việt Nam đã thực sự là nhân cốt đánh thức vùng cao nguyên mênh mông muôn đời ngủ quên trong mây cao phía sau mấy cái cổng trời kia. Đã thật sự chấm dứt những lầm lạc đáng tiếc do các thế lực phản động gây ra bằng cách mê dụ đồng bào (bấy giờ) còn quá lam lũ, với ít nhiều mông muội của chúng ta. Song, thật đáng tiếc, hầu như, nửa thế kỷ đã trôi qua rồi, mà đến tận giờ phút này, chúng ta vẫn chưa có một công trình thành văn, một tác phẩm, một thước phim tài liệu xứng đáng nào khả dĩ vinh danh cho kỳ quan đường Hạnh Phúc gần 200km xuyên qua cao nguyên Đồng Văn, vượt Mã Pí Lèng - nơi mà người Mông tin rằng, lên đến đó có thể nghe tiếng lách cách của ông bà Trời đang… rửa bát.
Khi tìm tài liệu cho bài viết này, tôi, ngoài những chuyến liên tục vượt cổng trời vào Mèo Vạc, đã phải lục từng cái ảnh bé tí tẹo mà vài TNXP đã cống hiến tuổi trẻ cho Hà Giang còn sống sót ở nhiều tỉnh thành xa xôi còn giữ được. Đó là những bức ảnh kỷ niệm “sến mướt” mà trai gái đề tặng nhau thôi. Tôi phải cầm lòng chẳng đặng trước nước mắt của những người lụ khụ già nua, rằng: gặp được anh là tôi an lòng rồi, chứ kể chuyện phá đá mở đường 8 năm ở Đồng Văn cho con cháu nghe, chúng nó không tin, bó bảo là ông cứ kể chuyện Khổng Minh đi vào rừng rú bắt… Mạnh Hoạch, đau lắm. Hà Giang đã trở thành quê hương thứ hai của những người trẻ đóng góp vào 2 triệu ngày công đằng đẵng cho đường Hạnh Phúc được sinh hạ. Không ngày nào, không đêm nào họ không mơ về cái chốn rừng thiêng nước độc đã lưu giữ phần đời hào hùng nhất của họ. Nhưng lịch sử hình như đã lạnh lùng trôi qua mà quên hẳn những ký ức như là khúc tráng ca của tuổi trẻ, như là sự lẫm liệt khó hình dung của thanh niên thời xã hội chủ nghĩa ấy. Dăm bảy trăm thanh niên xung phong làm đường Hạnh Phúc vẫn sống (nhiều người đã chết vì tuổi già bóng xế) ở Hà Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên và lưu lạc ở các miền quê khác; những người trực tiếp lên kế hoạch, chạy vạy, rồi làm chỉ huy đại công trường phá đá kia vẫn sống, nhiều người từng làm đến lãnh đạo cao nhất tỉnh Hà Giang, tư liệu sống rất sinh động và cảm động. Nhưng, tiếc thay, kể cả lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Giang cũng chỉ có vài chữ về việc Trung ương có điều thanh niên 18 dân tộc mở đường Hạnh Phúc, hết. Gần 50 năm qua, hầu hết TNXP mở đường Hạnh Phúc vẫn mỏi mòn ao ước một lần được thắp nhang tưởng nhớ đồng đội xấu số ở nghĩa trang mở đường Hạnh Phúc (huyện Yên Minh), rồi thăm lại “chiến trường” phá đá năm xưa, mà vẫn chưa có kinh phí vài triệu đồng để thực hiện. Bao nhiêu kiến nghị, bao nhiêu mơ ước, mãi rồi mới lác đác vài người được nhận kỷ niệm chương TNXP. Nhiều người đã được cấp trên ký quyết định trao tặng, chưa kịp nhận thì đã được các cụ gọi về… trời.
* *
Trong lễ đón nhận kỷ niệm chương cho một số đồng đội TNXP mở đường Thanh niên Việt Bắc là người Lạng Sơn của mình, ông Đàm Văn Kiềm đọc diễn văn thống thiết: vào giờ phút này, chúng ta buốt lòng nhớ tới lời của anh Lương Quốc Chanh, trước khi nằm lại biên cương vì bệnh sốt rét, anh bảo: “Sau này, mở đường xong, về lại quê cũ Lạng Sơn, liệu có ai còn nhớ tới tôi không? Nằm biên thuỳ xa xôi, bên lối mòn dốc dác sim mua này, tôi sẽ nhớ mọi người lắm đấy”.
Tiếng khóc rền vang cả hội trường.
Nửa thế kỷ trước, khi mà cái gì cũng thiếu, tất cả hy sinh cho tiền tuyến, anh chị em đều chăm chắm xả thân cho xứ sở, xong việc, đều kiêu hùng trở về, tiếp tục khai phá các đại công trường “cho đất nước hồng hào công nghiệp” khác, chẳng cầu gì cho riêng mình cả. Nhưng, không lẽ, nay đã có điều kiện rồi, chúng ta vẫn cứ để khúc tráng ca kỳ vĩ, lẫm liệt của đá, của sức người đó bị lãng quên?
Người viết bài này vừa ở Yên Minh về, hỏi đủ cả lãnh đạo huyện không ai biết nghĩa trang TNXP mở đường Hạnh Phúc ở đâu. Bà con càng không biết. Tiêu hết cả buổi chiều biên tái, rồi cũng thấy khu nghĩa trang tưởng nhớ các người trẻ đã ngã xuống cho sự phồn hoa của hàng chục phố núi trên tột Bắc Việt Nam ấy, họ đang nằm ở cuối một con ngõ hoang, đất đỏ lầy thụt, trong lá mục nao buồn, cỏ cây trùm lút các nấm mồ nhỏ bé. Trên bia, tôi đọc được tên anh Lương Quốc Chanh, người nằm lại với nỗi niềm, “mai này, đường Hạnh Phúc mở xong, có ai còn nhớ tới tôi không”. Trên bia mộtghi rõ: Lương Quốc Chanh, hy sinh ngày 18/6/1961.
Đỗ Doãn Hoàng
(Bài đã đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số cuối tháng 5 năm 2008. Có kèm chùm ảnh tư liệu và hiện tại ở Mã Pí Lèng)












