Một trang núi rừng buồn của phía Tây toàn núi...
Sunday, May 17, 2009 10:57:07 AM
“Xóa sổ” Sa Lai
Phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng
Thiên nhiên hoang dã và các biến thiên lịch sử ở Tây Bắc đều dữ dằn. Nhiều thảm họa xảy ra, vô tình có những đứa trẻ sống sót, được sự cưu mang của bà con, của anh bộ đội cụ Hồ, qua phấn đấu, họ đã trưởng thành, đã như là một phần biểu tượng của Tây Bắc quật cường. Đó là hai “Em bé Mường La”, bị giặc Pháp đốt nhà, giết hết bố mẹ, tình cờ các anh bộ đội đi qua, đón các em theo chăm sóc; em làm chiến sỹ liên lạc, rồi trở thành người cán bộ tâm huyết ở tỉnh suốt mấy chục năm. Bài hát “Em bé Mường La” và bộ phim cùng tên đã gây xúc động lớn trong công chúng suốt nhiều thập niên qua (nhân vật “em bé Mường La”, là ông Lò Văn Muôn, hiện đang sống ở thị xã Sơn La). Đó là “Em bé Mường Pồn”, cả bản làng bị tàn sát, bé gái duy nhất còn sống sót, nó nhoay bầu sữa của người mẹ, uống máu tươi rồi máu khô của người mẹ đã chết, rồi bé lịm đi cho đến khi anh lính cụ Hồ trên đường tiến vào giải phòng Điện Biên “nhặt được”. Bé đi theo trung đoàn Bế Văn Đàn, được đặt tên là Nọng Phơi (tiếng Thái là em bé rơi rụng,), đến trước trận huyết chiến với 16 tập đoàn cứ điểm của Pháp, anh bộ đội đã đem bé Phơi gửi một gia đình người Thái ở Mường Pồn nuôi (gia đình này đặt tên bé là Lò Thị Phơi, nay bà Phơi đang sống ở cách TP tỉnh lỵ Điện Biên Phủ 22km). Các tác phẩm ký họa chân dung “Em bé Mường Pồn” tội nghiệp đã được họa sỹ Thanh Tâm trưng bày nhiều lần, sách báo viết về tình cảm của trung đoàn Bế Văn Đàn, người họa sỹ đã chăm sóc và vẽ bé Phơi với các số phận thảm thương Mường Pồn, như là một phần biểu tượng của Tây Bắc bi tráng và thắm tình quân dân.
Trong bài thơ “Tây Tiến” của cố thi sỹ Quang Dũng, có nhắc đến những “đoàn binh không mọc tóc”, “quân xanh màu lá dữ oai hùm” ở khu vực “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Bình giảng bài thơ này thì dài dòng, nhưng thứ mà các câu thơ vừa diễn tả, tựu trung chỉ gói trong hai từ Sốt Rét là xong cả. Sốt rét dưới chân dãy núi Pha Luông (Núi Lớn), dãy núi giáp biên hai nước Việt Lào (địa phận huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La), rất khủng khiếp. Sốt rét là nguyên nhân để nhiều đời, bà con ở đây phát triển dân số âm; rồi phải đi nhận trẻ em từ nhiều vùng khác nhau về làm con nuôi, như một tâp quán. Bởi, khi ai đó đã bị sốt rét, nó rất “cản trở” đường sinh nở. Các tráng binh Tây Tiến toàn người Hà Nội, vào chiến trường kiểu “một ngày biếc thị thành ta rời bỏ”, xếp bút nghiên theo việc đao cung. Nên vấp phải Pha Luông trên hành trình Tây Tiến, là bị sốt rét, mặt mày xanh rớt, tóc rụng trọc. Gió Lào như lửa táp ngàn cây, mưa về ẩm ướt suốt cả trăm ngày ròng trong năm, bệnh rốt rét hành hoành, khiến cho “rải rác biên cương mồ viễn xứ” là dễ hiểu.
Một điều mà, có lẽ, ngay cả ông Quang Dũng và các chiến binh Tây Tiến đã nằm lại biên cương vì sốt rét kia cũng không tài nào hình dung nổi, đó là: năm 1991, dịch sốt rét bùng phát, trong vòng 1 tuần, nó giết chết hơn ba răm người ở Sơn La. Những bản làng bị xóa sổ hoàn toàn, người chết nằm la liệt trong nhà, không còn người sống để mà chôn người xấu số. Tỉnh Sơn La, độ ấy báo cáo lên “trên” là có hơn 309 người bị chết dịch sốt rét trong vụ đó. Con số ấy, theo nhiều nhân chứng, mới chỉ phản ánh một phần của thảm trạng. Tại xã Xuân Nha, huyện Mộc Châu, có bản Sa Lai bị sốt rét tấn công chỉ còn một dúm người sống sót, cái bản người Mông trù phú bỗng chốc biến thành nghĩa địa hoang tàn. Ngôi nhà cuối cùng còn sống sót trên đất Sa Lai, có 9 người thì bốn người đã chết mà chưa có ai đem chôn; 5 đứa trẻ mồ côi “toàn diện” được cán bộ địa phương tức tốc cõng bế chạy khỏi vùng dịch, cán bộ y tế vào chống dịch cũng bị sốt rét thừa sống thiếu chết. Năm đứa trẻ ốm o, xanh rớt, khò khử, gầy mòn như những con mèo hen oặt ẹo trên vai đoàn cán bộ tỉnh, huyện, xã đang “mở đường máu” đi bộ vào cứu người trong vùng dịch.
Câu chuyện cuộc đời của 5 em bé sống sót, niềm vui sau 18 năm được cưu mang dạy dỗ, dễ khiến người ta cảm khái thốt lên ba tiếng thật tử tế: Nghĩa đồng bào!
Bốn đứa trẻ "người rừng" khi mới được cứu khỏi rừng mả (người đàn ông là nhà báo, người ở bìa phải là cô bảo mẫu):
"Bọn chúng lớn lên dần dà tại Trại trẻ mồ côi:
Giàng Thị Mo sau khi tốt nghiệp trường Thiếu sinh quân, học ngành sản nhi, đã xúng xính trong ngày cưới (chồng là cán bộ xã đội):
Năm 2009 này, 2 trong số 4 chị em họ đều đã có chồng, con; một người đi học Cao đẳng, cậu bé còn lại là cán bộ ở chính cái xã có cái bản mà bố mẹ, anh chị em, bản làng của họ đã vĩnh viễn nằm lại:
Bất ngờ thay, đêm Tây Bắc, tôi và Giàng A Lau đã gặp nhau tại ký túc xá của các học viên Đại học ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn (A Lau bên trái):
Những đứa trẻ thoi thóp sống trong “rừng mả”
Ông Đường, là người Thái, Phó Bí thư Đảng ủy xã Xuân Nha, một cái xã của huyện Mộc Châu rừng rú, mà nó rộng hơn cả diện tích của tỉnh Thái Bình, rộng và hoang thẳm đến mức, giờ đây, nơi đây, người ta xây dựng cả một Khu bảo tồn thiên nhiên mang tên Xuân Nha. Đến mức, tháng 5 năm 2009, vào Xuân Nha, chúng tôi vẫn phải đi vòng sát biên giới Việt Lào, đi chóng mặt trên các đỉnh núi chon von, đường đang được vỡ đá xẻ lối tan hoang. Nắng như đổ lửa. Hoang đến mức, cách đây chưa lâu, có tới 3.000 dân di cư tự do vào tàn phá rừng ở Xuân Nha, người ta phải tiến hành chia Xuân Nha thành 2 xã, là Xuân Nha và Tân Xuân như hiện nay.
“Thế mà 18 năm trước, khi dịch sốt rét tràn qua, chẳng nói thì các anh cũng biết, quê chúng tôi rậm rạp đến mức nào. Rừng tràn vào tận cổng ủy ban xã, rừng đầy ăm ắp. Chẳng đâu xa, cách đây 3 năm (khoảng năm 2006), dân ở đây họ còn bắn chết cả 2 con bò tót, cắt lấy mật, lấy bọng nước đái đem bán cho người ta uống. Con bò tót cái bị bắn ở bản bên này, con đực ở bản bên kia, bên kiểm lâm vào, còn thu được cả cái đầu bò tót rồi khởi tố vụ án cơ mà” - giọng ông Đường vừa rầu rĩ lại vừa… tự hào.
Người già ở Xuân Nha kể: đất dựng bản Sa Lai, vốn là nơi định cư lâu đời của người Thái, nhưng vì bị dịch bệnh “ăn” đã nhiều lần, họ tin rằng đất ấy có “ma”, đã bỏ xứ ra đi. Sau này, người Mông từ mạn Lào Cai kéo sang, phát đốt trọc trỉa, dựng bản ở Sa Lai. Bấy giờ, tháng 5 năm 1991, bản Sa Lai không mùng màn, không thuốc thang, dịch sốt rét kéo đến và thả sức tác yêu tác quái, họ cứ thấy nhức đầu, buồn nôn, đau nhức, bụng phình to, sốt theo giờ, rồi hôn mê lịm đi. Vài người già chết, các hộ bảo nhau đem chôn ngoài bìa rừng. Rồi nhà nào cũng có người chết, có nhà chết sạch không còn một ai, người chết nằm đó, không còn người khỏe đi chôn nữa. Nhiều người hoang mang, cứ thế này thì chết hết cả bản, cũng chẳng có ai biết để mà đến cứu, cũng chẳng có ai được người trong bản đem chôn để về với Giàng (trời, trong quan niệm của người Mông). Nghĩ vậy, nhưng cơn sốt co giật, lịm đi, người trai tráng nhất bản Sa Lai cũng chịu không sao cất mình lên để lội rừng đi kêu cứu được nữa. Họ cứ đắp chăn nằm chờ số phận. Bản làng của họ nằm tít trong rừng già, không có đường đi, không có phương tiện liên lạc, năm thì mười họa có người nào đó đi săn hoang thú lạc vào bản Sa Lai thôi.
Ông Đường nhớ y nguyên, bấy giờ ông làm cán bộ tư pháp ở xã. Có người đi nương qua bản Sa Lai, thấy đìu hiu vắng vẻ, họ mới ghé vào một căn nhà với ý định xin ngụm nước uống. Xung quanh lặng ngắt, dăm bảy người nằm chết đè lên nhau, già có, trẻ có. Hãi hùng, người đi nương gào gọi, thì thấy tiếng rên khe khẽ ở ngôi nhà của Giàng A Của. Của mới 27 tuổi mà có tới 7 đứa con, đám trẻ đứa nào cũng nằm rên ời ợi, có đứa đã lịm đi như là tắt thở. Bên cạnh là vợ Của, chị Giàng Thị Nhứ, trong ổ bụng chướng phình của chị, bé gái da bọc xương lim dim ngủ, nó không còn đủ sức để khóc nữa. Chỉ một ngày nữa, là bản Sa Lai sẽ không còn một ai sống sót. Sốt rét ác tính, không đủ sức đi làm nương, không đi đào của mài được, lại ở biệt lập giữa rừng, muỗi thả phanh mà đốt, đúng là dịch sốt rét đã lây lan trong môi trường vô cùng thuận lợi. Bản làng, ai bỏ chạy được thì đã chạy cả, số còn lại chết ráo. Vợ chồng Của, Nhứ chết, hai đứa con của họ cũng chết theo. Năm đứa trẻ con lại quá sợ hãi ngôi nhà “ma ám” đã bỏ ra bìa rừng dựng một mái phủ lá tá túc qua ngày.
Lúc lều sập, chúng táp vào một nghĩa địa hoang tàn của người Thái (tộc người này có tục dựng lều, chia của cho người chết) để sinh sống. Hằng ngày, hai đứa trẻ lớn nhất cầm dao, thuổng vào rừng kiếm củ, quả về cho các em cùng ăn. Cô Lù Thị Han, người “mẹ” (cán bộ chăm sóc trong trại trẻ mồ côi) của các cháu suốt 18 năm qua, kể: khi đoàn cán bộ vào rừng tìm, các cháu sợ hãi bỏ chạy, vài đứa không manh áo quần, nhớp nhúa bùn đất, có người hoa mắt cứ ngỡ đó là đàn khỉ hoang! Các cháu đều bị suy dinh dưỡng, bụng ỏng đít eo, các cơn sốt rét ác tính hành hạ. Khi đi đón các cháu, anh Miền, bác sỹ nhi khoa nổi tiếng của tỉnh phải đi cùng để chăm sóc. Đi bộ qua khu vực có đồn Biên phòng, cháu Lau lên cơn sốt nặng quá, đoàn phải dừng để vào đồn xin thuốc cho cháu uống kẻo không thể sống nổi.
Trở lại hành trình cứu các cháu bé. Khi tin dữ báo ra xã, trạm y tế xã không biết phải hành động thế nào.
Cũng đợt đó, có anh Nguyễn Văn Lụa, là nhà báo công tác ở Đài Phát thanh truyền hình của tỉnh vào đồn biên phòng ở vùng Xuân Nha công tác, nghe chuyện, anh Lụa một mặt về kiến nghị lên tỉnh, một mặt viết lên một số tờ báo Trung ương, rằng hãy cứu lấy 5 cháu bé còn lại của bản Sa Lai đang cô quạnh, đói khát, dịch bệnh giữa rừng già, cứu lấy Xuân Nha trước khi vùng đất này bị hủy diệt toàn bộ vì đại dịch sốt rét. Tiếng kêu cứu thấu lên huyện, tỉnh, trung ương. Việc dập dịch sốt rét khủng khiếp ở Sơn La đã chấn động cả nước vào giữa năm 1991. Bộ đội biên phòng, huyện hội phụ nữ, đài truyền thanh huyện, cán bộ xã, tỉnh cùng dốc sức cứu dân ra khỏi vùng ‘tử huyệt” của sốt rét. Bản làng không còn một ai, ngoại trừ 5 đứa con của gia đình anh Của. Đám trẻ như đàn mèo hen ne nép trong hang núi, giữa khu rừng mả hoangg tàn, chúng đã được đưa ra tỉnh chăm sóc, chữa bệnh. Vợ chồng anh Của, chị Như và hai đứa con của họ, cùng bản làng của họ đã nằm lại vĩnh viễn với Sa Lai, Nà Bu (bản bên cạnh, nhiều người được khênh ra đó rồi chết). Đã có nhiều năm, bà con địa phương tin rằng, Sa Lai là vùng đất bị ma ám.
Cả chục năm sau đó, Xuân Nha vẫn rậm rạp, hiểm trở, xa xôi, nghèo khó, những đứa con hầu như không có cơ hội trở về thăm bản làng, thăm hai ngôi mộ xếp đá ở bìa rừng Nà Bu. Giữa rừng già, không khai sinh, đẻ đái không báo cáo ai, không nhờ ai đỡ đẻ hay cắt rốn, cho nên, kể ra thì có người sẽ không tin: việc đầu tiên cán bộ địa phương phải lo lắng, là “tính đếm” lại “số liệu” về những đứa trẻ. Phải tìm một người giỏi tiếng Mông, trò chuyện với những đứa trẻ đang quặt quẹo thều thào, để kiểm đếm xem đứa nào là anh, đứa nào là chị, là em. Chúng bao nhiêu tuổi, bệnh tình ra sao. Thống kê lại, thì anh Của, chị Nhứ chết khi mới ngoài 20 tuổi, họ bị bệnh sốt rét cướp mất 2 đứa con, họ để lại trên trần 5 đứa con, gồm: Giàng A Lau (bé trai) và 4 cháu gái: Giàng Thị Dế, Giàng Thị Phính, Giàng Thị Mo (bấy giờ mới 5 tuổi), Giàng Thị Máy (khi được đưa ra khỏi Sa Lai, bé Máy mới 2 tuổi đầu).
Hồi sinh, hồi hương: Bất ngờ từ đau thương ngày cũ!
Từ trong vùng thảm họa bịt bùng chết chóc, 5 đứa trẻ được đưa ra trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi của tỉnh (riêng đứa chị Giàng Thị Dế, sau đó xin rời trung tâm, về Mường Khừa sống với người bà con xa). Bấy giờ, Trung tâm vừa thành lập, có vài cán bộ rồi nhưng chưa kịp xây dựng cơ sở vật chất, 4 chị em họ là những “thành viên đầu tiên” của trại trẻ mồ côi tỉnh Sơn La, phải sống trong điều kiện thiếu thốn mọi bề. Ở nhờ trong ngôi nhà xập xệ của Đài phát thanh truyền hình tỉnh cũ, bữa đến, ăn cơm với cá mắm khô “đến hẹn lại lên”, đến mức sau này các cháu đều tỏ ra sợ hãi mỗi lúc ngửi thấy mùi cá khô.
Sống bằng rau cháo, với sự đùm bọc của các mẹ người Thái, người Kinh; dẫu sao vẫn hơn vùng sơn lam chướng khí ở bản Sa Lai đã bị xóa sổ vì sốt rét kia. Khi chúng tôi trở lại Sơn La, thì đứa con thứ 4 trong gia đình sống sót, em Giàng Thị Mo (sinh năm 1986) vừa sinh đứa con trai được 4 ngày tuổi. Mo ở Trung tâm Bảo trợ xã hội, rồi đi học trường Thiếu sinh quân, theo học Trường Y của tỉnh chuyên ngành sản nhi, đã tốt nghiệp gần 2 năm, đang mỏi mòn chờ xin việc. Em giờ có cái tên Thanh Mo cho nó… tươi trẻ, từ đứa trẻ không áo quần ở trong rừng mả cũ của người Thái, cận kề cái chết vì dịch sốt rét ác tính, giờ đây, Mo đã trở thành một người đàn bà nhan sắc, nói năng nhỏ nhẹ, đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con. Chồng Mo, là Lò Văn Hoàn, một cán bộ xã đội ở Chiềng Đen, ven thành phố Sơn La. Chăm chắm lo sự học, suốt 18 năm qua, đường về nơi chôn nhau cắt rốn xa xôi gần 150km đường đèo dốc và những chặng đường núi cuốc bộ quá vất vả, thành thử, Mo mới chỉ được về thăm xã Xuân Nha có một lần. “Anh Lau (Giàng A Lau, người anh trai sống sót của Mo) đưa em về quê, bấy giờ em mới chỉ 14 tuổi. Đường về Xuân Nha phải đi bộ rất xa đi bộ mất 2 ngày, dọc đường, trời tối, hai anh em ngủ lại nhà cô Hội trưởng phụ nữ huyện Mộc Châu ở khu vực Chiềng Ve. Mộ bố và mộ mẹ em ở cách nhau nhiều gò nương lắm, mộ mẹ tít cạnh cái ruộng của Thái. Khi trở về rừng, em không hợp thời tiết gió Lào (giáp biên), lại chưa quen đi bộ, nên bộ sốt ốm. Cho nên, đến bây giờ, em mới chỉ đứng trước mộ của bố một tí, không thắp được nén nhang nào. Mộ mẹ ở xa lắm. Cô Hội trưởng phụ nữ kể, hình như đợt ấy bản Sa Lai của em chết những 40 người, không ai nhớ bố hay mẹ em chết trước” - Mo kể rồi cứ thế tấm tức khóc. Quá khứ hiện về, dường như vòm mắt em tối đi.
Từ trong đau thương, với sự cưu mang của cán bộ và bà con Sơn La (sau này, chính Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La Vàng Nhìa Lừ, cùng Giám đốc Sở Y tế Mai Thanh cùng đoàn công tác đã trực tiếp về Mộc Châu đón 4 đứa trẻ về tỉnh chăm sóc), nay, các chàng trai cô gái người Mông sống sót từ vụ “xóa sổ” Sa Lai nay đã trở thành những chàng trai cô gái người… thành phố (tỉnh lỵ Sơn La). Không kể người chị cả Giàng Thì Dế, không ở trại trẻ mồ côi, bỏ về Chiềng Khừa lấy chồng làm nương rẫy đẻ được 4 người con, kinh tế cũng khá giả (dù khu vực Chiềng Khừa đến nay vẫn chưa có điện lưới). Cô thứ hai Giàng Thị Phính, từ trại trẻ, Phính học ngành y, ra trường về Hang Chú (huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La) làm công tác y tế học đường ở trường cấp 1 -2 xã. Phính lấy chồng người Mông ở địa phương, là một cán bộ tư pháp xã, đã tham gia học Đại học hẳn hoi, cuộc sống rất ổn định.
Cô em út Giàng Thị Máy, được cô bảo mẫu, bà mẹ của trung tâm trẻ mồ côi Sơn La tên là Lù Thị Han nhận làm con nuôi, được chăm sóc hết sức chu đáo. Cô Han, người phụ nữ Thái có tấm lòng Bồ Tát, không xây dựng gia đình, công tác tại trung tâm suốt 18 năm qua, cô đã chăm sóc 4 chị em Lau từ khi các cháu mới sống sót trở về, bà coi các cháu như con ruột. Riêng bé Máy được bà Han nhận làm con nuôi, đem về nhà nuôi dưỡng, bởi trong các bữa ăn tập thể chỉ độc với một món cá mắm mủn mục thời trước, bé Máy chưa đầy 2 tuổi, không biết tự ăn, cũng không thể ăn được cái món ăn “tai vạ” đó. Ban lãnh đạo trại trẻ mồ côi đã động viên cô Han chăm sóc bé Máy đặc biệt, từ cháo lão, đường sữa, bón nhá tại căn phòng tập thể độc thân suốt đời của cô. Suốt 9 năm cấp 1 và cấp 2, Máy đều đạt học sinh giỏi, 3 năm cấp ba liên tục là học sinh tiên tiến. Giờ đây, Máy đang học ở trường Cao đẳng đào tạo nghề cao su trong Bình Phước, mẹ Han vẫn ngày ngày dõi theo các con.
Riêng chàng trai Giàng A Lau, đứa con trai duy nhất con sống sau vụ xóa sổ Sa Lai, cậu bé luôn nặng lòng với vùng đất tang thương Xuân Nha, nơi bố mẹ và hầu như toàn bộ bà con của bản đã vĩnh viễn nằm lại. Lau liên tục xắn quần lội bộ về quê, Lau bị ám ảnh bới một Sa Lai hoang vu, tang tóc. Tốt nghiệp trường Thiếu sinh quân, sau 4 năm phục vụ quân ngũ, mặc nhiều người phản đối, Lau viết đơn, xin bằng được về công tác ở chính xã miền núi heo hút Tân Xuân (xã mới tách, nơi có bản Sa Lai trước kia). Ở nhờ nhà bà con, giữa cuộc sống bộn bề lều tranh vách đất, Lau vẫn quyết tâm vận động bà con, giúp đỡ bà con trở về sinh sống, đánh thức vùng đất Sa Lai tươi đẹp trù phú năm xưa, nơi có hương hồn những người bản Sa Lai tội nghiệp. Trở thành một cán bộ xã, trước đó đã vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng (vào dịp 2/9/2007), nay Lau đang được cấp trên tín nhiệm gửi đi học hệ Đại học, chuyên ngành phát triển nông nghiệp nông thôn, Giàng A Lau tự tin nói về một Sa Lai hồi sinh. “Giờ đây, bà con đã trở về sống với bản Sa Lai rồi. Em vẫn nhớ tên chú Lử ở đồn biên phòng, cô Minh, chú Bảo, bác Đường, bác Lụa nhà báo…, là những người đã vào cứu sống 5 chị em em, bằng cách cõng tất cả mọi người chạy khỏi vùng đất chết”.
Nhìn chị em họ xúng xính váy áo người Mông, da trắng, cười tươi, đôi lúc ăn diện kiểu thanh niên phố thị, ít ai ngờ được rằng, đã từng có một Sa Lai thảm họa, Sa Lai bị xóa sổ từng hằn in và quyết định số phận họ suốt 18 năm qua. Sự trớ trêu của Tạo Hóa, đã khiến những đứa trẻ sống sót đằm hơn, chịu thương chịu khó và biết khát khao sống cống hiến xả thân cho cộng đồng hơn. Hai chị em Mo và Phính, cứ gặp nhau là khóc, là ao ước được làm người cán bộ ngành y, để không có cái bản làng nào, cái gia đình nào phải bị thảm họa kinh hoàng xóa sổ vì dịch bệnh như Sa Lai và gia đình, dòng họ nhà em nữa. Hai cô cán bộ ngành y ấy giờ đã mãn nguyện lắm rồi. Cậu bé Lau cán bộ xã Tân Xuân, thì đã bước đầu thành công trong ý tưởng: hồi hương, làm hồi sinh cho một Sa Lai đã từng là biểu tượng của tật bệnh, tang tóc, thảm họa.
Một cán bộ lãnh đạo y tế tỉnh Sơn La, người từng sát cánh chống dịch sốt rét ở Sa Lai, vẫn chưa hết bàng hoàng khi kể với chúng tôi về những gì ông trông thấy cái hồi năm 1991. Ông thở dài: rừng phá sắp hết rồi, muỗi cũng chả còn nơi nương náu, “bọn” sốt rét khó mà xóa sổ được bản làng nào nữa. Nhưng những cái con muỗi đã gây bệnh dịch, đã đốt chết cả bản làng, cả bố mẹ anh chị em của những đứa trẻ Lau - Phính - Mo – Máy kia, muỗi nó đã vô tình làm được một việc. Rằng, thứ bệnh dịch mà muỗi đã tiêm vào đám trẻ, giờ đây lại trở thành loại đề kháng tuyệt vời để đám trẻ mồi côi vững vàng, quyết tâm phấn đấu và trưởng thành hơn nữa. Chỉ với những gì đã làm được hôm nay, có thể nói, đám trẻ đã lập nên một kỳ tích!
Viết thêm: Có một vài chi tiết thế này: mới đây, năm 2008, khi Việt Nam quyết định tổ chức ầm ĩ hưởng ứng ngày Thế giới phòng chống bệnh sốt rét (24/4) lần đầu tiên, cán bộ y tế đã chọn Mộc Châu (nơi có xã Xuân Nha và những đoàn binh không mọc tóc) làm nơi phát đi tín hiệu... đừng đùa với những hiểm hoạ từ bọn muỗi cõng theo mầm bệnh sốt rét. Năm 2008, Việt Nam có 25 ca thiệt mạng do sốt rét, giảm 95% so với năm 1991 (cũng là năm có đại dịch đã xoá sổ Sa Lai). Như thế để thấy, nỗi ám ảnh Sa Lai vẫn còn rất lớn trong rất nhiều người chúng ta. Dường như ám ảnh Sa Lai không chỉ tạo sức bật cho 5 đứa trẻ sống sót vươn lên... Mỗi năm thế giới có khoảng 500 triệu người bị sốt rét, trong đó khoảng 1 triệu người tử vong. Chủ đề của Ngày thế giới phòng chống sốt rét năm 2009, có cái tên rất... hàm súc, là: “Đếm ca sốt rét khỏi” (Couting Malaria Out). Cầu trời sẽ không nơi nào trên Trái Đất này có một thảm hoạ mấp mé sự tận diệt như Sa Lai của Lau, Phính, Mo, Máy...
Đỗ Doãn Hoàng













YÊN KHƯƠNGyenkhuong # Sunday, May 17, 2009 3:20:07 PM
Unregistered user # Sunday, May 17, 2009 5:02:27 PM
Đỗ Doãn Hoàngdodoanhoang # Monday, May 18, 2009 1:19:54 AM
Thật khó để đi Tây Bắc được thật nhiều, nếu bạn là phụ nữ. Tây Bắc là xứ sở của những đỉnh cao và vực sâu tuyệt đích, gần 30 tộc người với những sắc màu sặc sỡ nhất (ít ra là trong cảm nhận của tôi). Ở đó, bạn sẽ thấy mình cực kỳ bé nhỏ, nhưng cũng cực kỳ vĩ đại trước hoang sơ. Nếu nói về một vùng đất chiếm nhiều kỷ lục nhất Việt Nam, nhất định là nơi này. Thèm Tây Bắc, dường như đã trở thành một cái bệnh của người viết nhiều thời (dẫu đôi khi người ta không thấy rõ ràng hoặc không muốn nói ra cụ thể)...
YÊN KHƯƠNGyenkhuong # Monday, May 18, 2009 1:40:12 PM
Unregistered user # Monday, May 18, 2009 2:06:46 PM
Đỗ Doãn Hoàngdodoanhoang # Monday, May 18, 2009 5:23:38 PM