My Opera is closing 3rd of March

Người “khổng lồ” ở ngã ba biên giới

Người “khổng lồ” ở ngã ba biên giới
Đỗ Doãn Hoàng
Cách đây hơn 30 năm, Pờ Xí Tài to con đến mức, anh có thể dùng một tay xách anh nhà báo trẻ lên và hoan hô có người dũng cảm dám vào ngã ba biên giới sau gần một tháng trời đi bộ vượt dốc Tắc Tè, dốc Tà Tổng kinh hãi.
Bấy giờ, phỉ còn lẩn quất trong rừng hoang, Pờ Xí Tài cao lớn lênh khênh khoác hai khẩu súng, mà một nhà báo viết rằng, “trông như anh thanh niên khoác khẩu súng nhựa của trẻ con”. Bà con ở bản kể, hai con trâu húc nhau khồm khộp bất phân thắng bại, anh Tài đi qua mới “dĩ hòa vi quý” bằng cách trợn mắt lên gồng cầm hai cái gộc sừng của hai con trâu banh ra, “thôi đi nào”. Các chú trâu bị lôi về hai phía, ngoan ngoan như hai con cún con.

Lần đầu đi viện
Ba mươi năm sau, tôi trở lại với ban công an xã Sín Thầu (huyện Mường Nhé-tỉnh Điện Biên – TG) anh hùng, cái sự vạm vỡ của rừng thẳm núi hoang ấy đã già yếu. Ông ám ảnh tôi bằng những câu nói vừa buồn vừa yêu đời như tiếng gió ru một tàng cây bên bờ suối lớn Mo Phí: “Tôi vẫn to cao, vẫn nặng 95 ký lô, thiếu 5 cân là đầy một tạ. Vừa rồi tôi bị ốm quá, phải đi Hà Nội khám. Con cháu phải đặt tôi lên lưng con ngựa, đi đúng 2 ngày trời vượt dốc rừng ra đến ủy ban xã Mường Nhé. Từ đó đi ôtô về Hà Nội.”
Bác sỹ ở Bệnh viện 108 chăm sóc ông Tài rất tận tình, người ta khám xong, cái anh bác sỹ ở khoa tim thận gì đó anh ấy cứ loanh quanh sợ ông già “dân tộc” cưỡi ngựa từ bản về không biết tiếng. Ông Tài tính vốn nóng, mới hỏi thẳng: “Này cháu, thế ta bị bệnh gì, có chết ngay được không mà người nó mệt thế. Cả đời ta mười năm đánh giặc diệt phỉ không bao giờ có một giấc ngủ ngon mà vẫn bắn hổ bắn gấu thịt cho cả bản ăn. Giờ ta bị thế nào, có chết ngay được không?”.

Ông Pờ Xí Tài cùng tác giả.
Anh bác sỹ đọc bản xét nghiệm rồi mừng quýnh: “Dạ bác chỉ bị đái tháo đường, điều trị là an tâm ngay”. Ông Tài trợn mắt toan đòi về thẳng bản Tả Kho Khừ uống thuốc lá lẩu cho xong. Bởi, ông lý luận:
- Ta nói với con. Nếu hôm qua con nghi ta máu có nhiễm mỡ thì ta tin. Bởi ta nặng 95 ký lô, thì kiểu gì mà chẳng có mỡ. Chứ đái tháo đường thì không phải rồi mà. Vì cả đời ta có ăn hạt đường nào đâu, lấy đâu ra đường mà đái tháo?
Anh bác sỹ trẻ ngẩn người mãi rồi mới giải thích:
- Trên núi cao không có đường. Nhưng, gạo với lại thịt thú rừng cũng có đường, bố ạ.
Ông Tài gật gù, nhưng vẫn chưa tin lắm. Sau này tham khảo ý kiến nhiều người, ông mới đồng ý nằm lại ở Viện Quân y 108. Mới nhất trí ý kiến cho rằng không ăn đường cũng có thể đái tháo đường được.
Sống ở ngã ba biên giới

Dân bản ở ngã ba biên giới.
Xin “rào” trước là cách đây hơn chục năm, nhà nước ta chưa có chính sách hạn chế (và cấm dần) sử dụng súng tự chế, cũng như săn bắn thú hoang. Bấy giờ, nhiều người kể, trong nhà ông Tài là một kho súng, ông thích chơi súng.
Súng lớn, súng bé, súng hai nòng cũng có. Số hổ, số gấu ông Tài đã bắn hạ, thì chính ông có cố đếm cũng không xuể. Nhiều nhân chứng sống còn xác nhận, ông Tài cũng kể, độ trước, rừng ngã ba biên giới hoang biệt tới mức mỗi lúc đói kém hay lũ lụt thiên tai gì, nhà nước muốn cứu trợ hay đơn giản là mang dầu muối lên cho đồng bào là đều phải dùng máy bay trực thăng. Bà con đến tận bây giờ vẫn chưa bao giờ nhìn thấy cái xe đạp, xe máy hay ôtô lăn bánh về bản bao giờ (vẫn cách đường ôtô khoảng 3 ngày đi bộ); nhưng họ rất quen thuộc với tiếng phành phạch của máy bay trực thăng tiếp tế (sang trọng thế!).

Học sinh sống trong lán ở ngã ba biên giới.
Một lần, sau khi dọn bãi cỏ hoang cho tàu bay hạ cánh, Pờ Xí Tài nhận dầu, muối xong, xúc động quá bèn đem gần 1 tấn mật ong và 2 bộ da hổ ra tặng mấy anh phi công trẻ. Một người trong bản tặng phi hành đoàn cả bộ ngà voi! 60 tuổi đầu, sau trận ốm, ông Tài về bản, sắm một cái ghế mây to khổng lồ rồi ngồi vào đó, hằng ngày vui với đám trẻ. Khi tôi có mặt, ông vẫn ngồi trong nhà giữa rừng rợp bóng mà nhìn suối Mo Phí thở phì phò. Câu chuyện của ông dài và trong lẻo như tiếng suối ì ào ngoài kia.
Những ngày ấy giặc dã gian nan lắm. Người dân thường hay gặp hổ. Trâu của hợp tác xã nhìn thấy hổ cứ đứng lừ đừ đấy, hổ nó thích con nào thì nó vồ. Nó thích thì nó vào tận chuồng nó vồ. Có nhà đang làm cỗ, tự dưng tìm không thấy quả tim lợn đâu, biết là có điềm chẳng lành, chạy ra đầu chái thì thấy ông hổ đang cõng một thằng bé chạy vào rừng. Cả bản đuổi theo mới cướp được cháu nó về làm người. Có khi hổ nó leo lên cây, nó cắn lá thổi lá thế nào mà tiếng nghe như tiếng nai - con nai tưởng tiếng bầy đàn mới chạy lơ ngơ ra thế là nó vồ. Vùng này là ngã ba biên giới trên bộ duy nhất của ba nước Việt - Trung - Lào, cho nên cả ba cái rừng hoang của ba nước gộp lại, rất sợ. Nai, hươu rất hiền, nó đi thơ thẩn dưới suối, tôi đứng trên đỉnh núi cứ lấy đá ném nó. Trông mơ màng thế như nai rất tinh nhanh, có khi hòn đá mình ném chưa rơi xuống đến thung lũng, đàn nai ba bốn chục con đã chạy mất rồi. Nhiều nhất là hoẵng, đây là vùng của những thảo nguyên cỏ tranh bạt ngàn. Hoẵng cứ đi lùi lùi, sừng gạc của nó thò lên mặt cỏ, thoạt trông như những cái mào con gà trống. Voi, hổ nhiều vô kể. Voi ra suối uống nước cả mấy chục con đủng đỉnh. Mỗi sáng ra, thấy một con đường cây đổ ngả nghiêng, đất bị đàn voi đi qua nát, trắng lốp thành những con đường mòn hun hút. Đàn voi đi đến đâu vẽ thành con đường trắng nhờ đến đấy.
Mẹ đẻ và đứa con gái 13 tuổi của ông Chang Gố Chừ còn bị hổ nó ăn thịt gần hết. Đứa bé lúc tìm được chỉ còn khúc trên của cơ thể, bà cụ thì còn mỗi bộ xương. Chang Gố Chừ tầm tuổi với tôi, ông giờ vẫn sống, nhà ở bản Leng Su Sìn". "Có một thời gian dài, chúng tôi ăn thịt gấu suốt ngày. Rồi họ đi bắn cả voi, voi chạy hết sang các cánh rừng hoang các nước bạn (Lào và Trung Quốc). Và bây giờ thì không bao giờ tôi gặp lại voi với hổ nữa. Thỉnh thoảng người ta vẫn bắn được gấu. Chỉ có điều người ta giờ không giữ cái lệ bắn được con gì của rừng quê hương thì đem về bản chia cho mỗi người một miếng nữa. Người ta ăn tất, hoặc chỉ bán mua thịt thú rừng với nhau thôi. Chứ suốt đời, đại gia đình chúng tôi chưa bao giờ dám ăn đến một con hoẵng (con nhỏ nhất) một mình”, ông Tài nhớ lại. "Ở đây, cá nhiều tới mức, đúng là xuống suối, muốn uống ngụm nước phải vạch cá ra để múc nước (ở mỏ cá). Có khi bẳng nồi nước lên bếp, khoác cái sọt đi ra suối, nước chưa kịp sôi thì sọt cá đầy đã ném bịch ở trước cửa nhà. Độ ấy, chúng tôi không bao giờ thèm ăn thịt sơn dương (con dê núi). Càng không bao giờ ăn thịt lợn rừng. Vì nó rất hôi. Nếu bắn được lợn cà, việc đầu tiên là phải cắt bỏ hai hòn dương vật của nó. Sau đó, bần cùng mới chấp nhận xách lợn rừng về bản ăn. Không bao giờ chúng tôi ăn thịt khỉ. Bản này có ông già vừa mới mất năm ngoái, ông ấy bị mọi người dè bỉu vì xưa nay, ông chấp nhận ăn cả thịt khỉ. Thế mà, bây giờ, rừng chẳng còn con gì cả. Lợn rừng hay sơn dương, thậm chí đến cả dím (con nhím-TG) đều biến thành đặc sản. Thời thế cũng lạ".
Mười năm không một giấc ngủ ngon
Ông Tài đã cho chúng tôi những bài học núi rừng, bài học về một cuộc đời xả thân đầy nhiệt huyết. Một cuộc đời vạm vỡ. "Tôi chả nhớ đâu, mình chỉ muốn làm tất cả là vì bà con mình thôi mà. Tôi được tặng Huân chương chiến công hạng 3, Huân chương kháng chiến hạng ba, Huy hiệu Bác Hồ... Tôi xách súng 10 năm trời đi đánh giặc loanh quanh ở vùng này, không một giấc ngủ ngon. Thế mà chẳng hiểu sao không bao giờ thấy mệt. Chúng tôi đi đánh giặc ròng rã, làm nghĩa vụ quốc tế suốt một dải biên cương, từ năm 1967-1969. Rồi chống bọn phỉ đặc vụ Tưởng. Tiếp đó là cuộc vận động bà con định canh định cư, bỏ trồng và hút thuốc phiện. Người Hà Nhì ở ngã ba biên giới đã có thời kỳ dài 80-90% dân số là người... nghiện.
Cuộc sống ủ chìm trong đói khổ và mây mù đặc quánh. Người Hà Nhì biết ơn những đồng chí công an vũ trang đã dạy cái chữ cho đồng bào, đã dạy làm lúa nước, dạy cầm cái cày. Và không ít người trong số họ đã ngã xuống vì sự bình yên cho dân bản. Ông Pờ Xí Tài bồi hồi nhớ lại: "Hoạt động cách mạng ở trong rừng núi này kể cũng là hãi hùng. Cả chục chiến sỹ biên phòng ngộ độc nấm, người trôi nước lũ trên đường tuần tra cũng nhiều, phỉ nó cũng giết mất nhiều cán bộ của ta. Hồi nổi phỉ năm 1959, chúng nó lệnh, người như bố đẻ tôi là chúng liệt vào "hạng" phải giết bỏ (bố tôi là một trong vài Đảng viên đầu tiên của Chi bộ cả vùng 2 xã Sín Thầu - Chung Chải bây giờ). Nó bắt mất con gái người ta, lạy van nó cũng không tha, nó bắt gà bắt lợn đi vào rừng mổ ăn với nhau. Tôi nóng nảy đi đòi, nó không trả. Tôi còn nhớ, bố ông Toán Phu Sè ở bên kia bị phỉ giết, ông xã đội đầu tiên của bản Tả Lao San cũng bị phỉ giết, 2 người nữa ở A Pa Chải này cũng thế. 17 tuổi tôi đã phải đi huấn luyện dân quân xã, cứ theo huyện đội người ta tập huấn mà làm”.
Bát cơm thời tiễu phỉ cứ là một hạt gạo cõng mấy củ sắn, mấy củ nâu, ăn cứ đắng chát. Những ngày đó, ông Tài cùng người dân đi đào củ nâu chống đói, đào thành những cái hốc hố lớn trong rừng. Đào năm nay, sang năm lại đào vẫn cái hố ấy, những kỷ niệm thật buồn. Đói rã người như thế, nhưng thóc vẫn im thin thít đầy ở trong kho. Không một người dân nào vào kho lấy thóc của cách mạng. Năm ông Tài 20 tuổi thì cán bộ mình đã bao vây làng bản để kêu gọi phỉ ra đầu hàng. Lời kêu gọi bằng tiếng Quan Hỏa, nói rằng, nếu không đầu hàng sớm, bộ đội ta sẽ đi từ phía rừng Lào qua ngã ba biên giới vòng về Sính Phình (tên của Sín Thầu bấy giờ) tiêu diệt gọn.
Suốt 10 năm trời, lúc nào nhà ông cũng có bộ đội. Trong bối cảnh ấy, ông đã dần lớn lên, đã trở thành thiện xạ tiêu diệt phỉ. Hồi từ 1979 đến tận năm 1983, lác đác những giai đoạn làng bản vẫn phải sơ tán vào trong rừng để chạy giặc, chạy phỉ. Sợ chúng nó câu pháo. Giặc đã từng câu pháo giết chết một lúc tới 20 mạng người ở A Pa Chải. Đỉnh núi trước nhà ông bây giờ gọi là đỉnh núi Tướng Phỉ, ngày xưa là hang ổ của "giặc". Đạn pháo, cát tút vẫn còn rất nhiều ở trên đó.
Đi làm cách mạng ông đã chứng kiến nhiều cái chết thương tâm của đồng đội.Đất nước mình nhô lên phía hai đường biên hai quốc gia bạn như hình một mũi tên xanh thắm. Từ bản Tả Kho Khừ nhà ông, đi hết 12 khúc suối phải xắn quần lên lội thì tới bản A Pa Chải. Bây giờ ông đã già, nhưng nhắm mắt lại ông vẫn trông thấy một cây muỗm rất to do anh em công an vũ trang trồng ngày trước, ở ngay trước sân trạm. Cạnh đấy là một cây long não nằm trong khuôn viên trạm biên phòng. Chỗ ấy có một khe nước nhỏ. Và, 6 anh em đồng đội của ông đã bị giặc bắn chết, vứt xác ở đó.
Ông Tài dừng câu chuyện, ông lại húng hoắng ho ngồi vào chiếc ghế mây khổng lồ dành cho người bệnh nặng 95kg, bị đái tháo đường. Ông không muốn nói điều gì về quá khứ oai hùng của mình, dẫu rằng, công an tỉnh Lai Châu thời bấy giờ đã phải mất mấy tháng trời mới sưu tầm hết thành tích của ông và ban công an xã Sín Thầu anh hùng. Ông Tài đã góp phần viết nên lịch sử vùng phên giậu kham khó, quật cường và kỳ thú này. Hơn ai hết, ông lý giải được ngọn nguồn mọi tên đất tên rừng, tên con suối gộc cây ông đã từng gắn bó.
“Ngày trước, người dân ba nước đã bàn nhau xây một cái Đại Miếu dùng để thờ cúng chung cho bà con cả ba nước trong khu vực. Bây giờ nền đất đó vẫn còn (chúng tôi cũng đã lên tận bản Tá Miếu - và tận mắt trông thấy nền đất đá này - TG). Còn ở ngã ba biên giới, nơi con gà gáy ba nước cùng nghe ấy có một mũi đá hình nón úp nhẵn thín. Vùng đất ngã ba này thiêng lắm..”
Sau cái đận cưỡi ngựa mấy ngày trời từ ngã ba biên giới về Bệnh viện 108, ông Tài phải kiêng rượu. Vậy mà cái không khí xuân nơi đây làm ông lại quên cả lời căn dặn của bác sĩ. Ông lôi hũ rượu ngâm gân hổ xưa ra uống. Uống như một huyền thoại gân cốt, huyền thoại tinh tường. Uống mừng cho quê hương đổi mới. Và ông lại chìm sâu vào hòai niệm của núi rừng nơi ngã ba biên giới …
Đ.D.H
(Bài đăng trên VTC News)

VTC News: http://www.vtc.vn/phongsu/13756/index.htm

Trung du da diết…Ông Tilô và tinh thần hiệp sỹ...

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28