Người "nối dài cuộc sống" của vườn Bùi chốn cũ
Monday, August 6, 2007 5:36:17 PM
Ông Nguyễn Thanh Tùng (hậu duệ 5 đời của thi hào Nguyễn Khuyến):
Người "nối dài cuộc sống" của vườn Bùi chốn cũ
Đỗ Doãn Hoàng thực hiện
Tại khu di tích "Nhà từ đường Nguyễn Khuyến" (làng Vị Hạ, xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, là Di tích Lịch sử Văn hoá Quốc gia), trong không gian vẫn như nguyên vẹn của cái thời tác giả "Ao thu lạnh lẽo nước trong veo" còn sống, có một người coi sóc tên là Nguyễn Thanh Tùng, hậu duệ thứ năm của cụ Tam Nguyên Yên Đổ, thi hào lớn của dân tộc.
Người "nối dài cuộc sống" của vườn Bùi chốn cũ
Đỗ Doãn Hoàng thực hiện
Tại khu di tích "Nhà từ đường Nguyễn Khuyến" (làng Vị Hạ, xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, là Di tích Lịch sử Văn hoá Quốc gia), trong không gian vẫn như nguyên vẹn của cái thời tác giả "Ao thu lạnh lẽo nước trong veo" còn sống, có một người coi sóc tên là Nguyễn Thanh Tùng, hậu duệ thứ năm của cụ Tam Nguyên Yên Đổ, thi hào lớn của dân tộc.
Ông Nguyễn Thanh Tùng trước từ đường Nguyễn KhuyếnMỗi lần ghé thăm, tôi đều có cảm giác, ông Tùng đã làm được một việc là "nối dài" hơn cái cuộc sống, cái sự nghiệp vốn đã bất hủ của bậc túc Nho nặng lòng với xứ sở. Rồi bỗng dưng tôi đặt câu hỏi: nếu không có những người giản dị, chấp nhận làm cọng lá bờ rêu cho khu từ đường Nguyễn Khuyến như ông Tùng, thì bao giờ những người mê câu đối, mê thơ của cụ như chúng tôi mới được lạc vào không gian đích thực của "Thu ẩm", "Thu vịnh", "Thu điếu"...? Tuy không làm thơ, không làm quan nối nghiệp tổ phụ, nhưng con đường hiếu đễ mà ông Tùng đã chọn cũng là đáng nói lắm chứ.
Thưa bác Tùng, cụ Nguyễn Khuyến đã mô tả về vườn Bùi từ xưa: "Vườn Bùi chốn cũ/ Bốn mươi năm lụ khụ lại về đây/ Trông ngoài sân đua nở mấy chồi cây/ Thú khâu ác lâm tuyền âu cũng thế". Nay coi sóc vườn Bùi, khách đến chiêm bái, thường thì bác sẽ giới thiệu điều gì trong thân thế và sự nghiệp của cụ trước tiên?
- Nói về cụ, trước hết ta phải nói chuyện đạo đức, chuyện đối nhân xử thế. Cụ khóc vợ: "Nhà tớ chỉn nghèo thay, may nhờ bà nó chịu thương chịu khó (...) vì tớ đỡ đần trong mọi việc". Làm quan tứ trụ triều đình, khi khóc vợ, cụ cứ xưng "tớ" thì đủ biết. Ngay chuyện giai gái, triều đình bấy giờ không cấm lấy nhiều vợ (như bây giờ) nhưng cụ đã răn dạy: "Lấy vợ đừng nên lấy vợ nhiều/Chỉ một mà thôi cũng đủ yêu/ Đa nhân duyên lắm đường phiền nhiễu/ Cả lẽ làm chi tổ ỉ eo".
Về với vườn Bùi, cụ rất tôn trọng người cao tuổi. Cụ Nghiêu lúc ấy thượng thượng thọ 80 tuổi, cụ Tam Nguyên đã 74 tuổi, cụ đến cụ quỳ lạy cụ Nghiêu, cụ Nghiêu sợ quá: "Lạy quan lớn con không dám". Cụ bảo với cụ Nghiêu rằng: "Tôi với bác không có gì phải vái nhau, mà đây tôi tôn trọng thiên số, tức trời dành tuổi cho bác". Cụ Dương Khuê là bạn chí thân với cụ và cũng ít hơn cụ 5 tuổi mà cụ khóc Dương Khuê: "Bác Dương thôi đã thôi rồi/ Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta"...
Khi cáo quan về vườn, "Lầu son gác tía nhường cho trẻ/ Nước biếc non xanh bạn với già", cụ Nguyễn Khuyến đã cho xây khu nhà này với rất nhiều thâm ý, phải không bác Tùng?
- Cổng nhà có ba chữ đại tự "Môn Tử Môn" (cửa ra vào của học trò), đó là một lời răn dạy nghiêm khắc về đạo thầy - trò. Cách xây ngôi nhà này: ngoài là đại tế, trong là hậu cung. Không phải ai cũng được phép xây như vậy, phải là người nào có sắc phong thần thì mới được xây. Chánh tổng lý trưởng cũng không được xây. Nhà cũ của cụ cao 9 bậc, có lưỡng long triều nguyệt.
Thường người ta để hình lưỡng long triều nguyệt ở trên nóc nhà, nhưng riêng ở đây cụ lại để... ở dưới đất. Cụ giải thích với những người chức sắc thắc mắc, rằng cụ để như vậy là để tránh nắng hướng đông và nắng hướng tây, không có "thâm ý" gì cả. Nhưng thật ra là vì vua "bán nước" theo giặc Pháp, cụ không cho cưỡi trên đầu cụ, mà (rồng) chỉ chầu đằng trước nhà mà thôi (?). Thâm ý rất lớn nhưng ít người để ý cái này.
Thưa bác, ngoài vấn đề văn hoá tâm linh, đến với từ đường Nguyễn Khuyến lúc này, khách còn được thăm những "di vật" (với tư cách là văn hoá vật thể) gì của cụ?
- Hai cây nhãn cổ thụ toả rợp bóng ở từ đường này, là một di sản. Nó là thứ nhãn ngon người trước dùng để tiến vua, được thụ lộc vua ban, nên cụ mới dám trồng. Ao thu (là "nhân vật chính" trong cả ba bài thơ thu bất hủ của cụ Nguyễn Khuyến) vẫn còn đây, hoa sen hoa súng, bèo cái bèo ong, ao được kè cẩn thận, trên bờ có trúc quân tử ken dày. Đây là cái ao được tính rất kỹ theo phong thuỷ, khi cụ đỗ đầu ba khoa, được ngôi sao chiếu mệnh, cụ phát hoả nên cụ chấn trạch hai thuỷ một hoả để cân bằng âm dương.
Nói là chấn trạch 2 thuỷ 1 hoả nhưng chơi chữ thì: Ao lớn, có một cái bờ cỏ thẳng ngăn ở giữa rồi mới đến một lạch nước trong veo, nó là hai cái ao hình cái bút lông và cái nghiên mực của bậc sĩ phu. Ao của cụ hình bán nguyệt và trước ở đây có một ngọn hải đăng rất cao xây bằng gạch và đắp hình quyển sách tung bay giữa trời.
Có lẽ chưa có cái ao nào được tôn vinh trong ba bài thơ bất hủ, được dựng sách, dựng hải đăng, chấn trạch phong thuỷ rồi lại được dựng bia đá (theo đúng nghĩa đen) khắc trọn vẹn bài thơ về ao thu trên bờ như thế (bia dựng tháng 10.1997, do sự tài trợ của Quỹ Thụy Điển - Việt Nam phát triển văn hoá). Mà chỉ riêng cái bia khắc thơ đã rất công phu, trên đó có cả bài thơ và thân thế sự nghiệp Nguyễn Khuyến bằng chữ Nôm, chữ quốc ngữ và tiếng Anh. Bia khắc nguyên vẹn từng câu từng chữ, từng dấu chấm, dấu phảy trong bài thơ Thu điếu:
"Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo...".
Lại nói chuyện tâm trạng "đời loạn đi về như hạc độc" của cụ Nguyễn Khuyến trong ngần ấy năm chênh chao hoạn lộ. Mới đây, khi ông Đỗ Đình Thọ cho xuất bản cuốn "Tản mạn đôi điều bàn về văn học và nghệ thuật" (Hội VHNT tỉnh Nam Định xuất bản) đã đưa ra nhiều nhận xét hết sức tuỳ tiện, suy diễn, khiến hình ảnh cụ Tam Nguyên Yên Đổ bị bôi nhọ.
Theo ông Thọ thì: Nguyễn Khuyến có quan điểm lẫn lộn khi phán xét các nhà nho yêu nước, phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho bọn Việt gian bán nước, với "một cái gì đó thiếu nhân ái" cho nên "giới văn nhân và nhân dân yêu nước Việt Nam lúc đó không ưa"... Những lời phán xét vô lối kể trên tất nhiên đã vấp phải sự phản đối dữ dội của giới học thuật cả nước.
Song, ít ai để ý rằng, người đưa ra những luận cứ thuyết phục nhất, người ngược xuôi "chiến đấu" hiệu quả nhất để chống lại luận điệu trên chính là ông Nguyễn Thanh Tùng. Ông Tùng "đăng đàn" nói về đại danh nho Nguyễn Khuyến như một "chuyên gia nghiên cứu" chữ nghĩa ngời ngời.
Nói không ngoa, nếu không có ông Tùng, chúng ta không thể có được cả cái không gian đậm đặc phong vị "Nguyễn Khuyến" ở vườn Bùi như hiện nay. Giọng ông Tùng có lúc trở nên... bí hiểm:
- Khi bốt trong khu vực Bình Lục được giặc dựng lên khoảng năm 1947, thì bố đẻ ra tôi là Tham mưu trưởng tỉnh đội Hà Nam, giặc mượn cớ đến phá nhà từ đường cụ Nguyễn Khuyến vì cụ có con cháu đi theo "Việt Minh". Nhưng tay đồn trưởng Cầu Sắt, nó nói nguyên văn thế này: "Đây là thờ danh nhân, một vị thánh nho. Cấm không được phá. Còn con cháu theo Cộng sản thì đi tìm nó mà đánh". Và cứ 7 ngày nó lại vào kiểm tra một lần xem có đứa nào dám phá từ đường này không.
Cũng nhờ thế nên hiện vật còn nguyên vẹn. Đây là đôi rồng nạm ngọc; năm 1950, chiến tranh loạn lạc, khi gia đình tản cư thì có kẻ xấu vào tận hậu cung nhà thờ lấy trộm mất. Đến năm 1985, người ăn trộm ấy, trước khi chết đã bảo con trai mang trả lại cho nhà thờ của thi sĩ.
Đây là một đôi ống quyển: ống ngắn là cụ dùng khi đi hương thi hội, ống dài có hình chạm rồng bao quanh là cụ dùng khi đi thi đình, cả hai khoa cụ đều đỗ đầu. Phía dưới là hai hòm sách cụ từng gánh đi bộ từ Bình Lục vào tận Huế "lai kinh ứng thí". Đây là bức ảnh chụp khi cụ Nguyễn Khuyến 74 tuổi, đang lịch lãm thưởng rượu bằng cái chén mắt trâu để "mắt lão không vầy cũng đỏ hoe". Bộ triều phục mà cụ đã mặc khi làm quan Ngự sử trong triều, những chữ của Vua Tự Đức ban vẫn còn nguyên bản. Đây là cuốn thư cụ Dương Khuê tặng khi cụ thi đỗ đầu cả ba khoa (dịch nghĩa):
Khua trống ba hồi nhất cả ba
Thép văn phiêu bạt vía người ta
Vị Xuyên khoá trước chưa ai kịp
Giáp Tí năm nay có bác mà.
Dẫu không phải cái gì ông Tùng nói cũng đã là khoa học, là "chữ nghĩa vuông thành sắc cạnh". Rằng những tài liệu, thơ, câu đối ấy, bạn có thể đọc ở trong sách, trên mạng, thậm chí trong sách giáo khoa do Bộ Giáo dục Đào tạo phát hành. Nhưng, nghe con cháu cụ Tam Nguyên "phô" chuyện đời cụ bằng cái giọng thương mến của vùng chiêm khê mùa thối, với lớp lang di vật sinh động ngay tại vườn Bùi nó khác lắm.
Và, quan trọng hơn, trong tình hình di tích lịch sử văn hoá, các giá trị cổ xưa bị xâm hại một cách quá phổ biến như hiện nay, có một người con cháu ruột thịt nhiều năm chắt chiu từng cọng lá bờ rêu cho khu từ đường của bậc đại danh nho là cha ông mình như thế, thật đáng quý. Ông Tùng, ở góc độ nào đó, đã thành một chuyên gia nghiên cứu về Nguyễn Khuyến.
Trở lại chuyện cuốn sách "bôi nhọ" cụ Nguyễn Khuyến, ông Tùng thở dài:
- Tôi không muốn nhắc lại chuyện buồn ấy đâu. Tôi giữ vườn Bùi ở chốn quê này. Đến một ngày, người ta mang sách đến nói với tôi rằng, có người đang "bôi nhọ" cụ nhà tôi. Tôi đọc xong, quá bất bình, tức tốc viết thư gửi cho Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và nhiều cơ quan chức năng quan trọng khác.
Tôi cũng phân tích về học thuật, ông Thọ (người viết cuốn sách "bôi nhọ") lấy danh nghĩa văn học dân gian để "bàn" về cụ Nguyễn Khuyến toàn những điều "tam sao thất bản" thì là không được rồi. Sau kiến nghị của tôi và ý kiến của anh Lê Hoài Nam (Hội VHNT Nam Định), Bộ Văn hoá - Thông tin đã có ý kiến đề nghị "chấn chỉnh" việc này.
Nhà thơ Nguyễn Khuyến, sinh năm 1835-1909. Nổi tiếng là người thông minh, hiếu học. Năm 1864, ông đỗ đầu cử nhân (tức Giải Nguyên) ở trường Hà Nội; đến năm 1871, ông mới đỗ Hội Nguyên và Đình Nguyên, từ đó, vì đỗ đầu cả 3 kỳ thi nên ông được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ (tên làng quê ông). Nay ngoài tên ông được đặt nhiều đường phố của một số tỉnh, thành thì tên làng Yên Đổ - một cách gọi khác về nhà thơ - cũng được dùng làm tên phố.
http://www.laodong.com.vn/Home/ldcuoituan/2007/6/39974.laodong












