Nhớ Cao Bằng!
Friday, June 13, 2008 4:43:33 AM
“Thần khèn” thổi giữa hoang vu
Phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng
Hoang vu, cách tỉnh lỵ Cao Bằng hơn 200km, có một cái bản tù mù đèn dầu, muốn gọi một cú điện thoại khẩn cũng phải vượt qua chặng đường 20km tụt theo các rông núi xuống phố huyện tiêu điều. Đó là bản Nà Hôm, xã Thạch Lâm, huyện Bảo Lâm. Nà Hôm có một cậu bé được mọi người nể phục gọi là “thần khèn”, cậu đi biểu diễn ở huyện, ở tỉnh, ở nhiều tỉnh khác, đều đoạt giải quán quân. Cậu có thể thổi khèn, múa khèn trên những cây cọc gỗ nhọn chênh vênh, có thể đi trên dây thừng bắc giăng ngang sân khấu, vừa đi vừa thổi khèn Mông réo rắt, vừa nhảy nhót nhào lộn như một ảo thuật gia. Điều đáng nói là: chính điệu khèn mê đắm ấy đã giúp đồng bào bao đời sống sau vách núi được tắm mình trong không gian nguyên bản, cổ sơ của cha anh mình.
Phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng
Hoang vu, cách tỉnh lỵ Cao Bằng hơn 200km, có một cái bản tù mù đèn dầu, muốn gọi một cú điện thoại khẩn cũng phải vượt qua chặng đường 20km tụt theo các rông núi xuống phố huyện tiêu điều. Đó là bản Nà Hôm, xã Thạch Lâm, huyện Bảo Lâm. Nà Hôm có một cậu bé được mọi người nể phục gọi là “thần khèn”, cậu đi biểu diễn ở huyện, ở tỉnh, ở nhiều tỉnh khác, đều đoạt giải quán quân. Cậu có thể thổi khèn, múa khèn trên những cây cọc gỗ nhọn chênh vênh, có thể đi trên dây thừng bắc giăng ngang sân khấu, vừa đi vừa thổi khèn Mông réo rắt, vừa nhảy nhót nhào lộn như một ảo thuật gia. Điều đáng nói là: chính điệu khèn mê đắm ấy đã giúp đồng bào bao đời sống sau vách núi được tắm mình trong không gian nguyên bản, cổ sơ của cha anh mình.
Một tài hoa lấm láp
Cậu bé ấy là Hoàng A Đô, năm nay 22 tuổi. Chàng trai Mông thanh tú, kiệm lời sinh ra ở tít dưới huyện Hòa An của Cao Bằng, nhà nghèo, bố mẹ sinh được những… 8 anh chị em. “Em học cũng hơi dốt… một tý”, Đô thật thà, “Là bởi vì, năm 10 tuổi em mới được cán bộ xã xuống vận động đi học lớp 1, năm nay 22 tuổi mới học đến lớp 12”. Đấy là chưa kể, hồi học hết tiểu học ở cái phân trường gianh tre giữa bản vắng, không đủ sức vượt đèo vượt suối ra với trường cấp 2 ngoài xã, Đô đã phải bỏ ngang tuổi học. Bởi ở đường đến trường phải qua nhiều bản, nhiều núi, với chiều dài khoảng 10km. Có khi đói quá, kiệt sức tựa vào vách núi ngủ quên đến tối mịt khiến cả nhà, cả bản đôn đáo đi tìm. Đúng dịp ấy, chú ruột của Đô, ong Hoàng Văn Tu, Hiệu trưởng trường PTCS Thạch Lâm về thăm nhà, thấy thằng cháu đẹp giai lồng lộng, tinh anh phát tiết từ khi chưa vỡ giọng mà cứ từ tinh sương đến tối mịt cám mặt vào nương rẫy, ông đau. Ông Tu bảo, “lên Thạch Lâm ở với chú”. Nhà Đô có 8 anh em trứng gà trứng vịt, nhiều khi bố mẹ ngợ ngợ một lúc mới nhớ hết tên con, nên thấy ông em có 5 đứa con gái, suốt ngày khát thèm một “quý tử”, thấy “chú Tu” hứa nuôi con mình ăn học thành tài, bố mẹ Đô mừng quýnh.
Thế là, Đô đã sống ở Thạch Lâm heo hút được 12 năm ròng. Tháng 6 năm 2008, vừa thi tốt nghiệp lớp 12 xong, Đô bảo tôi: “bài nào em cũng làm được, chỉ chờ xem nó đúng sai thế nào nữa thôi!”.
Chuyện học chữ, thì có vẻ Đô ít tự tin. Nhưng nhắc đến cái môn thổi khèn chao lượn trên dây, trên cọc, giữa mây mù ngùn ngụt, giữa đám tang thê thiết ở bản nghèo hay giữa chang hoàng ánh đèn sân khấu một hội diễn quốc gia, thì đôi mắt Đô sáng rực. “Em chưa bao giờ đi hội diễn, đi thi mà không được giải nhất!”. Đô tự nói về mình, thật thà mà kiêu hãnh đến ngỡ ngàng, nó cũng thật thà như kiểu cậu bé vừa thổ lộ: “Em học chữ thì cũng hơi dốt một tý, một tý…”.
Mang tiếng làm con nuôi một ông Hiệu trưởng, nhưng nhà chú Tu thì cũng chẳng khá khẩm hơn nhà Đô ở dưới Hòa An bao nhiêu. Đến tận giờ phút này, vẫn không có điện, không có điện thoại, vẫn là mịt mù sơn cước. Người Bảo Lâm có câu ca “tủi tủi” về những đặc sản khốn khó quê mình: “Xa Yên Thổ, khổ Đức Hạnh, lạnh Đồng Mu, sương mù Lũng Pán” (Yên Thổ, Đức Hạnh… là các địa danh của huyện Bảo Lâm). Bảo Lâm là huyện xa nhất tỉnh, những cái khổ của sương mù, núi cao, xa thẳm, lạnh giá ở các địa danh kia lại còn “đỉnh điểm” hơn nữa. Cái hoang vu của Thạch Lâm như là dấu cộng của những cái khổ kia lại, bà con bảo, chưa đến Nà Hôm, nghĩa là chưa hiểu được thế nào là sơn lam chướng khí của thượng nguồn sông Gâm, con sông xanh biếc, khảm giữa những khối đá sừng sững mà ghềnh thác lao đi.
Trên đỉnh núi, giữa tím rắt sim mua, Hoàng A Đô và bố nuôi Hoàng Văn Tu đang nhào lộn quanh ba cái cọc gỗ nghiến đen trũi như xà beng sắt. Một cuộc trình diễn lạnh xống lưng. Bước chân A Đô như bước chân con báo gấm, có miếng đệm dày trứ danh; bàn chân em như có mắt, nó chao liệng, phom phóp đặt vào ba cây cọc gỗ. Tôi ớn lạnh, chỉ sợ Đô trượt chân, cọc gỗ nghiến cũ càng sẽ xuyên thủng bụng cậu bé. Trong cơn thần hứng của thứ sa-man giáo nào đó (ý là lên đồng vì nghệ thuật), tiếng khèn Mông vẫn chập chờn loang trong không gian rất là tài hoa, Đô đã co chân nhảy lò cò trên đỉnh cọc gỗ, có khi em vắt chéo chân xoay tít trong không gian, rồi lẹ làng hạ gót vào một cái cọc nào đó. Ngẫu hứng, Đô và thầy Tu lại buộc sợi dây thừng vào hai tàng cây bìa núi, rồi Đô nhảy lên đó, lấy thăng bằng, trịnh trọng đưa khèn lên thổi, rồi đắm đuối bước chân lần theo dây, nhảy trên dây, co duỗi chân, xoay người trên dây như một nghệ sỹ xiếc, Đô vừa thổi khèn vừa bay lượn như con đại bàng. Đi trên dây, nhảy nhót trên cọc thì nhiều người làm được; nhưng làm những việc đó mà vẫn thổi khèn, tiếng khèn vẫn đúng, vẫn lung linh, thì quả là khó. Chả trách ai đó tiếm phong Đô là “thần khèn”. Chàng trai Mông nào, xưa nay, cũng mê thổi khèn, mê thưởng khèn, có khi là khèn môi khèn lá, có khi là cây khèn Mông truyền thống - thứ nhạc cụ hào sảng và hào hoa từ hình dáng đổ đi. Nhưng, đúng là tôi chưa từng thấy ai thổi khèn được trên cọc gỗ, trên dây thừng như Hoàng A Đô.
Điều đáng nói nhất trong tài hoa đáng ngạc nhiên của Hoàng A Đô không phải là những kỷ lục về chơi khèn Mông mà em đã lập, không phải là những phần thưởng, những bằng khen, giấy khen mà em treo ở góc học tập của mình. Mà đơn giản, em là một chàng trai Mông yêu ca hát, yêu võ thuật, sống hồn nhiên và vạm vỡ như con báo gấm giữa hoang vu. Ông Tu dạy cậu con nuôi của mình chơi khèn, múa khèn, không phải để cháu thành một người hành nghề biểu diễn kiếm cơm, càng không phải để tìm chút hư danh gì nơi phố xá. Mà ông Tu là người mê khèn, ông muốn phục dựng những giá trị mà tổ tiên mình từng sở hữu, giờ đang bị mai một đến xót xa. Hóa ra, múa khèn trên ba cái cọc, có xuất phát điểm là điệu múa tiễn đưa hồn người quá cố về với Giàng của đồng bào Mông; hóa ra, thổi khèn đi như vũ nữ trên dây thừng là điệu khèn qua cầu qua suối có từ thượng cổ mà cộng đồng người nơi thâm sơn cùng cốc này vẫn biểu diễn xưa nay. Và, trước khi đi hội diễn quốc gia đoạt giải nhất, Hoàng A Đô đã được bố nuôi đưa đi biểu diễn tiễn người trăm tuổi về trời khiến cả làng cả bản rưng rưng xúc động, khiến nhiều “thần khèn” ở bản Mông hậc hậc nhe hàm… lợi móm mém ra “biết ơn” thằng cu Đô “thế là tao không phải mang các thế “võ khèn” xuống mồ rồi, có thằng để tao nhờ nó giữ các bài khèn cho bọn trẻ con sau này rồi”. Góc học tập của Đô ở Thạch Lâm, treo đủ Bằng khen giải nhất cuộc thi khèn Mông toàn quốc tổ chức ở Mộc Châu, Sơn La, năm 2006; giải quán quân tại các hội diễn ở Bảo Lâm, Bảo Lạc, sang tận Bắc Mê của Hà Giang, về nhiều tỉnh lân cận; đấy là chưa kể bằng khen của ngành văn hóa, của Ủy ban huyện Bảo Lâm. Trong ánh đèn dầu tù mù, Đô cứ soi và giới thiệu mãi, nhưng rồi, chính em cũng không nhớ hết số lần mình được khen thưởng vì biểu diễn nghệ thuật khèn của người Mông.
Hoàng A Đô sẽ đi về đâu?
Ông Hoàng Văn Tu đã giành nhiều năm nghiên cứu nghệ thuật khèn truyền thống của người Mông, ông cần phải có một truyền nhân, và theo ông, người đó phải là Hoàng A Đô. Bởi ông nhìn thấy ánh lửa đó trong mắt Đô, từ khi cậu mệt nhoài trên nương trong tình trạng thất học… hồn nhiên.
Ngày dạy chữ, đêm về, ông Tu biểu diễn khèn đắm đuối, để cho cái giai điệu, cái chất hoang dã quyến hồn của khèn Mông ngấm vào Đô. Ông muốn Đô học khèn một cách tự nhiên, tình nguyện. Lúc đầu là nhảy múa trên mặt đất. Co một chân, xoay người trong không gian, nhào lộn, đánh võ mà tiếng khèn không chùng không căng ngoài ý muốn của người nghệ sỹ. Mất vài năm, khi đã thổi, đã múa được vô vàn bài khèn “nhiều lắm không kể hết”, thì bắt đầu chơi bài khó. “Thổi, múa khèn, nó rèn luyện đạo đức, bản lĩnh sống, và cả thể lực (như tập võ nghệ) cho người ta. Lúc đầu tôi cho cháu biểu diễn khèn đi trên tấm ván to, tấm ván bé dần, rồi nó biến thành một sợi dây thừng, biến thành những cái cọc. Nó ngã nhiều, tôi cũng ngã nhiều, tập mãi thành quen. Tại sao lại múa khèn trên cọc và trên dây mà không phải là hình thức nào khó hơn hoặc dễ hơn, hoặc không giống thế?” – nhà giáo Hoàng Văn Tu quay lại đố nhà báo. “Là vì đi trên dây thừng (ra sân khấu biểu diễn phải cõng theo những cái cọc sắt và những sợi dây chão làm “đạo cụ”!); nó rất giống đi trên… cầu khỉ. Bản làng chúng tôi ở giữa hoang vu, chỉ có cầu bằng cây tre cây gỗ bắc qua suối. Người đàn ông Mông suốt đời khoác khèn trên vai. Bài biểu diễn đi trên dây múa khèn, chính là điệu khèn vượt đèo vượt núi (tiếng Mông phiên âm ra là: Tành do đợ do hé”)”. Theo lý giải của ông Tu, ông dạy Đô tập bài biểu diễn khèn tuyệt kỹ trên ba cái trụ gỗ nghiến cao cả mét, cũng là vì: ba cái trụ, là tượng trưng cho các cái cọc giết bò. Xưa, trong đám tang của người Mông, người thổi khèn đến cổng bao giờ cũng chăm chắm nhìn rồi nhảy nhót quanh (hoặc trên) ba cái cọc gỗ mà nhà có đám họ đã cắm để buộc con bò vào “hành quyết”. Người biểu diễn sẽ vừa dùng tiếng khèn, vừa hát bằng tiếng Mông, hỏi vì sao lại giết chết con bò. Rồi theo vết chân bò, theo các dấu hiệu giết bò, tìm ra nguyên nhân là vì nhà ấy có… người chết. Tiếng khóc ai oán cất lên. Có khi trong đám tang, Đô trực tiếp cùng những người khác thổi khèn, nhào lộn, hát đả kích những người thịt bò thịt trâu nhiều làm mất sức kéo (bò Bảo Lâm rất nhiều và là giống bò nổi tiếng cả nước); đả kích những người say rượu trong đám tang, những người hay chửi đánh nhau…, rất là tài hoa. “Công chúng” xem và nghe khèn của Đô ngày càng đông. Với bà con, đám tang, có cái gì thật lạc quan, trong vắt. Từ tiếng khèn trong nhà đám, đến tiếng khèn biến hóa như ảo thuật ngoài bìa rừng, trên dây thừng, trên cọc gỗ nghiến chênh vênh của Đô, tất cả đều mang tải trong từng giai điệu những lớp lang văn hóa, tộc người quý giá.
Mỗi lúc ngành văn hóa huyện, tỉnh hay các hội diễn các dân tộc vùng cao phía Bắc, Đô lại được xe lưu động của đội chiếu bóng cấp huyện đón đi. Năm thì mười họa có một cuộc để Đô phô bày được công phu luyện tập của mình, còn lại, rời ánh đèn sân khấu, Đô chỉ có mây mù và những con đường dốc dác, nhục nhằn của Thạch Lâm. Thật khó để nói rằng Đô sẽ thi đỗ đại học. Và một trường Đại học hay cao đằng, trung cấp không phải thuộc ngành nghệ thuật cần đến tiếng khèn Mông có cánh, có sắc hương kỳ ảo của Đô, cũng không phải là nơi Đô cần phải đến. Hoàn cảnh khó khăn, bản làng mù mịt, học lực trung bình yếu, nhưng Đô đã có tiếng khèn “đặc sản” có một không hai của mình. Nếu có một Mạnh Thường Quân, có một sự phá cách, xé rào, biết “có khi biến có khi tong” của địa phương, các trường văn hóa nghệ thuật, ngành văn hóa nói chung, thì có lẽ: Đô sẽ phát huy được tài năng. Tiếng khèn, nghệ thuật trình diễn khèn trên dây, trên cọc và nhiều độc chiêu mà Đô đang công phu tập luyện nữa sẽ đến được với công chúng nhiều hơn, sẽ bay bổng hơn. Phần “được” sẽ thuộc về tất cả chúng ta; và làm như thế, cũng là chúng ta đã nâng cánh, nhân ái với một người trẻ có tài và biết khát khao cống hiến.
Sẽ có một sân khấu rộng hơn, để “thần khèn” Hoàng A Đô không chỉ biểu diễn giữa hoang vu tím rắt một màu sim mua cằn cỗi ấy.
Đ.D.H
Có thể đọc bài viết này khi được đăng tải ở Báo Lao động, qua địa chỉ sau:
http://www.laodong.com.vn/Home/phongsu/2008/6/93118.laodong













Unregistered user # Wednesday, June 25, 2008 5:22:53 PM
Đỗ Doãn Hoàngdodoanhoang # Friday, June 27, 2008 8:41:57 AM
Vừa nhận được một bài của mình
trên trang web về Cao Bằng. Hóa ra tình yêu Cao Bằng của mình đã được "ai đó" thấu hiểu. Đọc thử:
http://blog.360.yahoo.com/blog-X4UWtJMzdKns_7ooq8JzOmzkcIo-?cq=1
Có gì, để lại điện thoại và email, gặp sau nhé!