Nhân việc người Việt Nam đầu tiên được xướng tên trong lễ trao giải Nobel Hòa bình:
Saturday, May 17, 2008 5:01:44 PM
Thưởng trà với “ông Nobel Việt Nam” để rồi ao ước…
Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng
Đất nước Việt Nam mình, hình như mọi người đều yêu thơ ca hò vè từ trong trứng nước. Số lượng người làm thơ nhiều khủng khiếp. Cứ mỗi bận thấy thế giới người ta xôm trò trao giải Nobel Hòa bình cho ai đó, hoặc một nhà hóa học, nhà vật lý, hoặc một chính trị gia… hay một nhà văn trác tuyệt, tôi lại nghe đâu đó tiếng thở dài: bao giờ người Việt mình có “con dân” được xướng tên ở “sân khấu” danh giá bậc nhất địa cầu ấy nhỉ? Lạ một cái, ít nghe tiếng thở dài não nuột của các vị hóa - lý - y học, mà toàn nghe các văn thi sỹ tủi hờn kêu ca. Có thể vì phần nhiều, tôi hay chơi với giới viết lách; có thể giới chữ nghĩa họ mau mồm mau miệng, mau đau đớn ủ dột hơn. Cũng có thể, giới sáng tác thơ ca hò vè ở Việt Nam biết rất rõ sự bất lực của mình trước bức tường công minh và hùng vĩ mang tên Giải thưởng Nobel.
Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng
Đất nước Việt Nam mình, hình như mọi người đều yêu thơ ca hò vè từ trong trứng nước. Số lượng người làm thơ nhiều khủng khiếp. Cứ mỗi bận thấy thế giới người ta xôm trò trao giải Nobel Hòa bình cho ai đó, hoặc một nhà hóa học, nhà vật lý, hoặc một chính trị gia… hay một nhà văn trác tuyệt, tôi lại nghe đâu đó tiếng thở dài: bao giờ người Việt mình có “con dân” được xướng tên ở “sân khấu” danh giá bậc nhất địa cầu ấy nhỉ? Lạ một cái, ít nghe tiếng thở dài não nuột của các vị hóa - lý - y học, mà toàn nghe các văn thi sỹ tủi hờn kêu ca. Có thể vì phần nhiều, tôi hay chơi với giới viết lách; có thể giới chữ nghĩa họ mau mồm mau miệng, mau đau đớn ủ dột hơn. Cũng có thể, giới sáng tác thơ ca hò vè ở Việt Nam biết rất rõ sự bất lực của mình trước bức tường công minh và hùng vĩ mang tên Giải thưởng Nobel.
Có thể và có thể. Nhưng có một điều chắc chắn, sau 107 năm, kể từ khi cái Giải Nobel đầu tiên được trao vào năm 1901, tên của một người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, đang sống và làm việc tại Việt Nam đã được xướng lên, trầm hùng trong lễ Trao giải Nobel Hòa bình năm 2007. Chuyện ấy diễn ra vào ngày 10 tháng 12 năm 2007, tại Thủ đô Oslo của đất nước Na Uy, người Việt Nam đó là Tiến sỹ Nguyễn Hữu Ninh. Tôi đã đến thưởng trà với ông Ninh, rồi chúng tôi cùng ngồi ao ước, ước đến cái ngày người Việt Nam biết sống tử tế hơn với môi trường sống, bầu khí quyển của mình, của con cháu mình và loài người tiến bộ.
3.000 trang sách, “bằng ấy chữ là bằng ấy tiên đề”

TS Nguyễn Hữu Ninh tại phòng làm việc; và cuốn sách được trao giải Nobel Hòa bình năm 2007 mà ông là đồng tác giả.
TS Nguyễn Hữu Ninh hiện là Chủ tịch Hội đồng Quản lý Trung tâm nghiên cứu Giáo dục và Phát triển Môi trường (CERED) thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam; đồng thời, ông cũng là Giảng viên uy tín của Trường ĐH Quốc gia Hà Nội. Biết tin ông Ninh là đồng tác giả của cuốn sách được trao giải Nobel Hòa bình từ sớm, chúc mừng ông sớm, nhưng tôi đã chọn cách đến tận nhà để chúc mừng ông hơi muộn.
Bởi tôi muốn gặp ông sau cơn bão phỏng vấn, chụp ảnh, quay phim của giới truyền thông thính nhạy. Quả nhiên, trong ngày nghỉ, người Việt Nam đầu tiên được xướng tên trong lễ trao giải Nobel Hòa bình trở về đúng là mình hơn cả, khi ông nhỏ thỏ đi pha trà mời khách. Vừa đi vừa nói rất nhanh, như sợ thời gian không đứng đợi mình vậy. Tiến sỹ Ninh tóc bạc, ngoại ngũ tuần, nói cực kỳ nhanh. Hai cánh bàn tay và cánh tay ôn, khi diễn đạt vấn đề luôn “biểu cảm” đến mức, các bức ảnh tôi chụp ông, mặt thì nét, tiền cảnh hậu cảnh rất nét, nhưng hai cánh tay thì… hầu như mờ nhòe cả. Ông xử lý mọi tình huống “hoạt” đến mức kinh ngạc. Cái kiểu tự tin và biểu cảm đó, ta thường bắt gặp ở khách ngoại quốc hoặc ở một người Việt theo Tây học.
Sinh ra trong một gia đình giàu có. Các cụ từng “thầu” cả cái chợ Đồng Xuân của Hà Thành; bà ngoại TS Ninh từng 3 lần bỏ tiền háo hức lặn lội vào tận Kinh thành Huế để xem… mặt vua, tận mục kinh đô tráng lệ bên dòng Hương Giang. Bà đi xem mặt vua rồi về kể cho hàng xóm, cho con cháu nghe chơi thế thôi. Bà là một khách du lịch rủng rỉnh tiền của nước ta, từ cái ngày mà ngành du lịch và các tiểu xảo “khai thác du lịch” của Việt Nam còn là một cái gì xa xôi như cung Quảng chị Hằng. Khi cậu bé Ninh ra đời, nhà lúc nào cũng có hai “người giúp việc”, có xe Pơ-giô đạp nghênh ngang phố xá, có đài Oriontong để nghe xoèn xoẹt. Cậu bé đi học, sáng ngồi chung lớp với chúng bạn nghe cô giảng. Chiều đến đúng cái lớp đó, đứng trên bục giảng, giúp cô giáo bổ khuyết kiến thức, luyện đọc luyện tính cho các bạn cùng trang lứa.
Học giỏi, được đi gặp Bác Hồ, xem đoàn văn công Tân Cương của Trung Quốc sang biểu diễn. Và, cậu bé Ninh được vinh dự đi “du học” ở Hungary từ năm 17 tuổi, học liên tục, học miên man đến mức muộn cả việc lấy vợ. “Hồi học ở Hungary, nhiều cô Việt Nam, Hungary, Ba Lan, Đức, họ thích tôi lắm. Tôi cũng thích các cô ấy lắm. Nhưng tôi đã gác chuyện yêu đương lại. Gác một cách thật sự, để làm tất cả vì khoa học. Đúng là phải gác lại và phải hy sinh để mà học. Tuổi trẻ là thời gian thiên thần nhất để dành cho việc học, bể họ vô tận. Chúng tôi ăn, ngủ trong phòng thí nghiệm”. Ngoài kho kiến thức có được nhờ xả thân với chuyện học, ông Ninh còn được trời phú cho giọng nói truyền cảm, khả năng diễn thuyết bằng tiếng Việt, tiếng Anh thứ thiệt. Ông từng diễn thuyết khắp các châu lục, từng có mặt ở hàng chục quốc gia “dâng” các bản báo cáo về biến đổi khí hậu toàn cầu, khiến cho khán thính giả nể phục một nhà khoa học Việt nhỏ thó mà tinh tường. Năm 2002, ông Ninh từng vinh dự nhận bằng tiến sỹ khoa học danh dự về vấn đề biến đổi toàn cầu do Vương Quốc Anh trao tặng. Thế giới coi ông là nhà khoa học hàng đầu của Việt Nam ở lĩnh vực này. Chả thế mà, khi thực hiện chương trình “Người đương thời” về “Ông Nobel Việt Nam” Nguyễn Hữu Ninh, BTV Tạ Bích Loan của VTV đã mời khán giả cả nước thưởng thức giọng đọc truyền cảm của ông Ninh bằng việc mời Tiến sỹ Ninh… đọc một văn bản với lời lẽ thống thiết liên quan đến số phận một hòn đảo kỳ diệu và bài toán bảo vệ những giá trị hoang sơ của địa cầu.
Thật khó và thật vô duyên khi đem so sánh những thành quả đã đoạt giải Nobel, xem cái nào “to” hơn cái nào, cái nào làm thế giới đẹp hơn so với cái nào. Nhưng, rõ ràng, Tiến sỹ Ninh không phải là nhà vật lý, nhà hóa học hay một bác sỹ đã phát minh ra các cái thành tựu làm thay đổi bộ mặt của thế giới. Ông Ninh và các đồng nghiệp đã dùng máy soi, quét để “scan” toàn bộ quả đất, để bắt bệnh quả đất vẫn hằng quay tròn của chúng ta, để tìm “bệnh” và chữa trị, hô hào đồng loại cũng chẩn trị. “Tôi có ông bạn làm Vụ phó một cái vụ rất to của nước ta, đang khỏe phăm phăm, một ngày ông đi chiếu chụp, scan lại cơ thể, và phát hiện ra một khối u khủng khiếp. Nếu không chữa trị nhanh thì sẽ ung thư và tử vong. Nhưng bình thường, rõ ràng, hằng ngày mải nghe Mỹ Tâm hát, mải tính chuyện được mất bia bọt, ông không bao giờ hình dung mình đang ôm một cục bệnh “tử thần”. Đấy, công việc của chúng tôi với quả đất cũng là như vậy. Là những bác sỹ tìm bệnh và chữa bệnh cho quả đất, bầu khí quyển, để nhắc và giúp con người tránh được những thảm họa hủy diệt do biến đổi khi hậu”. Tiến sỹ Nguyễn Hữu Ninh bộc tuệch.
Quả đúng là như vậy, mấy thập niên qua, loài người đã nói quá nhiều về “thế giới nạn” biến đổi khí hậu gây hiệu ứng nhà kính. Và, khoảng hai chục năm qua, cả cái tổ chức tên là: Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc (gọi tắt là IPCC) đã được thành lập để nghiên cứu, vận động, không chế sự nóng lên của trái đất. Hàng triệu người có lương tri, cả hô hào, cả biểu tình dữ dội (đôi khi quá khích) để làm sao cắt giảm lượng khí thải, làm sao bảo vệ môi trường, kiềm chế quá trình biến đổi khí hậu, tránh băng tan, nước biển dâng cao, bão lũ, hạn hán đã, đang và sẽ làm trái đất đảo điên. Ông Ninh là thành viên trong cộng đồng “ăn cơm ngô lo chuyện thế giới” kia. Công việc không mới. Hơn 2000 nhà khoa học của thế giới đã chung tay viết một cuốn sách được vinh danh là công trình mang tầm thế kỷ, mang tên “Báo cáo lần thứ tư – Biến đổi khí hậu 2007”, dày 3000 trang, do IPCC chủ trì. TS Ninh cùng khoảng 10 tác giả khác đã tham gia viết chương về Châu Á. Vậy là, nếu nói tiến sỹ Ninh đã độc lập đưa ra một phát kiến vĩ đại được trao giải Nobel Hòa bình thì chưa phải, nhưng sự đóng góp của ông là khả kính. Những nỗ lực, đức xả thân vì lý tưởng khoa học của ông là khả kính.
Ông Ninh đã có 20 năm nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở Việt Nam và nhiều quốc gia. Ông đã viết bản báo cáo về biến đổi khí hậu ở châu Á, cho cuốn sách được trao giải Nobel kể trên, ròng rã trong gần 3 năm trời, liên tục trao đổi, bàn bạc, kiểm tra chéo tư liệu với các chuyên gia ngoại quốc. Đặc biệt, ông có niềm tin sắt son vào tầm vóc cũng như tính khoa học tuyệt đối của những gì mình viết ra. “Mỗi chữ mình viết ra là một tiên đề, bằng ấy câu của bằng ấy tác là bằng ấy tiên đề. Ông viết gì ông phải chịu trách nhiệm trước nhân loại. Công trình là một điều khẳng định, là chân lý, là kim chỉ nam để người ta hành động. Nếu sai một chữ thì thật là tai họa” - ông Ninh nói.
Sẽ đắp đê lớn dọc bờ biển Việt Nam trước thảm họa nước biển dâng cao?
Riêng phần tham gia viết về Châu Á, ông Ninh đã phải đi thực tế rất nhiều, “Từ Trà Cổ rừng dương đến Cà Mau rừng đước”, đi khắp các nước Lào, Campuchia… để thu thập và phân tích tư liệu. Ông đặc biệt nhấn mạnh đến yếu tố phân tích tư liệu, chứ không chỉ là đo gió, đo nước, xem trời mưa hay trời nắng, xem bão lũ sẽ đến đâu và phá vỡ những cửa sông nào. Mà vấn đề là phải bàn xem bà con sẽ sống ra sao trong bối cảnh đó, mùa vụ cấy cày ra sao, đắp đê ngăn sóng biển hay di dân lên non cao mà ở. Chúng ta và con cháu chúng ta phải ứng xử thế nào với môi trường, khí hậu. Phải nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu cho dân và cho cả các nhà lãnh đạo, quốc hội như thế nào. Thảm họa thiên nhiên đến, sự tàn sát môi trường đến, thiên nhiên sẽ quay lại trả miếng con người ra sao, và khi đó, người nghèo là những người phải “lãnh mũi tên độc do biến đổi khí hậu” đầu tiên như thế nào. Những người giàu nhờ người kiếm lợi nhuận trên sự giết chóc môi trường kia, không lẽ họ cứ mãi nhởn nhơ “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi” thế ư?! Nghĩa là, ông Ninh luôn nhấn mạnh ý nghĩa xã hội, tấm lòng vì nhân loại, tính ứng dụng của công trình nghiên cứu biến đổi khí hậu. Những điều đó, phải được đặt lên hàng đầu.
Sự thực thì giờ đây, bà con, các quan chức và các nhà khoa học ở Việt Nam đã thừa nhận một sự thật: Việt Nam có hai thành phố tuyệt vời ven biển là Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, được liệt vào danh sách 10 thành phố bị ảnh hưởng nặng nề nhất do những hậu quả của biến đổi khí hậu trong vòng 20 đến 50 năm nữa. Bộ Tài nguyên Môi trường Việt Nam đã chính thức thừa nhận, trong thập kỷ tới, khoảng từ năm 2010 đến 2020, nhiệt độ trung bình của Việt Nam sẽ tăng không dưới 1,5 độ C - tăng nhiều nhất là vùng Việt Bắc và Tây Bắc.
Khí hậu nóng lên, là nó báo hiệu những thảm họa thiên nhiên, nó báo hiệu rằng lỗ thủng tầng ô-zôn đã lớn và nó chỉ có thể lớn thêm với tốc độ ngày càng đáng sợ thôi. Sự nóng lên hơn 1 độ C trên nền nhiệt độ trung bình không đơn giản là việc chúng ta chỉ phải bỏ bớt một tấm áo hay ở trần đóng khố đi cho nó mát, hay tốn thêm ít tiền bật điều hòa nhiệt độ. Mà là Hải Phòng, hay TP Hồ Chí Minh sẽ ngập tràn nước biển vào cái “giờ G” kia, các vựa lúa lớn nhất của Việt Nam sẽ biến mất. Bão lũ sẽ nhiều hơn, kéo dài hơn, sẽ vỡ đê, nước sẽ đỏng đảnh phá tan bờ bãi, hình thành những con sông, cửa sống mới. Con người sẽ côi cút và lơ ngơ mất còn trước cơn thịnh nộ của đất trời. Chẳng đâu xa, năm 2007 vừa qua, chưa bao giờ miền Trung liên tiếp 5-6 cơn bão, bão kéo dài, nước dâng cao và ngập lâu như thế. Những cái vùng trời yên bể lặng muôn đời như Bến Tre, giờ cũng có bão. Triều cường liên tục làm nhiều vùng của Sài Gòn thất điên bát đảo. Bão không phải chỉ đi qua Việt Nam như trước kia, mà bão tố lồng lộn, dày vò khúc ruột miền Trung thật sự. Thống kê của cơ quan chức năng Việt Nam, trong suốt 20 năm qua, thiên tai ở Việt Nam, cứ đều đặn năm sau nhiều hơn… năm trước.
Không có ai hù ai, không ai thích nói chuyện to tát ở bàn giấy về những thảm họa thiên nhiên để tỏ ra mình quan trọng trong trường hợp này. Sự thật nhãn tiền do biến đổi khí hậu gây nên, nó sẽ làm biến đổi thế giới này, sẽ biến tất cả những cuộc chiến tranh, sự xung đột giữa các nhóm lợi ích trở nên nhỏ bé đi. Loài người sẽ quên thù hận kiểu “nồi da nấu thịt” đi, để chung tiền, chung sức, chung những quyết tâm chính trị để làm sao phanh hãm quá trình nóng lên của trái đất. Loài người sinh ra đã không bình đẳng, nhưngg nay họ buộc phải bình đẳng trước những tai ương ở mức “sống hay không sống” của biến đổi khí hậu toàn cầu. Ông Ninh đưa ra sự thực rất ám ảnh: nếu châu Âu không lo cho người châu Phi, hệ lụy của biến đổi khí hậu là nước biển dâng, đất đai của người châu Phi sẽ bị ngập hết, nhiều cộng đồng sẽ tràn qua Địa Trung Hải vào châu Âu sinh sống. Châu Âu sẽ sớm biến thành… một Châu Phi mới. Người Châu Âu, họ không có cách nào khác, “trái đất này là của chúng mình”, chúng mình không cùng bảo vệ, giờ nó ngập tràn trong nước biển, chỗ chưa ngập chúng ta phải chia nhau mà chung sống hòa bình thôi. Anh châu Âu cũng sẽ không đủ súng đạn, càng không đủ sự bất lương để nổ súng ngăn chặn dòng người ở vùng đất bị ngập tràn lên vùng đất cao hơn tìm sự sống.
Ngay ở Việt Nam, Chính phủ cũng đã giao cho Bộ Tài nguyên- môi trường làm đầu mối, kết hợp với các Bộ khác để chuẩn bị chương trình mục tiêu quốc gia, rồi tiến tới có một chiến lược quốc gia về nhằm thích ứng với những diễn biến của tình trạng biến đổi khí hậu. Theo ông Ninh, dự kiến, trong quý 2 năm 2008 này, các cơ quan phải trình lên Thủ tướng Chính phủ thông qua bản dự thảo đó, để chính phủ có một chương trình tổng thể. Các cuộc họp này liên quan tới 18 Bộ ban ngành, cùng với tất cả các địa phương. Đó là một vấn đề rất lớn. Điều nữa, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng đã xem xét cái việc đắp đê dọc biển của Việt Nam, đồng thời trồng rừng ngập mặn ngoài đê. Con đê này, nếu sớm ra đời, nó sẽ là con đê của nhận thức, con đê ngăn chặn những hành xử thiếu hiểu biết với môi trường, khí hậu. Bởi, biến đổi khí hậu và những tai ương của nó, đã hiện diện lừng lững ở dạng “mắt thấy tay sờ”, hiện diện bằng chính các thảm họa giết chết nhiều người và phá hủy nhiều tài sản, phố xá, làng mạc – chứ không phải là câu chuyện huyễn tưởng ở trên mây xanh. Ở thế giới và ở Việt Nam, biến đổi khí hậu đã là câu chuyện thời sự cực nóng, nếu ai còn thờ ơ, thế nghĩa là họ đang tự sát và vô trách nhiệm với đồng loại. Có lẽ, đó cũng là một trong những lý do để cuốn sách về Biến đổi khí hậu của TS Nguyễn Hữu Ninh và gần 2000 nhà khoa học trên thế giới được trao giải Nobel Hòa bình 2007.
Hơn 90% nguyên nhân biến đổi khí hậu là “từ con người mà ra”
Khi hương trà thơm thảo quyện trong không gian, ông Ninh bảo: tôi không làm nghề để mưu kiếm nhà lầu xe hơi. Tôi thanh đạm với trà mạn, bạn đến tôi mời một tách trà quê, tôi ăn củ sắn củ khoai, hoặc bìa đậu phụ thế là vui. Không giá áo túi cơm, không lên xe xuống ngựa. Tôi thích đi xe đạp. Tôi sinh ra là một nhà khoa học, và vĩnh viễn tôi là một nhà khoa học. Nếu chết đi, khi đã làm được điều mình say mê, cống hiến được cho xã hội, nhân loại điều gì đó, được ghi nhận, thế là tôi vui rồi. “Trong nhiều năm học tập và nghiên cứu ở Hungary, tôi đã được làm việc tại cái phòng thí nghiệm của một nhà khoa học lừng danh từng đoạt giải Nobel Hòa Bình từ trước chiến tranh thế giới thứ 2. Đất nước Hungary có 8 người được vinh dự nhận giải thưởng Nobel, thì chỉ có một mình ông này sống và làm việc tại quê nhà. Cảm giác thiêng liêng vô cùng. Thầy dạy hết lòng, trò học hết mình, tinh thần khoa học tinh khiết ấy đã cháy rất đượm trong tôi suốt mấy chục năm qua. Thầy bảo tôi: anh học xong, phải về Việt Nam, nhiều nơi có thể hấp dẫn anh, họ chào mời anh, và ở đó anh cũng vẫn cống hiến cho nhân loại được thôi, nhưng Việt Nam mới là nơi anh cần phải cống hiến nhất. Ở đó anh mới là anh. Thước đo giá trị của một dân tộc, không chỉ ở chỗ, dân tộc đó đã sáng tạo ra cái gì cho mình, mà hơn thế, còn ở chỗ, sự sáng tạo đó đã đem đến những sự yên vui nào cho nhân loại?” – ông Ninh xúc động nói.
Những gì ông Ninh nói về biến đổi khí hậu toàn cầu, nó phủ lên tôi một bầu sương khói buồn bã kinh khủng. Thì bản thân việc băng tan, nước biển dâng, nhận chìm làng mạc phố xá hoa màu lương thảo của loài người đã buồn rồi. Buồn hơn là lối hành xử của nhiều người, trong đó có người Việt Nam với môi trường. Nó thiếu sự tử tế, không có lương tri và cực kỳ phản khoa học. Bởi nữa, việc nóng lên của trái đất là khó tránh khỏi, việc xung đột lợi ích khiến Nghị định thư Kyoto về cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính cứ bị nâng lên đặt xuống, các bên “thách đấu” với nhau như trò trẻ con cũng là khó tránh khỏi. Buồn ở chỗ là, ví dụ như nước Mỹ, họ có rất nhiều người làm việc nghiên cứu biến đổi khí hậu với ông Ninh, ngay trong đất nước họ, cũng có những bang họ cực lực ủng hộ việc cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính; họ coi đó là lương tâm của thời đại, họ gây sức ép với Chính phủ Mỹ là cần phải ký vào Nghị định thư Kyoto, rằng phải cắt giảm lượng khí thải. Thậm chí, ông Ninh tin rằng, ngay cả khi, vì những xung đột lợi ích nào đó, một vị Tổng thống Mỹ không chấp nhận cắt giảm khí thải, nhưng cá nhân họ vẫn thừa hiểu biết để hiểu: sự cắt giảm kia là tiếng gọi lương tri, là cần thiết, là cái tình của con người với con người. Buồn ở chỗ là, người ta nhiều khi quá ích kỷ, biết vậy, muốn vậy, nhưng lại không đủ tử tế với mình và với cộng đồng để làm như vậy. “Nếu người Mỹ cắt giảm 90% lượng phát thải CO2 của họ hiện nay đi, thì mỗi người dân Mỹ vẫn cứ đều đặn tống CO2 lên “giết hại” bầu khí quyển với số lượng nhiều gấp 150 lần mỗi người dân Việt Nam hiện nay!” – giọng TS Ninh đanh thép.
Thì loài người, trong khi cứ nằng nặc coi mình là cái rốn văn mình của cả hệ thiên hà, nhưng từ thuở hồng hoang đến giờ, họ có sáng tạo được mấy nả? Họ chỉ bóc than đá lên, hút dầu hỏa lên, đẵn gỗ ở rừng về, săn bắt hoang thú về… rồi mắm môi mắm mỏ “xẻ thịt” tài nguyên để phục vụ cho lợi ích trước mắt của mình. Lúc mới diễn ra thảm họa hủy diệt do biến đổi khí hậu thì loài người không tin trái đất lại có thể nóng lên nhanh như “cánh khoa học” đang “trầm trọng hóa vấn đề”. Bởi hàng triệu hàng tỷ năm trước, trái đất vẫn như vậy mà, mấy thập niên thì có khác gì cái chớp mắt của đất trời, làm gì mà đang yên ổn thì bỗng băng tan, nước biển dâng lên trùm lấp cả những thành tựu nhiều thế kỷ qua loài người đã com cóp dựng nên? Loài người “văn minh” quay lại đổ lỗi cho thiên nhiên tự thay đổi, trái đất tự mình nóng lên. Phải đến khi các nhà khoa học “nội soi” được các thứ bệnh tật của trái đất, rồi kết luận rằng: hơn 90% nguyên nhân biến đổi khí hậu là do con người, từ con người mà ra, lúc ấy người ta mới tin, mới tá hỏa “ngồi lại với nhau”. Song, cũng chỉ là phần nhân loại tiến bộ biết lo xa ngồi lại với nhau thôi. Chứ thuật ngữ sử dụng bền vững tài nguyền còn xa lạ với quá nhiều quốc gia, quá nhiều nhóm người. Thế giới 7 tỷ người, thì hơn 6 tỷ người… thuộc diện nghèo. Bên sự gào réo của cái dạ dày, đói rét tật bệnh, thì biến đổi khí hậu, với lại khí thải làm thủng tầng trời nào đó, là một thứ xa xỉ. Xa xỉ như một áng mây với người bộ hành khát nước.
Ở Việt Nam, ý thức bảo vệ môi trường của nhiều người, nhiều doanh nghiệp còn quá kém, không buồn sao được? Hai mươi năm trước, khi lần đầu tiên Việt Nam có một đề tài cấp nhà nước về vấn đề môi trường, bấy giờ GS Võ Quý làm chủ nhiệm đề tài. Ban tổ chức phát cho mỗi nhà khoa học một tờ giấy đăng ký. Ông Ninh cặm cụi viết tay vào tờ giấy xám của thời bao cấp “Bản đăng ký đề tài” nghiên cứu về Ennino, nhiều nhà khoa học thảng thốt: Ennino là cái gì, nó ở trên mây trên gió thì ảnh hưởng gì đến Việt Nam mà ông nghiên cứu để làm cái gì. Ông Ninh chỉ cười, bởi ông đã tiếp cận thông tin, đã thấy cả thế giới đang mê sảng vì sợ những gì sự nóng lên của trái đất mang lại, cơn cớ gì mà Việt Nam không bị? Việt Nam đang và sẽ chịu ảnh hưởng, còn ảnh hưởng nặng, bởi chúng ta có bờ biển quá dài - chỉ có điều chúng ta không có ai nghiên cứu nên chúng ta chưa biết mà thôi. Kể từ ngày đăng ký “đề tại lạ”, 21 năm sau, năm 2007, khi mà ông Ninh cùng 2.000 nhà khoa học ưu tú của thế giới hoàn thành bản báo cáo lần thứ 4 – 2007 về Biến đổi khí hậu, được nhân loại tiến bộ ghi nhận, trao giải Nobel Hòa bình, thì không một ai trên thế giới có quyền “cãi” về những thảm họa được “bắt tận tay day tận trán” do Biến đổi khí hậu gây ra nữa. Cả Việt Nam, cả 7 tỷ người trên thế giới, chỉ còn một việc là khẩn cấp đoàn kết, khẩn cấp bảo vệ tầng khí quyển để tránh những thảm họa có thể gây tuyệt diệt không chỉ cho riêng ai.
Ước gì tất cả mọi người đều biết tử tế với môi trường sống của mình!
Điều đáng nói là: ngay cả khi thành tựu kỳ vĩ, “bằng ấy câu chữ là bằng ấy tiên đề” của TS Ninh và 2.000 nhà khoa học ưu tú được ghi nhận, hình như lối ứng xử của người Việt Nam với môi trường sống vẫn không được nâng cao lên nhiều lắm.
Bản thân ông Ninh lúc nào cũng chăm chắm không bật điều hòa ở nấc lạnh hơn 29 độ, tắt tivi ngay khi không thực sự cần xem, mà phải tắt từ nguồn điện chứ không chỉ tắt ở cái remode… Đại ý là tiết kiệm “nhiên liệu” một cách tuyệt đối, để làm sao trên một đơn vị nhiên liệu ấy, người sử dụng sẽ thu được “công năng” nhiều nhất. Thích đi xe đạp, thích thanh đạm với khoai sắn, say đắm thiên nhiên hoang sơ. Ông Ninh cũng giống như những người bạn làm bảo tồn của tôi, họ đứng bật dậy khỏi bữa tiệc, với cái bụng lép kẹp, nếu thấy có món thịt động vật hoang dã, kể cả “thú quý hiếm bị sát hại” hôm đó là một vài con chim sẻ. Họ mặc kệ người khác vừa cười mỉa mai, thương hại vừa nhồm nhoàm ăn hươu, nai, cả thịt gấu thịt hổ. Sinh ư nghệ, tử ư nghệ, nhận thức – văn hóa bảo tồn đã đi vào máu họ. Dẫu họ quá hiểu, nếu họ không ăn con chim sẻ, còn cầy con cáo đã bị bắn chết đã xếp lên mâm lên đĩa kia thì người khác cũng ăn; cả làng cả nước ăn, nếu bỗng có một người không thì lũ chim sẻ, cầy, cáo, hổ, báo, hươu, nai cũng không vì thế mà về lại với thiên nhiên hoang dã được. Nhưng, từ sâu thẳm, lương tâm nhắc họ phải hành động như vậy. Đó là văn hóa. Nhận thức về biến đổi khí hậu đã ngấm vào máu Nguyễn Hữu Ninh, ông coi việc bảo vệ môi trường, tiết kiệm nhiên liệu, biến mình thành một tín đồ của tổ chức Hòa bình xanh: nghiên cứu, diễn thuyết, trả lời giới truyền thông đều là những “công cụ nối dài” để ông tiếp tục hiệu triệu cả thế giới phải hành động khẩn cấp trước những điều kinh hoàng, trước “cơn đại hồng thủy hủy diệt loài người” mà biến đổi khí hậu sẽ mang lại. Dường như sáng nào ngủ dậy, trong cơn mơ nào, ông Ninh cũng đã thấy những thành phố gần biển của Việt Nam như Hải Phòng, Sài Gòn đã bị ngập, và con đê biển kỳ vĩ dọc hơn 3.000km bờ biển Việt Nam đã hình thành. Ông đã làm tất cả những gì có thể, từ việc tắt cái tivi đến việc đem sách về biến đổi khí hậu đi ký tặng hầu khắp các vị lãnh đạo để “nhắc nhở”, đến việc đăng đàn diễn thuyết kêu gọi người dân khắp các châu lục hãy chung sức ngăn “sóng dữ” từ tình trạng hiệu ứng nhà kính đang làm trái đất nóng lên, băng tan, nước biển dâng…
Trong khi đó thì ông và tôi ngồi thưởng trà, nhìn chỗ nào cũng thấy sự vô văn hóa của các cá nhân tồi và các doanh nghiệp vô trách nhiệm đang sát hại môi trường. Nhập phế liệu hàng trăm tấn về nước để “tái chế” kiếm bộn tiền. Đem lợn nuôi bằng những “hóc môn” tăng trưởng hãi hùng, gà ốm gà thải nhập lậu qua biên giới Trung Quốc ào ào, tưới tắm thuốc trừ sâu lên rau quả rồi đem… bán, bán để “đồng bào” mình ăn vào miệng, đặt lên bàn thờ tổ tiên. Quá nhiều doanh nghiệp kiếm ăn qua việc đổ chất thải thẳng vào môi trường, sông Cầu, sông Hồng, sông Đồng Nai đã kêu cứu từ lâu, có cả những ủy ban cứu các dòng sông, các ủy ban èo uột hoạt động - trong khi các doanh nghiệp vẫn đầu độc, giết chết con sông quê hương. Nửa đời người phiêu bạt trở về, dù thương mến lắm, nhưng liệu có ai dám úp mặt vào các cái sông quê như sông Cầu, sông Lừ, sông Sét, sông Tô Lịch không, hả ông Nguyễn Trọng Tạo ơi? Cái lợi nhuận họ có được, bỏ vào túi tham của họ, là do giết chết môi trường của bà con mà ra, những rác rưởi đó bà con mình phải gánh chịu. Bà con là chính họ, công nhân của họ, con cháu họ, bố mẹ họ, hàng xóm của họ - Giọng TS Ninh trở nên đay nghiên, xót xa. Cái đó có gọi là lợi nhuận không? Nên gọi nó là một sự độc ác, sự bỉ ổi.
Nhà nước pháp quyền của chúng ta có thể đóng cửa các doanh nghiệp kia không, quảng đại dân chúng Việt Nam có thể tạo một diễn đàn để tẩy chay vĩnh viễn các doanh nghiệp rước rác thải, hóa chất độc hại vào môi trường sống của mình, của con cháu mình không? Có chứ. Có, nhưng sao chúng ta không kiên quyết làm? Sự không cứng rắn đó đã dẫn đến hậu quả là càng là người giàu thì người ta càng đóng góp cho sự bình an của môi trường sống càng nhỏ bé. Ông Ninh cay đắng: chúng ta không cần ban bố thêm những sắc luật mới để xử lý những sát thủ môi trường, chỉ cần Luật Tài nguyên môi trường hiện nay đã là quá đủ rồi, chúng ta có luật, đủ chế tài, chỉ cần làm nghiêm túc đã là tốt lắm. Nhưng hình như chúng ta đã chưa thật sự nghiêm khắc. Để rồi cái bất cập cứ tồn tại như một sự trớ trêu khó tưởng tượng. Sống trong môi trường ô nhiễm từ nước, khí thải, ăn uống các thực phẩm phun tẩm hóc môn, nhiễm hóa chất độc hại; chung sống với sự tàn sát môi trường; sự vi phạm không được xử lý dứt điểm - những điều đó đã dẫn đến chất lượng cuộc sống bị kéo xuống thấp, thấp đến thê thảm. Khi mà các chỉ tiêu tăng trưởng có vẻ “cao” về con số, nhưng “trừ đầu trừ đuôi” cái phần lẽ ra người ta phải bù vào để cứu vãn môi trường ô nhiễm do quá trình phấn đấu đạt chỉ tiêu tăng trưởng người ta đã gây ra – như thế thì tăng trưởng cao để làm gì? Mọi chi tiêu phải hướng đến cái lẽ bình an, bền vững của dân sinh chứ. Đó cũng là điều mà TS Ninh hết sức tâm đắc và trăn trở.
Người làm bảo tồn, bảo vệ môi trường, ngăn chặn những nguy cơ tàn khốc của biến đổi khí hậu, hình như bao giờ cũng tuyệt vọng. Họ tuyệt vọng, bởi xả rác, ăn thú rừng, đẵn gỗ rừng, chĩa ống khói đen ngòm lên trời là dĩ nhiên, đôi khi người ta coi đó là tiêu chí của sự phát triển, là cái việc chẳng đặng đừng của cả thế giới (!?). Cũng chính vì sự “dĩ nhiên” đó, loài người tiến bộ mới nảy sinh ra các chuyên gia bảo tồn, các tình nguyện viên của tổ chức Hòa bình xanh, các chuyên gia biến đổi khí hậu như ông Ninh và các đồng nghiệp của ông. Ông tuyệt vọng, cũng như khi ông muốn đi cái xe không nhả khói vào bầu khí quyển (xe đạp) ở Hà Nội, nhưng phố Hà Nội quá bát nháo để một nhà khoa học ngoại ngũ tuần có thể thong rong. Cũng như khi ông tiết kiệm một tí điện thông qua việc tắt ti vi là phải tắt tận nguồn ổ điện, thì có quá nhiều người xài điện kiểu “xả láng cuộc đời”; bởi họ giàu, họ biết: mũi tên tăng giá giết chết người nghèo, bao giờ cũng thế, nên họ cứ xả láng. Ông Ninh buồn cũng phải, ông đẹp hơn bởi nỗi buồn trí tuệ và vị nhân sinh đó.
Khi tôi cảm ơn ông và cảm phiền ông vì đã lấy đi của ông trọn một buổi sáng ròng, ông niềm nở: thật ra, giới truyền thông cũng là “đồng nghiệp” của tôi, họ đã giúp tôi nói với công chúng những điều tôi cần phải nói. Nâng cao nhận thức cộng đồng, là phần nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của những người như tôi. Ông khoe, cuối tuần, Sứ quán Hungary, đất nước đã nuôi dưỡng ông, sẽ mời ông dự cơm thân mật. Tuần sau, ông lại đi diễn thuyết trước hàng nghìn sinh viên về vấn đề biến đổi khí hậu và tai ương của nó. Khi công trình đã được ghi nhận, đã tìm và chứng minh được bệnh trọng của quả đất, vấn đề chỉ còn là hiệu triệu nhân loại tiến bộ cùng chữa bệnh cho Trái Đất - bà mẹ, bà đỡ, tay nôi của mình thôi. Trong mắt ông Ninh lấp lánh niềm vui, niềm vui của một nhà khoa học đăm đắm muốn cống hiến tâm sức cho cộng đồng, nay đã được ghi nhận, những gì ông và đồng nghiệp trên toàn thế giới đang xả thân hướng tới đã được cộng đồng hưởng ứng. Cộng đồng hưởng ứng để cộng đồng tự điều chỉnh hành vi của họ nhằm… tự cứu họ, cứu gia đình, con cháu họ. Đó, hình như, mới là cái lẽ thâm cao nhất của công việc nghiên cứu biến đổi khí hậu.
Tiến sỹ Nguyễn Hữu Ninh nói: Thay vì bỏ hàng nghìn tỷ đôla vào những cuộc chiến tranh rất vô nghĩa, tại sao người ta không bỏ ra để giải quyết vấn đề môi trường để cứu mình và cứu đồng loại? Như thế, tốt hơn rất nhiều chứ. Việc trồng cây và công nghệ hút CO2 nhiều hơn, việc sử dụng năng lượng mặt trời và năng lượng gió, hay thậm chí, nếu dùng năng lượng nguyên tử thì hãy tìm ra phương pháp để các lò phản ứng hạt nhân sẽ an toàn hơn đi. Hay tìm biện pháp để biến rác thành dầu mỏ. Hoặc tìm cách hút CO2 vào thể lỏng, thậm chí là thể rắn để chôn nó đi. Hoàn toàn có thể làm được việc đó, nếu như chúng ta chỉ bỏ ra 1/10 trong số hàng nghìn tỷ đôla chi cho cuộc chiến tranh vô nghĩa đang biến thế giới vào cảnh nồi da nấu thịt hiện nay. Mấy trăm tỷ đôla chi cho môi trường đã là ra vấn đề rồi. Các dự án môi trường không phải là quá tốn nhiều tiền, càng không phải vì chúng ta không có tiền. Tôi nhắc lại, chỉ thế giới có đủ tiền, có trí tuệ, chỉ thiếu quyết tâm chính trị thôi.
Đỗ Doãn Hoàng












