Nhật ký buồn sau các cuộc gặp với “quái kiệt nhà giam” (bài cuối)
Tuesday, May 20, 2008 5:37:51 PM
Một ngôi đền và những ngôi đền… trong trại giam
Phóng sự dài kỳ của Lãng Quân
Đọc kỳ cuối theo đường dẫn sau đây: http://www.vietimes.com.vn/vn/tienggoisophan/5002/index.viet
Chúng tôi, cán bộ quản giáo, khách khứa gần xa và cả phạm nhân đều đi thắp nhang trong đền. Đền do trại giam “quản lý”, hóa ra chẳng khác gì đền ở ngoài đời; cũng như nén nhang của người tù, sự cầu khấn của người tù, chẳng có gì khác so với những gì mà chúng ta vẫn hằng thấy. Cái khác, là ở chỗ: người cán bộ ở trại giam số 5 đã rất nhân văn, khi nghĩ về một nhu cầu lành mạnh, vẫn tồn tại trong niềm khao khát của hàng nghìn phạm nhân mà mình đang quản lý: một địa chỉ tâm linh. Tìm một chốn thanh tịnh. Trong cuốn sách “Trại giam số V - 60 năm chặng đường lịch sử” (NXB Thanh Hóa, năm 2007), Đảng ủy, Ban Giám thị trại cũng tự giới thiệu rõ: công trình là “Đền thờ Lê Lợi –khu thắng cảnh do cán bộ chiến sỹ trại 5 góp công xây dựng”.
Phóng sự dài kỳ của Lãng Quân
Đọc kỳ cuối theo đường dẫn sau đây: http://www.vietimes.com.vn/vn/tienggoisophan/5002/index.viet
Chúng tôi, cán bộ quản giáo, khách khứa gần xa và cả phạm nhân đều đi thắp nhang trong đền. Đền do trại giam “quản lý”, hóa ra chẳng khác gì đền ở ngoài đời; cũng như nén nhang của người tù, sự cầu khấn của người tù, chẳng có gì khác so với những gì mà chúng ta vẫn hằng thấy. Cái khác, là ở chỗ: người cán bộ ở trại giam số 5 đã rất nhân văn, khi nghĩ về một nhu cầu lành mạnh, vẫn tồn tại trong niềm khao khát của hàng nghìn phạm nhân mà mình đang quản lý: một địa chỉ tâm linh. Tìm một chốn thanh tịnh. Trong cuốn sách “Trại giam số V - 60 năm chặng đường lịch sử” (NXB Thanh Hóa, năm 2007), Đảng ủy, Ban Giám thị trại cũng tự giới thiệu rõ: công trình là “Đền thờ Lê Lợi –khu thắng cảnh do cán bộ chiến sỹ trại 5 góp công xây dựng”.
Cảm xúc rất lạ. Trong một khuôn viên rộng rãi, phía trước có hồ sen ngút ngát, phía sau là ngọn núi cao ngất trời, đá tai mèo xám đen hùng vĩ. Hai bên tả hữu của đền, là đồng ruộng thẳng cánh cò bay, ao đầm mênh mang. Đúng là một thắng cảnh. Chỉ có điều khác: ngược xuôi quanh đền đều thấy màu áo xọc của phạm nhân đang rẫy xén cỏ. Ao sen được kè đá kiên cố, đá rất sẵn ở các dãy núi liền kề, hàng nghìn hàng vạn công lao động đã bỏ ra cho đại công trình. Có cầu thủy tạ dẫn ra giữa hồ, ở đó, tượng Bồ Tát cao cả chục mét, với những hàng cột bê tông khổng lồ được dựng lên. Trong đền, tòa ngang dãy dọc. Hai phạm nhân “mắc” án kinh tế, năm sáu chục tuổi (phải chọn người “cứng” tuổi) đang lui cui quét tước, chăm sóc bồn hoa, cây cảnh, đèn nến cho từng ban thờ. Ngoài vườn đền, có một hàng ghế đá, giữa hai phom ghế lớn, có một bàn cờ nằm bất động ở đó từ rất lâu. Có ai đó vẫn hằng đánh cờ như Đế Thiên, Đế Thích ở đây? Phó Giám thị Vân, giải thích: đó là bàn cờ tưởng nhớ một đồng chí trong Ban Giám thị trại, đã quá cố. Ông này, sinh thời rất thích đánh cờ, cực kỳ tâm đắc với giá trị tâm linh và phong cảnh ở “đền thờ Lê Lợi”. Sau này, vì những lý do riêng tư, tình nghĩa, anh chị em đã cho xây một bàn cờ, bộ ghế theo kiểu ông vẫn ngồi “thiền” cờ để tưởng nhớ - để, biết đâu, trong những ngày đẹp trời, “cụ” vẫn lại qua, chơi thêm ván cờ, du sơn du thủy ở nơi non nước hữu tình mà cụ đã nhiều năm gắn bó? Người ta bảo, đôi khi, quân cờ vẫn di động một cách bí ẩn, theo những nước, những thế tài hoa mà xưa kia “ông mê cờ” vẫn tâm đắc.
Hai người đàn bà đi ở tù, nhưng lại được ở đền lễ thánh, được cả tụng kinh gõ mõ cầu điều an lạc của nhà Phật, cho mình và cho tất cả cán bộ, bà con trong khu vực, khách quý cùng những người tù. Một người tên là Tuyết, một người tên là Dung, người ở Hải Phòng, người ở Sơn La, họ đều phạm tội liên quan đến kinh tế. Tuyệt đối các tội phạm liên quan đến ma túy, mãi dâm, trộm cắp, cố ý gây thương tích (hoặc giết người) không được tham gia công việc làm “từ đền” này. Đền là một không gian tương đối tổng hợp, thờ cả Tam tòa đức mẫu, thờ Phật, thờ các vị tiên liệt anh minh. Đền, có từ cổ xưa, trước là một “ngôi” nhỏ, chỉ đặt được một bát nhang và môt cái ngai bé, bà con trong khu vực ít khi qua lại. Nhưng, theo Ban Giám thị trại 5, đền là một di tích tâm linh được biết đến nhiều trong vùng, là nơi thờ vua Lê Lợi (hay thờ vọng Lê Lợi, thờ một danh tướng của ngài? - điều này còn phải “khảo” thêm), bởi khu di tích quốc gia Lam Kinh chỉ nằm cách ngôi đền trại 5 chừng 20km.
Bà Tuyết hướng dẫn chúng tôi thắp nhang từng gian “sơn son thếp vàng” của đền. Thắp nhang ngoài hồ sen, nơi có tượng Bồ Tát cầm cành dương liễu, hướng mặt về mặt hồ sen, cũng là phía trại 5, “ban phúc” cho cán bộ và gần 5.000 phạm nhân nơi này. Cả bà Tuyết lẫn bà Dung đều bị án kinh tế, cả hai đều mắc án… chung thân, đã thụ án nhiều năm, đã được giảm án. Một hôm, trong 1.000 phạm nhân nữ, không hiểu sao cán bộ lại chọn hai người đàn bà cứng tuổi này, cho gọi lên, “ưu ái” cho ra coi đền. “Trước khi ra đây, hai chị em tôi vẫn chưa bao giờ biết nhau cả” – bà Tuyết nói.
Trò chuyện với hai nữ phạm đang coi đền trong khu vực trại giam!
Câu chuyện của tôi với hai người đang thụ án tù (có lẽ là) duy nhất ở nước ta mà đang coi sóc, tụng kinh gõ mõ giữa không gian tĩnh lặng, hoang vắng của một ngôi đền thiêng do trại giam quản lý, xin trích, như sau:
-Dân xung quanh có hay vào lễ không, bà chị?
-Dân người ta ít đi lễ, đường vào khó đi, vả lại, qua các trạm gác của công an, người ta cũng ngại.
- Ở ban thờ này, vẽ như thế này chứ cần có cái phông thì hình của hai vị hổ thiêng sẽ đẹp hơn, sao chị không tham mưu cho người thi công?
-Cán bộ nên nhớ chúng tôi là tù, nên cũng ngại.
-Chắc “khả năng” nhang khói, tụng kinh của chị cũng đã nổi tiếng trong trại từ trước, thì cán bộ mới “cho mời” ra quản lý đền chứ?
- Chắc là cán bộ tìm hiểu khả năng của chúng tôi thông qua lý lịch lưu trong hồ sơ phạm nhân. Tôi ra đây chừng 1 tháng thì gia đình mang mõ cá và chày kình lên cho tôi. Tất nhiên, trước khi vào đây, tôi đã tụng kinh gõ mõ rồi. Các quản giáo biết “năng lực” ấy chứ. Tôi hết sức tin vào kiếp sau của con người ta chứ.
- Án của chị Tuyết còn bao nhiêu năm?
- Tôi án chung thân, đã được giảm rồi, giờ xuống khung 20 năm rồi. Tôi ở đây được hơn chục năm rồi. Còn khoảng 6 năm nữa, mòn mỏi lắm. Lúc vào tù tôi còn… khỏe mạnh lắm. Tôi là người kinh doanh, người của Công ty Xuất nhập khẩu thương mại Hải Phòng.
-Khi mới vào, chị được giao làm việc gì?
-Tôi lên đây chừng 1 tháng thì tôi ra đội sản xuất ở ngoài ruộng. Những người án chung thân ra ruộng tất. Tôi cắt cỏ, ở rừng gianh, rồi được đưa vào đội tự quản, phụ trách bếp ăn. Tôi từng có 5 năm làm đội trưởng ở đội bếp ăn. Nay tôi lớn tuổi đau chân tay, đau tay, các cán bộ mới cho tôi nghỉ. Hằng ngày tôi chăm mấy cái cây cảnh, cũng nhàn.
-Người vào đây thắp nhang, cầu cúng có đông không?
-Thế giới trại giam, có một nơi thanh thản thế này ít lắm. Trước, quản lý chỗ này là anh Minh, trước nữa là 2 anh nam giới khác cũng từng “canh” ở đây. Trước đây là một ngôi miếu rất nhỏ. Người đến thắp nhang, cả cán bộ, cả phạm nhân đều có.
-Các chị hay đọc kinh gì?
-Kinh cầu an cho chính mình và những người xung quanh, gồm 8 điều, lúc ấy là phải tĩnh tâm. Cả phạm nam, phạm nữ, họ đều nhờ chúng tôi “đọc kinh” cho. Tôi đọc cả biến kinh của Địa Tạng Vương Bồ Tát. Kinh mẫu. Ối giời ơi nhiều kinh lắm. Không thích hầu bóng, không thích tí nào. Ở nơi này, thì tụng kinh Di đà, Quan thế âm bồ tát là tốt nhất.
-Các chị có cầu siêu cho các tù nhân bị chết đã đưa ra nghĩa địa núi Mành của trại 5?
-Có chứ. Có nhiều, có người bị đá đè, có người bị AIDS, có người bị cảm mạo, khi họ chết, chúng tôi đều cầu an cho họ.
Hai người đàn bà cứ miên man tâm sự, trong cái chiều chạng vạng buồn xót xa ẩn mình sau những dãy núi đá điệp trùng. Nơi này, chả trách từng được mệnh danh là chốn “má hồng để lại xanh xao mang về”, vì hoang lạnh, khắc nghiệt nổi tiếng. Một người phạm tội, giữa khi án kinh tế đang bị đem ra “xử điểm”, nên rất nặng, bán nhà cửa đi “đền” cho những thất thoát mình đã gây ra, mà vẫn phải tù chung thân. Một người “cõng” cả anh con trai đi theo vụ án kinh động của mẹ, con ở trại Ba Sao, mẹ ở Trại V; một người đã tóc bạc da mồi, lên bà nội bà ngoại từ lâu, sau hơn chục năm thụ án, mấy lần giảm án, giờ vẫn còn mỏi mòn dăm bảy năm ở tù nữa; một người đi ở tù, khi chồng đang là cán bộ Tuyên giáo của tỉnh, các con đều là cán bộ tỉnh. Nỗi đau, không còn là thứ mà riêng một mình người đàn bà ấy mang theo vào tù nữa. Nỗi đau cứ ngấm dần, tàn phá bà. Khi người con dâu ý nhị bỏ đi, vì chồng đã theo mẹ của anh ta vào tù. Khi cháu chắt hỏi bà đi đâu mà bao nhiều năm ròng, cả nhà chỉ biết ngồi khóc, nói dối con trẻ: “bà đi Sài Gòn công tác, rất lâu, rất lâu”.
Hai người đàn bà cứ nói, bất biết tôi có nghe hay không; cũng như họ cứ quét cửa đền, bất biết lá chiều nay có rụng không. Họ vào tụng kinh gõ mõ, họ nhắc đến những từ “nợ tiền kiếp”, “kiếp nào đã vụng đường tu”, “cái oan cái nợ còn đè nặng đường trần”. Ánh chiều đỏ quạch nhuộm vào khu hồ, đầm, ao sen có tượng Bồ Tát. Bất giác, tôi quay ra, nhìn chẳng thấy hai phạm nhân làm từ đền đâu cả, có cảm giác, họ lặng lẽ đã thành cơn gió đồng.
Về sự nhiệm màu, nhân chuyện một ngôi đền của trại 5:
Sự quan tâm đầu tư của nhà nước, sự quy củ hiệu quả của công tác quản lý, những nỗ lực lao động cải tạo của phạm nhân hôm nay, những điều đó đã khiến cho “nỗi khiếp đảm truyền khẩu” về đói - khổ - sự đọa đày của đời tù (ví dụ, “đói như tù” là vẫn câu “cửa miệng lâu nay) dần trở nên xa lạ. Cơm trắng cả âu, rau đồi hàng ruộng, lúa gặt về nhiều nhiều tấn, có khi tươi mới với thịt lợn mổ cả con trong chuồng, cá đánh cả lưới đẫy dưới ao, không nói sách vở, không hô khẩu hiệu đâu, mức sống của người tù được cải thiện ở mức độ khiến người ta đều bất ngờ. Trên đồi, hệ thống cây cảnh đại thụ được cán bộ và phạm nhân chăm sóc kín rợp đất trời. Thân cây, gốc cây to như cột nhà, cành tán xum suê, la đà như vườn thượng uyển. Đàn lợn nái, lợn giống, lợn dùng để… thịt đánh chén ở trại Thanh Lâm là một… kỳ quan. Những con lợn nó cao dễ đến một mét rưỡi, dài như con… thuyền, lợn ta đứng bốn chân mà cao như người chăm sóc nó. Lợn đi lại nghênh ngang, khiến nhiều người coi là một giống gì… không phải lợn. Đã có vị khách nhìn con lợn khổng lồ nằm ở đống sình lầy trên quả đồi của trại Thanh Lâm là…. con hà mã châu Phi! (xem ảnh).
Ở trại Thanh Lâm, ông Đại tá - Giám thị Nguyễn Xuân Phòng rất hào hứng khoe với khách: chúng tôi ở nơi này, vốn là rừng xanh núi đỏ, sốt rét đến mức cán bộ y tế vào dập dịch cũng bị sốt rét ác tính nó hạ gục luôn; ngay cả “sếp” Chấn (Thiếu tướng Phạm Đức Chấn, nay là Cục trưởng Cục Quản lý trại giam - V26, Bộ Công an), trước khi được điều chuyển ra ngoài Trung ương, còn bị sốt rét một trận kinh hoàng. Từ xó núi này, thế mà chúng tôi dám xuống biển Sầm Sơn tổ chức cho tù nhân và cán bộ nuôi cả nhiều héc-ta tôm (cùng nhiều loài hải sản) xuất khẩu. Người ta bảo, “cái đám ở rừng, lại toàn tù nhân, tâm tính nó thất thường hiểm nguy thế, mà lại dám đòi xuống biển nuôi tôm thì nuôi thế nào được”; thế mà chúng tôi đã thành công. Xong món tôm, giờ đến dự án trồng hàng vạn gốc cây gió bầu. Gió của chúng tôi đem giống từ vựa trầm quý Nam Trung Bộ ra, cho lên xe quân sự kéo vào tận cái phân trại mằm giữa hoang vu, hễ mưa là bị cô lập kia để trồng. Giờ đã đến tuổi “cấy ghép” rồi. Nếu nó cho trầm đúng như dự kiến, mà nó đang cho trầm rồi chứ có xa xôi gì - thì chúng tôi sẽ làm ăn to. Năm tới, chục tôi sẽ trồng tiếp nhiều nghìn cây gió bầu nữa. Đi trong rừng trầm gió của chúng tôi, các vị thấy đấy, nó rợp mát, sạch sẽ, thơ thẩn cứ như hàng bạch dương của nước Nga ấy chứ.
Và, nhân thế, có một điều, tuy không phải là thống kê chính thức, nhưng quả là tôi (người viết loạt bài này) rất hay gặp. Đó là những con người đầy nỗi niềm sau vài thập niên sống ở trại giam, quản lý phạm nhân, quản lý lâu đến mức, có anh vào tù đến 5 lần, vẫn thấy giám thị, phó giám thị và vài quản giáo đang “ở tù”, anh (chị) ta đã buột miệng: Tôi ở tù còn có ngày ra, chứ như cán bộ ở hơn ba chục năm như thế, thì rõ ràng là đang chịu án chung thân! Khi ấy, thường thì người “coi ngục” trở nên triết lý, nỗi niềm hơn bao giờ hết. Họ bảo, sao con trai trai ngoài biển mà phạm của chúng tôi nuôi, một hạt cát vào cơ thể nó, nó bao bọc, đau xót rồi biến cát thành ngọc được? Sao vết sẹo của cây gió bầu, nó tiết nhựa, tiết “đề kháng” ra, biến được nỗi đau thành trầm quý? Sao người tù của chúng tôi, không vịn được vào lầm lỡ của mình ra để đứng dậy? Họ có luyện được ngọc, được trầm cho mình không?
Rồi cái đêm tôi đi dạo trong khuôn viên “cơ ngơi” của “Kinh đô trại giam” cùng ông Vực, Giám thị trại Phú Sơn 4, ông bảo: ở đời, xã hội, nó cũng như một cái gia đình, có anh sinh ra đã thiệt thòi, có khi tù tội, có khi yểu mệnh; hãy thương xót lấy những cái anh ấy, bởi như các cụ nói, họ là người sinh ra để lĩnh “sứ mệnh” gánh cái khổ ải, cái “nợ đời” cho ta. Hãy tin, hơi cơ huyền một tý, nhưng hãy tin, sự lầm lỡ, thiệt thòi của họ, là họ gánh cái “gở” cho ta, để ta an vui, khỏe mạnh, đuề huề. Rồi, những đêm tôi lang thang ở trại Vĩnh Quang, trại Tân Lập, những cái nơi chín suối mười đèo, nghe hoang thú kêu dồn, nghe cá chép vật đẻ quẫy đạp dưới ao xuân. Người quản giáo khi ấy bỗng trở nên sương khói, họ nghĩ về một không gian có sự đổ bóng chan hòa của thiên nhiên, họ muốn dùng sự nhân ái của đất trời tưới đẫm, đắp bù cho thân phận tủi hờn của người tù.
Những lúc ấy, quả thật, không hiểu sao, cá nhân tôi đã từng nghĩ đến một ngôi chùa, một ngôi đền, một địa chỉ tâm linh cho người quản giáo, cho hàng nghìn phạm nhân. Nén nhang ở địa chỉ tâm linh kia, sẽ giúp những tháng năm đằng đẵng lao động và suy ngẫm của người tù hướng về cõi Sáng, cõi Thiện nhiều hơn. Dường như trong những suy nghĩ tận cùng về thân phận con người, khi lầm lỡ, khi đứng giữa mất còn quá mong manh, người ta đều cần một nơi như thế, rất an lành và sáng trong chứ có “mê tín dị đoan” gì cho cam. Ngoài đời, ai trong chúng ta cũng đã từng đi lễ đền, đi vãn cảnh chùa: có một ngôi đền và có những ngôi đền để những phạm nhân có thành tích trong học tập, lao động, cải tạo được thưởng cho vài chuyến đi vãn cảnh – tại sao không? Cảnh sắc chan hòa, thiên nhiên tử tế và cõi an nhiên độ lượng của các vị Phật, Thánh, các vị tiên hiền từ núi Lam Sơn dấy nghĩa… sẽ có sức cảm hóa màu nhiệm đối với tất cả những đứa con ướng bướng nhất của bà mẹ Cuộc Đời./.[/ALIGN]
Hết loạt bài












