Nhật ký của người thổn thức (chương I- khúc3)
Wednesday, August 29, 2007 2:41:02 PM
Nhật ký của người thổn thức
Tản mạn dài kỳ của Đỗ Doãn Hoàng
Chương I:
Hà Nội - tôi rất khó để yêu…
Khúc 3: Chất lượng cuộc sống ở Hà Nội quá thấp!
Thước đo hạnh phúc của đời người chính là chất lượng cuộc sống, chứ không thể là số lượng tài sản mà bạn “chiếm/kiếm” được, không phải độ dài hay độ ngắn thời gian bạn tồn tại trên thế gian!
Tôi cắm mặt xuống đường hằng ngày. Vợ con tôi, anh em, bè bạn và hàng xóm, đồng nghiệp của tôi cũng cắm mặt y như vậy. Cắm mặt xuống đường nhiều tiếng đồng hồ trong ngày để nhích từng xăngtimét, ngày nào cũng như vậy, thế mới lạ. Chỉ đến khi về đến căn nhà của mình thì tôi mới tin là mình còn lành lặn. Tôi vẫn rùng mình, “cả trong mơ còn thức”, khi nghĩ tới những cung đường tắc nghẽn.
Tản mạn dài kỳ của Đỗ Doãn Hoàng
Chương I:
Hà Nội - tôi rất khó để yêu…
Khúc 3: Chất lượng cuộc sống ở Hà Nội quá thấp!
Thước đo hạnh phúc của đời người chính là chất lượng cuộc sống, chứ không thể là số lượng tài sản mà bạn “chiếm/kiếm” được, không phải độ dài hay độ ngắn thời gian bạn tồn tại trên thế gian!
Tôi cắm mặt xuống đường hằng ngày. Vợ con tôi, anh em, bè bạn và hàng xóm, đồng nghiệp của tôi cũng cắm mặt y như vậy. Cắm mặt xuống đường nhiều tiếng đồng hồ trong ngày để nhích từng xăngtimét, ngày nào cũng như vậy, thế mới lạ. Chỉ đến khi về đến căn nhà của mình thì tôi mới tin là mình còn lành lặn. Tôi vẫn rùng mình, “cả trong mơ còn thức”, khi nghĩ tới những cung đường tắc nghẽn.
Và tôi buồn bã, bất lực khi mà không hiểu sao tôi vẫn gan lì đến mức: ngày nào cũng thả khoảng 15 thành viên của đại gia đình nhà mình - những công dân có hộ khẩu Hà Nội - ra với những đám tắc đường dài thườn thượt. Em gái tôi ngày nào cũng phơi nắng tắc đường trên… cầu vượt. Thủ đô hiếm có cái công trình nào tiếp cận gần với thế giới văn mình được (ít ra là với số tiền đầu tư khổng lồ) như mấy cái cầu vượt. Lúc cầu ra đời, tôi thấy nó cong như cái cầu vồng mơ ước suốt tuổi ấu thơ của mình. Cái cầu vồng bảy sắc ấy ra đời, giải quyết được sự nóng rẫy vì tắc đường bởi cái nút cổ chai Ngã Tư Vọng. Không ngờ, giờ đây giao thông trên cầu vượt nó vẫn tắc, đoàn người đi trong mơ màng khói xăng như nhang khói tiễn đưa những oan hồn. Họ đi dích dắc, nhấm nhắc, tí một trong cái nắng thiêu đốt vào cây cầu cong đến rất gần… mặt trời. Lý do là cầu rất hiện đại, nhưng những con đường dẫn đến cầu vẫn tắc tị như cũ, và người tham giao thông trên cầu vẫn thiếu văn hoá như… cũ. Lúc tắc đường trên cầu vượt, tôi ao ước một bóng cây xanh. Phóng tầm mắt ra hàng mấy cây số phố phường thủ đô, ken dày toàn xe cộ và nhà cao tầng, không bói mắt thấy một bóng cây xanh. Chúng ta, thủ đô ạ, đã quá sai lầm khi biến mình thành một đại công trường không một bóng cây xanh. Đại công trường tức là đang đau đẻ để tiếp tục “ta xây nhà cao, cao mãi”. Nhưng thật thê thảm, nếu như cái đại công trường ấy, hàng thập kỷ sau nhìn lại nó vẫn ngổn ngang là một đại công trường theo đúng nghĩa đen.
Kỳ lạ, năm này qua năm khác, cả mười mấy năm nay, con đường tôi đi, nó vẫn ngổn ngang làm đường, móc cống, đặt dây cáp, chằng đụp vá đường… Và những cửa hàng cửa hiệu, từ sửa xe máy đến bán phở, bán ô mai, họ vẫn đói khổ và thản nhiên nhìn con đường tắc để tiếp tục kiếm ăn lần hồi. Họ không nghĩ rằng, dù cố ý hay không, họ có lỗi lớn trong việc “kiên trinh bám trụ” làm nên cái nút cổ chai thối hoắc của thủ đô. Có lần tắc đường, tôi đã hỏi chuyện cô bé bán "Ô mai mơ - Học trò trường huyện". Mỗi ngày em chỉ lãi được 25.000 VNĐ tiền bán ô mai, nhưng thiệt hại từ lượng nơ-ron thần kinh buồn bã trầm uất, cùng khối lượng xăng xe máy móc bị hao mòn mà hàng nghìn hàng vạn người và phương tiện bị tắc đường phải tiêu tốn mỗi ngày (nếu “quy ra thóc”) đã gấp cả vạn cả triệu lần số tiền lẻ mà cửa hiện ở nút cổ chai nhà em thu được. Em vẫn bán. Và đường cứ tắc. Thành phố vẫn bất lực với hàng chục cái nút cổ chai như thế trong hàng chục năm qua.
Tôi tự hỏi: nếu em không khổ sở như thế thì ai sẽ cho em bé thất học giữa thủ đô kia 25.000 VNĐ mỗi ngày? Em bé, giống như kẻ vặn ốc vít đường tàu, cắt cáp quang biển để bán sắt vụn.
Bố mẹ tôi không biết con mình về Hà Nội học tiến sỹ thì Hà Nội nó nằm ở phía nào của xã Đường Lâm quê tôi. Hà Nội là một thế giới lung linh trong mắt người làng tôi. Nhưng, tôi biết, ở làng, chất lượng cuộc sống cao hơn ở Thủ đô. Đó là một sự thật mà chúng ta phải công nhận. Tivi, internet về làng, ở làng thực phẩm sạch, và không bao giờ tắc đường. Không bao giờ cả làng bị biến thành một đại công trường, với nhan nhản tai nạn và những cuộc cãi vã nhau trong cuộc chiến giành giật lấn nhau từng xăng-ti-mét bánh xe lăn.
Tôi cắm mặt xuống đường hằng ngày. Vợ con tôi, anh em, bè bạn và hàng xóm, đồng nghiệp của tôi cũng cắm mặt y như vậy. Cắm mặt xuống đường nhiều tiếng đồng hồ trong ngày để nhích từng xăng-ti-mét, ngày nào cũng như vậy, thế mới lạ. Chỉ đến khi về đến căn nhà của mình thì tôi mới tin là mình còn lành lặn. Tôi vẫn rùng mình, “cả trong mơ còn thức”, khi nghĩ tới những cung đường tắc nghẽn. Khí hậu nhiệt đới ẩm, khiến những mặt đường nhựa chảy ra, nắng như thiêu đốt. Và tắc đường, tắc cả những suy nghĩ, xúc cảm sáng tạo của bất kỳ ai đang chịu trận. Người ta túa vào các ngõ nhỏ để tránh con đường tắc. Đường ngõ thấp thểnh sống trâu, ngõ bé tới mức chỉ đi vừa một cái xe máy, nếu có xe đi ngược chiều là một trong hai con dê qua cầu phải quay lại hoặc chúng ta cùng… tắc. Cứ đứng nhìn nhau mãi như thế.
Đoàn xe đi luồn lỏi như nước chảy trong cái ống nhựa bé và lại cong queo. Thỉnh thoảng có anh quệt nhẹ xe vào nhau, họ nhảy xuống và a-lê-hấp đánh nhau. Đánh nhau ộc máu mồm. Cứ như cái đuôi xe quan trọng hơn cả cái bản mặt và nhân cách của họ vậy. Có anh, lai bố già, hai xe quệt nhau rồi ngã vì một trong hàng nghìn cái ổ gà do đào đường bỏ bẵng đó, ông bố già nằm dưới vũng bùn thành phố, cứ lấy cái mũ lưỡi chai lau miết mãi lên mặt rồi kinh hãi nhìn máu mình thấm đỏ cái mũ vò nhàu. Mặc, anh con trai thì lao vào trận cãi vã, đấm đá, bắt đền nhau vì cái xe bị xước. Họ đều rất giàu, sao họ lại quý cái xe máy hơn chục triệu đến vậy, quả thật tôi không hiểu nổi. Có lẽ họ uýnh nhau để chứng minh cái đạo đức sáng trong của họ trong khi tham gia giao thông? Tôi nghĩ họ đều rất vô văn hoá. Bởi vì, làm gì có ai muốn húc vào ai trên con đường bụi, lổn nhổn, không một bóng cây xanh như chiến trường giữa sa mạc ấy đâu. Tôi bị stress đến phát điên vì những cảnh ấy.
Song, những cảnh ấy thỉnh thoảng mới diễn ra. Cái tôi nhìn ngắm hằng ngày và suy nghĩ rất nhiều mỗi bận đối mặt với tắc đường, chính là cảnh người dân thiếu văn hoá và nhẫn nhục với tắc đường với một “sức sống” khó tả. Một cảnh quen thuộc: một quý bà sang trọng hếch kính râm lên kiêu hãnh, bước ra khỏi chiếc Mét-xe-dét cáu cạnh tiền tỷ (có lái xe riêng) rồi bình thản vén váy đứng vào rệ đường mua một nghìn cà pháo về phục vụ bữa cơm chiều. Đường tắc, ai đó văng tục chửi quý bà vô ý. Tôi cũng muốn chửi, hoặc muốn nhặt hòn sỏi ném vào xe ôtô vô lối cho bõ tức (hoặc lấy vỏ hến sắc cào cho xước sơn như trẻ con hay… nghịch dại). Nhưng, tôi mà dừng lại thì đường thêm tắc. Vả lại, tôi làm thế là phạm pháp, dù rất nhiều người tắc đường với tôi họ cũng muốn làm như thế. Thôi, tôi nhìn họ ái ngại, như muốn nói: việc xử lý chuyện này là của anh dân phòng, anh cảnh sát giao thông, anh thanh tra giao thông, hay ít ra là anh cán bộ phường cầm loa đi thu bàn ghế, những sọ dừa bán ven “lộ giới giao thông” của “tiểu thương” đói ăn, chứ đâu phải của chúng ta. Song lại tự nghĩ, “cánh” kia họ không đến thì biết làm sao. Đành chờ quý bà mua dưa chua cà pháo xong, xe lại ì ì đi.
Có lẽ các vị giàu có và quyền chức các vị đều không say xe như người nhà quê chúng tôi, họ ngồi xe máy lạnh đọc báo chờ đường hết tắc. Thế là, với các vị giàu sang quyền chức, các vị dĩ nhiên là sẽ thấy mỗi ngày “ngửi” một tiếng tắc đường là bình thường. Chứ tôi biết, nếu tôi có ghét Hà Nội thêm, có phát điên vì chất lượng cuộc sống quá tồi tệ ở thủ đô đại công trường ngổn ngâng, thì, chắc hẳn, trước hết, và thường trực nhất, là vì lý do: tắc đường!
Lại tắc. Tôi không hiểu tại sao bà con mình sống ven các nút cổ chai họ có thể nghị lực đến mức, gần hai chục tiếng đồng hồ mỗi ngày chứng kiến và hít khói bụi của những đám tắc đường mà họ vẫn sống được! Có cảm giác như họ không hề bị ức chế. Tôi mà có ngôi nhà nơi đó (hoặc tương tự tôi mà được phân nhà trong phố cổ Hà Nội xập xệ mà Hà Nội đang muốn đề nghị UNESCO công nhận di sản văn hoá thế giới kia), nếu bắt tôi phải ở (chứ không được bán) thì tôi sẽ bỏ Hà Nội mà lên núi đi tu. Tối thiểu, thương đời lắm thì tôi về quê, “hưu non” vui thú điền viên cho đỡ phí đời.
Con đường Khương Đình của tôi, tắc thì tắc, hàng phở vẫn cứ mở ầm ầm. Xe để rệ đường, thò đít xe ra đám tắc đường, bà con ăn phở hà hít sung sướng lắm. Tôi không biết văn hoá để đâu mà họ vứt cái xe máy của họ thò đít ra đường, góp phần làm cái nút cổ chai đã bé lại càng thắt hơn thế kia mà họ vẫn thấy không cắn rứt lương tâm. Không hiểu tại sao, ăn xì soạp giữa khói bụi mù mịt, đất bay như rắc hạt tiêu vào phở thế kia, nhìn những gương mặt ảo não vì “tráng miệng bữa sáng” với tắc đường thế kia mà họ vẫn ăn phở ngon lành được. Sao bất nhẫn thế? Sao đày đoạ mình thế? Có chàng trai quá uất ức nhìn cái đít xe thò ra đường đã đẩy đổ cái xe máy rồi vọt đi, nhưng tôi lịch lãm hơn tí, tội gì làm thế. Chả phải đầu phải tai, đời cua cua máy - đời cáy cáy đào. Dù tôi thấy nỗi tức giận của chàng trai đẩy đổ xe máy của người khác, có cái gì đó thật tử tế.
Và, mặc kệ cãi vã, mùi nước dùng thả ít thuốc bắc hoa hồi của dãy quán phở vẫn bay vô sự ra hoà lẫn vào làn khói xăng mù mịt như nhang khói trong đám tang ma của đám tắc đường. Bên cạnh là hiệu bánh ngọt, bánh xinh nhật điệu đà, là hiệu vàng bạc lộng lẫy ngọc ngà châu báu trong các tủ kính. Tôi chưa bao giờ dám mua một thứ gì trong cái chợ kỳ lạ họp ven đám tắc đường thâm niên, liên hồi kỳ trận như thế. Bạn muốn dừng lại, lập tức có nhân viên của hiệu kim hoàn lao ra, dắt xe của bạn hun hút vào trong những dãy tủ kính lộng lẫy kim ngân. Điều kỳ lạ nữa là họ vẫn xập xình mở những quán gội đầu thư giãn, với em út xinh tươi sờ soạng vuốt ve thịt da dục tính của bạn một cách kỹ càng ngay ven con đường tắc như nêm cối không tài nào nhúc nhích được đủ ba kỳ sáng, trưa, chiều ấy. Riêng món này, nếu trác táng, tôi cũng sẽ vào, vì họ có kính màu, có máy lạnh ro ro. Sở dĩ tôi biết phi vụ đĩ điếm này, là vì, trong một lần đi ôtô cơ quan trong đám tắc đường ấy, trong máy lạnh phả thơm nức, tranh thủ đọc báo, tôi thấy báo chí viết và chụp ảnh các cái quán “thư giãn” ven nút cổ chai rõ đến độ nần nẫn thịt da... Và có con ngõ được trưng dụng làm bãi đỗ xe của “chốn ấy chốn hào hoa”.
Thú vị nữa là ven đường tắc như nêm kia vẫn bày bán la liệt ô mai, cửa hiệu có cái tên rất mơ màng: "Ô mai mơ - Học trò trường huyện", "Ô mai mơ",“Ô mai mực tím” “Ô mai - Hoa phượng đỏ”. Con phố ở chỗ tắc nhất thật sự là phố chuyên biệt cho việc bán ô mai. Các em bán hàng qua tuổi ômai rồi nhưng vẫn tỏ ra nai tơ hai bím tóc đi sang đường giữa lúc tắc. Em mắt xanh mỏ đỏ đi chen lấn giữa hàng trăm cái xe máy nhích từng xăng-ti-mét, dáng em đi tắc bụp vì chịn phải bánh xe nhung nhúc, cứ như con bướm ướt rách cánh loạch quạy bò trên đồng cỏ cháy khắc nghiệt quê tôi. Hình ảnh thật buồn. Mặc các bác xe ôm vẫn ngồi vắt vẻo trên xe, chiếm hết cái vỉa hè bé như cái lưỡi mèo mà đợi khách. Các bác đeo khẩu trang, nhìn vô sự qua dòng người tức tối vì tắc nghẽn.
Có cô em mắt xăm xanh rì như rắn lục, thịt nây thịt dọi của cơ thể hở hang quá mà nỡ lòng nào bày ra đủ đầu lâu xương sọ, chan chứa thịt da của lợn, của bò đem bán. Tôi chưa bao giờ, trong cơn tắc tị đường xá những lúc Hà Nội nóng nực đệ nhất của tháng sáu này, trông thấy một vị khách mua thịt da tim óc lợn – bò của cô em ấy. Vậy mà cô vẫn ngồi đó, mắt vô hồn nhìn ra mênh mông các loại xe cộ ì ì dừng lại, người đi đường đồng loạt thọc chân xuống lòng đường rê rích từng tí một. Có vẻ như em bán thịt rất tự hào về cái việc em quan trọng ngồi đó, ai đi qua cũng phải nhìn em và chán chứa thịt da của em bày bán ven đường. Không tắc thì ai nỡ nhìn em. Và, có lẽ, không tắc thì em sẽ bán được chút đỉnh cho “chạy hàng” lấy tiền xăm mắt xăm môi chứ nhỉ.
Hình ảnh Hà Nội cứ ám ảnh tôi qua những lúc tắc đường, cứ bi hài như thế. Dĩ nhiên, nếu đường không tắc, tôi sẽ không có thời gian để ngẫm về một Hà Nội mà mười mấy năm qua tôi tìm cách yêu mà không yêu được. Tôi sẽ bị ma mị bởi lời “truyền giáo” theo lối nhồi sọ của ai đó, rằng Hà Nội là thành phố có nhiều cây xanh nhất thế giới (!?). Nếu một lần ra nước, ngoài, bạn sẽ thấy điều đó là điêu trá. Mỗi ngày nắng cháy khét thịt da, dù hạn chế ra đường để khỏi mang mặc cảm mình góp phần làm Hà Nội tắc tị hơn, tôi vẫn phải đi khoảng hai mươi cây số dọc ngang thành phố. Và, tôi nghiệm ra, mình không có một giây phút nào được vói mặt vào một bóng cây xanh trên phố. Có thể tôi đen đủi chưa đi đúng cái chỗ mà Hà Nội nhiều cây xanh nhất thế giới kia. Nhưng quả thật, Hà Nội quá ít bóng cây xanh. Càng ngày càng mất hết bóng cây xanh.
Nhân nhắc đến nước Tây, lại nhớ lời một vị khách ngoại quốc nói rất đau đớn trên tivi: rằng ở Hà Nội rất lạ, có người bị ngã ngồi đau đớn, lo lắng giữa lòng đường thì không ai nhấc lên đưa vào rệ đường cả. May mắn thay, dẫu như thế, nhưng người Hà Nội rất tài, là đi ầm ầm qua một cách vô cảm, song cũng chẳng ai chẹt chết người ngồi giữa lòng đường cả. Trong khi, ở nước ngoài, người ta nhìn thấy nạn nhân như thế, một là kịp nhắc lên “cấp cứu” càng nhanh càng tốt; hai là xe cộ đi tốc độ cao, đúng phần đường của họ, biển xe cộ rầm rầm sẽ chẹt chết người ấy ngay lập tức! Sau rồi, không thể sống được nếu không ra đường, tôi vẫn phải tham gia giao thông ở Hà Nội. Mỗi tối, về căn nhà của mình, tôi vẫn thảng thốt nhận ra một diễm phúc: mình vẫn lành lặn sau những cung đường khủng khiếp không bóng cây xanh của Hà Nội. Và, càng ngày càng thấy nhận xét trên của cô bạn Tây là chí lý. Chỉ có điều, tôi thanh minh cho bản thân tôi thôi, với tư cách là một công dân thủ đô, tôi vẫn thường có thói quen ra cõng bế người bị tai nạn ven đường phố vào… vệ đường. Chỉ có điều, lần nào tôi làm việc đó cũng bị… nguyền rủa. Có lần người ven đường chửi bới tôi, có lần chính người được tôi bế vào bắt đầu định giá xem tôi phải đền bao nhiêu tiền cho cái tay bị gãy của họ. Bởi vì, mọi người đều có rãnh mòn trong suy nghĩ rằng: trong dòng người chảy như lá tre trôi trong nước lũ của phố phường, chỉ những ai là kẻ gây tai nạn, thì người đó mới cầm lòng khắc phục hậu quả. Bế cõng nạn nhân, đích thị là kẻ gây ra tai nạn. Trời ạ, sau hai lần bị đánh trượt vì tử tế, tôi đã chấp nhận làm một công dân vô cảm như nhiều công dân phố thị của Hà Nội ngàn năm. Tức là “đám ăn tìm đến/ đám đòn tìm đi”. Bớt tử tế đi, nhưng tôi vẫn ao ước, bao giờ cho đến cái ngày người ta ai cũng sẵn sàng “giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha” như trong truyện Lục Vân Tiên nhỉ?
Trong lúc tuyệt vọng vì một Hà Nội mười mấy năm vẫn là một đại công trường ngổn ngang khiến chất lượng cuộc sống cuả cư dân Hà Nội quá tồi tàn như hiện nay, tôi cứ nghĩ: người cầm cân nảy mực cho một Hà Nội văn minh, họ đã sai lầm trong định hướng quy hoạch. Nút cổ chai có thể được “tháo”. Sự bát nháo trong xây dựng cơ bản, và giao thông đô thị có thể được chấn chỉnh. Các vị hãy xem như ngày nào các vị cũng đang điều hành giao thông cho một đại lễ đi. Ngày nào cũng đón khách quý đi. Thì phố xá sẽ trật tự và phong quang như những ngày đại lễ mà chúng tôi đã đôi lần được thưởng thức. Tôi đặt bài toán cho các vị biết: Mỗi ngày hàng nghìn bà mẹ mang thai, hàng vạn đứa trẻ đến trường, hàng nghìn giáo sư - tiến sỹ, và rất nhiều khách nước ngoài… đang phải đánh vật với những cung đường ngổn ngang và rình rập hiểm hoạ của thủ đô. Chúng ta hãy cho thế hệ trẻ, các bậc “đức cao vọng trọng” và các vị khách quý một cái nhìn đẹp, một cảm giác bình an với thủ đô đi. Ngày nào cũng như vậy đi. Điều đó nhân văn hơn, và cấp thiết rất nhiều việc khác, bởi điều đó sẽ nuôi dưỡng được tâm huyết, niềm tin của người thủ đô và cả nước với thủ đô Hà Nội.
Tôi cứ nghĩ, cá nhân tôi, nếu phải nai lưng ra lao động công ích, hay góp tiền vào để cái cổ chai bé tẹo dài độ 700m ở khu dân cư nhà mình ( và rất nhiều cổ chai khác) được “tháo” thì tôi rất sẵn lòng. Tôi thật sự đau đớn, khi mà nhiều hôm, đứa trẻ hàng xóm nhà tôi cứ phải ngồi xe máy của bà mẹ nó (mẹ nó bịt mặt như lin-da) bò hai tiếng đồng hồ mới qua được mấy trăm mét đường nút cổ chai. Lớn lên, các con tôi , hàng vạn các cháu bé bỏng của thủ đô chúng ta, các cháu sẽ nghĩ gì về Hà Nội, cái thành phố đã hành hạ nó từ thuở ấu thơ…?
Đón đọc Khúc bốn:
Đại công trường… vĩnh viễn?













Unregistered user # Wednesday, August 29, 2007 3:20:20 PM