My Opera is closing 3rd of March

Những tấn kịch bi hài... trong thế giới người “điên”! (Phần VII)

http://www.vietimes.com.vn/vn/tienggoisophan/3974/index.viet


Người ta có thể “điên” đến mức nào? - “Điên hết cỡ!”
Lãng Quân - Trọng Tuyến

Như độc giả đã biết trong bài trước, ngay cả PGS.TS Trần Văn Cường, người phụ trách cao nhất của Chương trình mục tiêu quốc gia chăm sóc sức khoẻ tâm thần tại cộng đồng của nước nhà cũng công nhận quá nhiều bất cập của vấn đề quản lý, chăm sóc, trị bệnh cho đối tượng người “điên” ở Việt Nam hiện nay. Số tiền hơn 10 tỷ VNĐ/năm, ỏn sót tới mức nó chỉ bằng khoảng 1/50 đến 1/70 số kinh phí mà công tác này đòi hỏi (ở mức độ tối thiểu). Những người thực hiện loạt bài này đồng ý với sự thẳng thắn của PGS Cường, khi ông nói: trong bối cảnh thê thảm đó, người tâm thần lang thang là… dĩ nhiên; và trách nhiệm trước hậu quả này cần quy về cả xã hội.
Nếu “suy tư” thêm một tí, thì chúng ta sẽ thấy, những người may mắn chưa bị chứng bệnh tâm thần đang hơi bất nhẫn với đồng bào của mình.

Người “điên” tràn ngập khắp nơi vì bị “bỏ rơi”
"Sau quá trình dài bị lạm dụng tình dục vì điên loạn lang thang, người phụ nữ này gặp chúng tôi, không khóc, không cười, chỉ âm thầm trở lại Bệnh viện Tâm thần. Nếu được chăm sóc, chữa bệnh từ đầu, hậu quả của bệnh tâm thần sẽ không tàn phá người phụ nữ này đến như vậy..." - Ảnh: Lãng Quân
Đó là sự thật không ai muốn nó xảy đến; nhưng ta phải ghi nhận! Một năm, cái Chương trình Quốc gia kia chỉ được “giót” hơn 10 tỷ VNĐ, hơn 10 tỷ/năm để chăm sóc bệnh nhân trên cả nước; cả nước hơn 80 triệu dân, có khoảng 15% dân số có vấn đề về sức khoẻ tâm thần.
Trời ạ, nó bằng tiền xây hai cái trường học hai ba tầng ở một xã;; nó không bằng trị giá cái cục bê tông ở một cái trụ cầu nào đó vừa bị sập vì làm đểu. Vì thiếu số tiền quá nhỏ ấy (so dự án cấp quốc gia, liên quan đến tính mạng nhiều người), nên chúng ta nhẫn tâm để hàng nghìn hàng vạn bà con phải sa sút tinh thần, phải tàn phế lang thang, ăn cóc ăn nhái rệ đường do không được chăm sóc và quản lý ngay từ khi phát bệnh? Tôi nghĩ, bài toán này, những người tỉnh táo cần suy nghĩ nghiêm túc. Rõ ràng, “làm” kiểu lấy lệ như đã phân tích ở trên (và qua bài PV PGS Trần Văn Cường) cũng có nghĩa là chúng ta đã vô tình hay hữu ý bỏ quên quá nhiều đồng bào không xứng đáng bị đối xử tội nghiệp như hiện nay.
Nghĩ cho cùng: chăm sóc người “điên” ngoài việc giúp bệnh nhân thoát khỏi thế giới ảo “bất thành nhân” của họ. Nó còn là việc chúng ta chăm sóc cho lương tâm người tỉnh táo chúng ta thanh thản, an lành; để lòng nhân ái của xã hội được hiện diện nhiều hơn. Để người điên không tiếp tục làm xấu mỹ quan, huyên náo, phá phách, giết chóc cái xã hội của cộng đồng những người “chưa điên”.
"Bức ảnh tưởng như vô cảm này, thật ra chứa đầy nước mắt và sự chua xót. Đây là bảng phân công trực nhật ở Bệnh viện Tâm thần Trung ương. Gần ba thập kỷ qua (và có lẽ còn kéo dài đến khi họ chết), có hai bệnh nhân tâm thần không nhớ mình là ai, không ai đến "thu nhận" cho nên họ cứ phải ở mãi với bệnh viện. Các bác sĩ đành đặt tên họ là "Béo Đen" và "Béo Trắng" (xem chữ trên ảnh). Chữ ấy đi vào bệnh án, vào tất cả các văn bản giấy tờ liên quan đến họ. Nước ta, có hàng nghìn người "cùng hội cùng thuyền" với Béo Đen và Béo Trắng"- Ảnh Lãng Quân
... Đây là chân dung Béo Đen và Béo Trắng. Chúng tôi đưa lên với hy vọng người nhà có thể tìm được họ chăng? Ông Cương, Phó GĐ BV nói một nhận xét bi hài mà rất… thời sự: Hơn hai mươi năm trước, chúng tôi đặt tên hai anh “Béo”, là bởi vì độ ấy chúng ta còn bao cấp, thiếu ăn, ít người béo. Thế được gọi là Béo rồi. Bây giờ người ta thi nhau béo ị và bị gút, có lẽ, nếu thả ra ngoài Đời, hai anh Béo của chúng tôi đã lỗi thời. Phải đổi là… Gầy Đen và Gầy Trắng - Ảnh: Lãng Quân
Chính vì sự bất cập trong chăm sóc, quản lý, chữa bệnh cho hàng triệu người bệnh tâm thần ấy, nên nhiều khi, chúng ta luôn có cảm giác người “điên”, “rồ” hiện diện ở mọi nơi, mọi lúc trong xã hội này. Ngay ở Thủ đô Hà Nội, vài trăm bệnh nhân ở Bệnh viện tâm thần ban ngày Mai Hương, gần 400 bệnh nhân điều trị ở Bệnh viện tâm thần Hà Nội (nơi mà dân gian vẫn gọi là… “Trâu Quỳ”); và ở Trung tâm do Sở Lao động Thương binh xã hội Hà Nội quản lý cũng khoảng 400 người nữa. Vậy là riêng “anh” Hà Nội, đã “nhốt” tới hơn 1.000 bệnh nhân tâm thần nặng, sa sút trí tuệ và sức khoẻ; rất nhiều người trong số đó là không thể chữa khỏi.
Như trung tâm “nuôi dưỡng” người bệnh tâm thần của Sở LĐTBXH Hà Nội, với lưu lượng 400 bệnh nhân, hơn 20 năm qua, bệnh nhân vào “nhập trại” đều nặng tới mức, sau khi nhận vào bệnh nhân hầu như không hẹn ngày… ra. “Đầu ra” của bệnh nhân, đến 99% là… nghĩa địa. Tức là họ “an dưỡng, gào thét ở đó cho đến hết đời. Những ngày có sự kiện chính trị trọng đại, lực lượng công an và y tế, có khi thu gom tới hơn 10 bệnh nhân tâm thần lang thang ở Thủ đô mang đi “cưỡng chế” chữa bệnh, “nuôi nhốt”.
Theo thống kê, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2006, Công an TP phối hợp cùng công an các quận, huyện, xã, phường, tổ kiểm tra liên ngành đã “bắt” 595 người tâm thần lang thang (chuyển Bệnh viện Tâm thần). Riêng số lượng “nhốt” thường xuyên (bệnh rất nặng) ở Hà Nội đã ít nhất 1.000 bệnh nhân, cứ theo phép tính này, thử hỏi, cả đủ 64 tỉnh thành của chúng ta: số bệnh nhân tâm thần bỏ nhà lang thang đầu đường xó chợ sẽ là bao nhiêu vạn? Không ai thống kê được. Nhưng con số là rất lớn, ngày càng lớn. Khoảng hơn 30 tỉnh, thành ở nước ta không hề có bệnh viện, trung tâm xã hội kiểu như ở Hà Nội để gom một lúc 1.000 bệnh nhân vào chữa bệnh và nhốt giữ, thì rõ ràng, tất tật đồng bào bị bệnh điên rồ của chúng ta sẽ tràn ra đường, sẽ phá phách ở từng hang cùng ngõ hẻm. Bài toán ấy, đứa trẻ lên ba cũng biết, nhưng hình như nhiều người đã không biết hoặc cố tình không biết? Xin độc giả hãy theo chân chúng tôi làm trắc nghiệm gặp… người điên.
Theo thông báo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) hồi năm 2001 thì ngày nay cứ 4 người thì có một người bị tác động bởi các rối loạn tâm thần hoặc thần kinh. Theo BS. Gro Harlesn - Giám đốc (WHO) thì ngày nay không có một gia đình nào, không một người nào mà lúc này hay lúc khác không có vấn đề về sức khỏe tâm thần. Trên thế giới (năm 2001) có tới 450 triệu bệnh nhân tâm thần (trong đó có 54 triệu người bị tâm thần phân liệt, 50 triệu bị động kinh, 121 triệu bị trầm cảm, 10-20 triệu người định tự sát và một triệu người tự sát mỗi năm). Nhưng tiếc thay 2/3 trong số đó không tiếp cận được các dịch vụ y tế gây ra 1/3 số người bị tàn phế.
Thế giới điên dại “muôn hồng ngàn tía”
Bức ảnh chụp ở khu vực Sơn Tây, tỉnh Hà Tây. Không biết, hàng nghìn, hàng vạn người đi qua đây, và toàn bộ cư dân ở vùng Sơn Tây văn hiến, liệu có ai đủ xót thương và nhân ái để tìm cách đưa bệnh nhân tâm thần này đi đến một cõi... sáng hơn?! Ví dụ như gọi điện cho người thu gom, chữa trị, quản lý người bệnh tâm thần... (tuy nhiên, có gọi điện báo, chắc gì đã có ai... hưởng ứng). Thôi thì đành lòng vậy, cầm lòng vậy- Ảnh Lãng Quân.
Quê tôi trung du Bắc bộ, cũng là cách thành phố của tỉnh “cửa ngõ thủ đô” Hà Tây chưa đầy 3km, cũng là khoa bảng dòng dõi, giàu có hẳn hoi. Số lượng người đã và sẽ tốt nghiệp đại học ở vào hàng… nức tiếng trong nước nhà. Tóm lại là rất văn minh.
Thế mà không thấy ai chăm sóc người bệnh tâm thần bao giờ. Tôi vô cùng ngượng ngùng vì khi gặp người điên hành xác ở quê mình, lúc đó, tôi có cảm giác như trách nhiệm xã hội và lòng nhân ái của những cán bộ y tế, công an khu vực, cán bộ lao động TBXH (những người được giao phó giải quyết công việc này) ở địa phương đã không còn nữa. Ít ra thì họ đã vô cảm với đồng loại. Lần nào về, tôi cũng gặp cái anh ở truồng, cái chị trật vú ra đi thỗn thện dọc đường.
Cái anh ở truồng (xem ảnh) lại còn thường xuyên ngồi bãi rác thối inh trên phố (mà đường phố rải nhựa lại biến thành bãi rác được, thật là vô lối hết cỡ!); rồi anh ấy nhặt lá bánh, nhặt cọng rau cọng rác đang phân huỷ, bỏ vào miệng ăn ngon lành. Anh trần truồng, “sinh thực khí” ngất ngư, nồng nỗng. Đàn bò ăn bẩn cũng xán đến, chúng dũi dũi mõm vào anh điên tranh thức ăn thừa của chúng. Lũ chó nhà thả rông cắp rác rưởi cũng thè lưỡi đỏ rất thân thiện với anh, lạ thật. Bạn hãy xem ảnh do tôi chụp, với chú thích cẩn thận, kẻo lại bảo tôi bịa chuyện đau xót để bán khóc mua cười, bêu xấu “chùm khế ngọt” quê hương.
Với cái anh giời đày ấy, năm qua tháng lại không có ai đoái thương, ừ thì bảo anh ấy là người vãng lai mới tới. Ngay trong thành phố, có người đàn bà rồ, rồ từ ngày tôi còn nhỏ xíu, đã gần ba chục năm tôi trông thấy bà ấy rồ rồi. Trong căn nhà nhỏ của bà tràn ngập các đồ nhặt từ lề đường góc phố.
Bà ăn mặc xúng xính váy áo của một tộc người bí ẩn nào đó cứ xanh xanh đỏ đỏ rợp trời. Bà đi như một con bướm lộng lẫy, phấp phới. Ai nhìn thấy cũng bảo đó là váy áo người vùng cao, nhưng chắc chắn các nhà dân tộc học lẫy lừng của chúng ta cũng vái lạy vì chả biết nó là của dân tộc nào. Nó là của tộc người… rồ dại điên khùng. Bà thêu thùa, may vá, chằng đụp, lúc nào cũng như bắt đầu một lễ hội kỳ quái. Phòng của bà là một bãi rác bẩn thỉu nhưng được chăm sóc, bổ xung rác rưởi hàng ngày, trang trí hằng ngày. Lúc bà xuống phố, dẫu mấy chục năm ròng bà đều xuống phố dạo chơi như thế rồi, nhưng dân tình vẫn cử mục ngó xem cuộc “trình diễn thời trang” đầy hứa hẹn. Phúc tổ, bà không có thói quen “nude” như những người điên xé quần xé áo khác.
Nhưng, bà đi, bà chửi, bà nói oang oang với… trời xanh. Trước, thành cổ Sơn Tây, ngôi thành cao hào sâu, theo kiến trúc Pháp, đẹp và nguyên vẹn nhất Việt Nam chưa được tôn tạo, khi nó còn tràn ngập cây xanh. Bầu trời thành cổ lúc nào cũng tối om vì hoa sữa và sung, si, đa, đề đồng loạt trùm phủ bóng cổ thụ của mình xuống. Bà vào trong thành, căng ni lông, sống luôn trong cái miếu thờ “sơn thần thổ địa” của toà thành. Bà như một bóng ma xanh đỏ, ẩn hiện trong sự theo dõi “thú vị” của người thị xã. Thỉnh thoảng, bước ra từ lẫm liệt bức phế thành, bà như sơn nữ xuống phố, xúng xính ca hát điên dại. Mười mấy năm tôi sống ở Sơn Tây, nụ cười của bà vẫn tươi trẻ, hồn nhiên nhi nhiên như cây xanh thành cổ như vậy. Người điên không có tuổi.
Trong một lần bị báo chí chỉ trích “tội” bỏ di tích thành cổ cho con nghiện và ca-ve thống trị, ông trưởng phòng văn hoá thị xã đã được thượng cấp yêu cầu đi thị sát tình hình, cùng đi có ba quân tướng sỹ đủ ban ngành. Khi vi hành đến miếu thổ địa, bà rồ rợp trời váy áo, hò hét, múa may, ai nấy thất kinh tưởng gặp yêu quái giữa rừng xanh. Riêng ông trưởng phòng văn hoá nhận ra “bà điên” ngoại ngũ tuần quê mình, ông ngăn đoàn cán bộ lại, khi ta chưa tôn tạo di tích, cứ để cho bà ta tá túc ở đó, vô hại mà.
Không ngờ, câu nói “tràn ngập tình thương” này đã lọt vào đôi tai tỉnh của bà điên. Từ đó, trong nhiều năm ròng, cứ sáng sớm đi làm, trước cửa phòng làm việc của đồng chí trưởng phòng văn hoá đều ngự một bó hoa rực rỡ. Hoa cỏ, hoa violet tím, hoặc thậm chí hoa huệ ngào ngạt hương. Dân thị xã, ai cũng nhớ câu chuyện bó hoa của bà rồ.
Nhiều người quả quyết bà chưa chắc đã rồ, mà nếu có rồ thì cũng là rồ tình. Người ác khẩu bảo, tặng hoa ngần ấy năm, cho một cái anh khô như ngói làm trưởng phòng văn hoá, hoạ có người rồ mới dại tình đến thế. Có người nghi họ “có gì đó” với nhau từ trước. Riêng tôi (người viết bài này) thì chỉ nghĩ: cái chức trưởng phòng văn hoá “ôm rơm nặng bụng” của anh kia, vì chả ai tranh ghế, nên mười mấy năm vẫn tại vị,, nên bà rồ mới thủy chung tặng hoa được như thế. Bà thử chọn anh ngồi cái “ghế” béo bở khác mà tặng hoa xem, có khi bà không đủ tỉnh táo để chạy hết toà nhà nọ đến toà nhà kia mà để hoa ở… trước cửa.
Người cựu binh chỉ ăn trộm dao và vị “tiều phu trên quốc lộ”
"Vị "hiệp sĩ" tâm thần này cất bước lang thang đã nhiều năm, sự sa sút tinh thần và tàn phế thân thể của anh ta, cơ bản là do sự vô tình, thiếu nhân ái, vô trách nhiệm của người không... tâm thần." - Ảnh: Lãng Quân - chụp tại thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
Lại nói chuyện ở làng tôi, có anh rồ rất… tỉnh. Anh thường đi lang thang, kể chuyện chiến tranh và hát vọng cổ, hát nhạc Chế Linh “tâm lý chiến” của cái thời trận mạc. Nghe nẫu ruột vô cùng. Tôi biết anh từ mấy thập niên rồi, nên việc anh đi làm chiến binh tình nguyện ở Campuchia, rồi đánh nhau ở Sa Mát - Thiện Ngôn trong miền tây Nam Bộ nước ta của anh, tôi biết cả.
Chỉ có điều, hình như trí tuệ của anh dừng lại vĩnh viễn ở cái thời chiến tranh biên giới cách đây gần ba chục năm nọ. Hoặc, nếu có phát triển tiếp, là nó phát triển theo hướng hoang tưởng. Anh vẫn hằng chắp tay vái tôi, bởi theo kiểm nghiệm của anh, thì tôi là người duy nhất mà anh gặp (kể từ ngày anh gác súng đạn về lại quê hương), là từng “oai dũng” được đặt chân đến những địa danh luôn nở hoa trong lòng anh khi nhớ đến: đó là Củ Chi, Sa Mát, Thiện Ngôn, cánh đồng Chó Ngáp…
Câu chuyện anh làm tự vệ ở Sài Gòn, đi xe máy phân khối lớn, hai tay hai súng diệt ác trừ gian tôi không biết thực hư thế nào, nhưng trung bình mỗi ngày, anh kể lại chuyện yêng hùng này độ 10 lần. Anh tự giao cho mình nhiệm vụ là phải hát ca vọng cổ não nùng cho cả làng nghe. Có người bảo: mấy “em Củ Chi” của mày già mõ, có khi chết xanh cỏ từ đời nảo đời nào rồi, nó chả nhớ mày là ai, gì mà mày tha thiết thế. Anh nổi cáu, sùi bọt mép chửi lại. Anh cứ hát. Anh nói chuyện bóng bẩy, ngôn từ vô cùng linh hoạt.
Mỗi lúc nhà tôi có khách, anh “mở máy” đúng ngần ấy ký ức nuột nà, khách cứ lác mắt, ai cũng xin địa chỉ, cũng thân tình gửi carvidit, bố tôi cứ nhắc khéo: “Thằng cháu họ nhà em nó ở chiến trường về…”; khách vẫn bám lấy anh chàng vui tính, quý người; bố tôi lại nhắc khéo: “Cháu nó bị thương ở đầu…”. Vẫn chả ai biết. Nhưng anh cựu binh tươi trẻ vĩnh viễn thì biết ý, anh thở dài: “Ông trẻ lại bảo cháu bị điên chứ gì, còn lâu nhé. Ông trẻ là thằng đểu!”.
Công việc anh tự giao cho mình, cần phải giúp quốc dân đồng bào, là “dẹp loạn ở chợ”. Vì để xe lộn xộn, vì anh ghét mấy tay lấy danh nghĩa cựu chiến binh què cụt đòi chia chác miếng mồi giữ xe đạp xe máy ở chợ làng. Anh làm như một chiến binh tình nguyện, quy củ, không lấy tiền của ai. Rồi anh tự giao cho mình nhiệm vụ đi trồng chuối ở khắp cái đê sông Hồng dài hàng chục cây số chạy qua quê tôi. Anh bảo, đê là Vạn lý trường thành của Việt Nam, tổ tông ta đắp từ thời Lý, đắp mãi đến cả nghìn năm qua.
Anh đi xin chuối trong làng, bụi chuối nhà ai “đẻ” ra cây con là anh có mặt. Không cho thì đêm hôm anh rình rập ăn trộm bằng được. Anh cõng từng bó chuối non, chuối già ra trồng ngoài đê, như vác những thây người, có khi anh vác lừng lững trong đêm, ai gặp cũng chết khiếp. Anh tốt tính, nhưng phải cái hay ăn trộm… dao và cuốc, thuổng, xẻng. Anh chỉ ăn trộm cái những thứ đó. Thấy anh xuất hiện là mẹ tôi đi cất hết dao lớn dao bé. Lúc hứng lên anh cũng ăn trộm kìm và cờ-lê, mỏ-lết. Quay ra quay vào là mất dao như chơi.
Nhưng, tiền nong, điện thoại, điều khiển tivi (những cái bọn ăn cắp vặt hay lấy) thì cứ bỏ trên bàn không mất. Anh dùng cờ-lê sửa xe cho người đi chợ, khi “giữa đường thấy chuyện bất bằng chẳng tha” (anh rất mê Lục Vân Tiên, do thời gian chiến đấu ở Củ Chi đã ngấm). Anh dùng dao để tỉa lá chuối. Cuốc thuổng để đào hố trồng chuối. Chục năm qua, anh cứ trồng, nhưng đê quê tôi không có cây chuối nào “toạ lạc” nổi. Vì nó chết, do không tưới nước sau khi trồng. Vì trâu bò, và vì bà con chặt về thái cho lợn ăn. Anh vẫn trồng. Và tôi để ý, anh hướng mắt về phía hạ lưu con sông Mẹ, cứ trồng chuối với niềm tin của người trồng cả rừng chuối cho quê hương mà không bao giờ ngoảnh lưng lại xem người ta đang tủm tỉm, ranh mãnh chặt chuối mới trồng của anh khênh về thái cho lợn ăn. Như khênh những cái thây người.
Trong làng, bạn thân của vị cựu binh hát vọng cổ và trồng chuối, có bác Vân, bác nguyên là giảng viên của một trường Đại học. Khoảng năm 1984, tôi nhớ, “điên” nhẹ, bố tôi vẫn mua rượu về mời bác uống rồi phụ đạo cho mấy anh em tôi học môn toán. Bác tuyên bố với cả xóm, cứ đặt máy tính trước mặt, cộng trừ ba chữ số, bác nhẩm nhanh hơn máy.
Anh tôi phục nhất là cảnh bác làm toán “phân số”. Lúc nặng bệnh, không làm toán được nữa (khoa học gọi là “sa sút”, mạn tính do bệnh tâm thần), bác kiếm cái xe đạp tồng tộc đi lang thang tứ xứ. Bác gầy tọp, răng rụng hết, xe đạp của bác để “cõng” ba lô hành lý, dao, gậy nhiều hơn là để bác cưỡi. Bác thường dắt xe khi về làng. Trong nhiều năm, bác cứ vắng khỏi làng hàng năm trời. Lúc về, vẫn già, vẫn gầy y nguyên như cũ.
Gần đây, bác mệt mỏi, về dựng một cái lều ven quốc lộ, và ở trên đó như… con chim nằm trong tổ. Lều của bác toàn làm bằng những cành nhánh của cây xà cừ, bởi quốc lộ 32 chạy qua quê tôi nhà nước trồng toàn xà cừ. Bác có niềm say mê sưu tầm dao sắc giống người cựu binh hát vọng cổ và trồng chuối kia. Nên hai người thường “trao đổi cổ vật” với nhau. Dao của bác để chặt hạ cây ven quốc lộ. Gom cây dựng lều, dựng lều hai tầng, không mộng mẹo gỗ lạt gì, cứ cành cây buộc lại, thế mà thành được hai tầng lều. Tôi không dám trèo lên, cứ gọi ở dưới là bác thò đầu ra từ một tán lá nào đó, rồi hồ hởi tụt xuống. Như con chim sẻ làm tổ trên cây cau.
Bác sống bằng nghề tiều phu, chuyên đốn hạ cành nhánh của chục cây số đường quốc lộ rợp bóng xà cừ rồi bán. Các bà nạ dòng ham của rẻ (bao giờ chả thế!), thường được bác rao bán các tán cây xà cừ cổ thụ. Bác chỉ lên tán cây vòi vọi, ngợp một vùng trời, hỏi: “Một trăm nghìn?”. Người mua “ừ”, bác Vân lên lên, dao sắc, bác nhỏ thó còng còng như con cóc, chặt nhoắng một cái, cây xà cừ cổ thụ như cái cây cảnh (bon-sai) vừa được tỉa gọn.
Bác tự tay kéo các tán cành trùm xoà ấy nhụt xuống ruộng. Không ai được làm thay bác việc này, vì người không điên mà chặt cây thế, sẽ bị bắt ngay. Nhưng vài ngày sau, khi cành xà cừ đã ngấu, đã rụng lá vì ngâm nước, bà con thoải mái đánh xe cải tiến ra lấy về, coi như nhặt cành rơi lá rụng. Cùng thế hệ với bác Vân, làng tôi còn có cô Nhở. Cô này bị rồ đi, cô đeo lúc lỉu ba lô như người leo núi, đi bất phóng bất phú.
Căn nhà cô tối tăm, ẩm ướt như một cái hang muỗi rĩn của yêu quái, đám trẻ chúng tôi rất sợ. Cô đi nhiều có lần tàn phế trở về, có lần cõng cái bụng rất lớn trở về và đẻ ở trạm y tế xã. Người làng thương lắm, có chị có mẹ gạt nước mắt thẽ thọt: vì trước cô rất đẹp, yêu chú Nhân, vì chú Nhân phụ tình nên cô mới rồ tình. Thằng Ngỏ, đứa con trai đẻ từ cuộc chung chạ vô thức của cô với người đàn ông trên “giang hồ” nào đó, giờ nó đã có vợ, cô vẫn rồ dại lang thang.
Riêng một cái làng, ngần ấy chuyện về người điên. Và chuyện còn dài nữa, nếu tôi không sợ sự dài dòng của câu chuyện làm phiền độc giả. Cuối cùng: tôi chỉ muốn đặt câu hỏi: lực lượng chức năng ở đâu, lòng nhân ái ở đâu? Rõ ràng, cả xã hội đã chấp nhận bỏ mặc người điên cho mưa gió dập vùi, cho sự điên loạn sẽ nhanh chóng hoặc lần lữa giết chết họ. Hoặc giả, có thể người điên sẽ giết chết chúng ta trong vô thức? Để trả lời cho câu hỏi này, bài viết tới, chúng tôi xin kể về những người điên gây kinh hoàng cho người tỉnh.
Tin từ báo chí: bệnh nhân tâm thần Trần Ngọc Sang (SN 1965), người xã Diên Điền, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà, đi dạo trong thôn, gặp cháu bé tên Tâm, Sang đã dùng tay bóp cổ cháu Tâm đến gần chết. Khi cứu được cháu Tâm, Sang lột bỏ quần áo ra nằm ngâm nước dưới ruộng rau muống gần đó. Lát sau, gặp hai chị Dân và Chuông đi làm về, Sang vùng dậy dùng cuốc đập hai chị. Đập gẫy cán cuốc, Sang tiếp tục dùng lưỡi cuốc đuổi theo chị Dân, đuổi vào tận phòng khách nhà bà Huỳnh Thị A, bổ 9 nhát cuộc lên cơ thể chị Dân. Chị Dân chết. Sang tiếp tục đuổi đòi giết anh Hiếu. Anh Hiếu chạy được, Sang tự húc đầu vào tường.
Tiếp: Một người tâm thần trạc ngoài 20 tuổi, bất ngờ tụt bỏ quần áo, trèo lên trụ điện cao thế cao hàng chục mét gần cầu Tân Cảng (phường 2, quận Bình Thạnh, TP HCM). Hàng nghìn người hiếu kỳ đã ứ lại ngó xem, giao thông tắc trong nhiều giờ liền. Phải mất 7 tiếng đồng hồ sau, vừa nịnh nọt, vừa đe doạ, vừa trực tiếp leo “trấn áp”, một chiến sỹ cứu hộ (Công an TP HCM) mới khống chế đưa người điên “tiếp đất an toàn”.
Còn nữa

Những tấn bi hài... trong thế giới người "điên" (Phần VI)Những tấn kịch bi hài... trong thế giới người “điên”! (Phần VIII)

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28