Phá Đáy hoang sơ
Monday, December 22, 2008 2:05:44 PM
Leo thang đá, nghĩ về cái giá của sự hoang sơ…
Bút ký dài kỳ của Đỗ Lãng Quân
Toàn bộ loạt bài và ảnh được "cất giữ" tại đây:
http://www.vietimes.com.vn/vn/tienggoisophan/6112/index.viet
“…Mà Phá Đáy là bản của những người hủi theo đúng nghĩa đen. Bấy giờ, những căn lều người hủi được dựng trên miệng một cái hố có rải sẵn vôi bột bên dưới. Chỉ chờ người bệnh kiên nhẫn tiễn đưa các khúc chân khúc tay, các sống mũi vành tai của mình xuống mồ xong; chờ đến khi những người hủi cùi hủi cụt ấy trút hơi thở cuối cùng trong căn lều cô độc, là cộng đồng phóng hoả đốt căn lều, rồi giật đổ toàn bộ tro than và người chết xuống hố vôi. Tất cả vĩnh viễn chìm đi trong câm lặng”.
Bút ký dài kỳ của Đỗ Lãng Quân
Toàn bộ loạt bài và ảnh được "cất giữ" tại đây:
http://www.vietimes.com.vn/vn/tienggoisophan/6112/index.viet
“…Mà Phá Đáy là bản của những người hủi theo đúng nghĩa đen. Bấy giờ, những căn lều người hủi được dựng trên miệng một cái hố có rải sẵn vôi bột bên dưới. Chỉ chờ người bệnh kiên nhẫn tiễn đưa các khúc chân khúc tay, các sống mũi vành tai của mình xuống mồ xong; chờ đến khi những người hủi cùi hủi cụt ấy trút hơi thở cuối cùng trong căn lều cô độc, là cộng đồng phóng hoả đốt căn lều, rồi giật đổ toàn bộ tro than và người chết xuống hố vôi. Tất cả vĩnh viễn chìm đi trong câm lặng”.
Bài 1: Lý luận về đom đóm và con mò mò
Tôi viết những dòng này khi vừa nghe tiếng lao xao của mấy bà nội trợ, họ cãi nhau về cách chọn ăn gà quê thì buổi này, cứ là phải gà có con mò mò hồng đo đỏ làm ổ ở diều, ở cánh, ở đùi gà thì mới là quê xịn. Lại có người đề phòng bọn buôn diều gà nó nghiền cục son non ra nó phết vào đùi gà tam hoàng giả làm chân quê thì sao; nó nuôi cây mò mò rồi ném vào chuồng gà trước khi đi bán thì sao. Tôi cũng góp chuyện đàn bà, bàn kế làm sao phát hiện ra con mò mò thật và mò mò giả. Bởi tôi sinh ra ở bản Mường, trước khi về phố, suốt tuổi thơ, tôi đã từng ngày lại ngày còng lưng vạch thịt da ra bắt mò mò, nên sõi chuyện lắm. Những con mò mò bông tơi, khi bị cạy rù rì đi trốn chạy, tãi một màu đỏ tuế toá trên thịt da trẻ cơ hàn.
Ngó sang thấy trên vô tuyến, đài Tây người ta cũng đưa tin, ở Nhật có cả dịch vụ xem... đom đóm thu tiền. Có một toa tàu cũ kín bưng nhốt toàn đom đóm, đom đóm vẽ vằn vèo nhây những vòng lửa nguyên thuỷ vào mắt đám người bị đô thị nuốt chửng đang phải mất tiền để được chìm vào bóng đêm xưa cũ với đèn đom đóm của đất trời. Là bởi vì ở xứ sở hoa Anh Đào, hầu hết lớp người đang sống ở thành phố, cả ngày và đêm không hề có bóng tối, không có thẻo đất thừa nào chưa bị bê tông hoá ấy họ đều chưa được nhìn thấy đom đóm, trời ạ!
Ngẫm thế, tôi mới chợt thấy may cho mình, bởi tôi đã được sống nhiều ngày nguyên sơ với hoang sơ ở bản Phá Đáy (xã Châu Bính, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An). Phá Đáy ở giữa đại ngàn. Đứng lổm ngổm trên những nấc thang đá vượt rừng, nghe đàn bướm rừng chộn rộn bay, thấy rám rám chàn chạt bên tai toàn bươm bướm, mới thấy sợ nhỡ đâu mình quá sách vở, quá kiểu cách; mình mà đem cái nhìn của phố thị trùm lên sự thô mộc của đá, cây và suối mát nơi này. Thế thì phụ lòng người bản phong (hủi, cùi) Phá Đáy lắm. Có người cho rằng chỗ nào có vệt bánh xe tròn (với ít hoặc nhiều nan hoa) in dấu thì chỗ ấy có xã hội văn minh. Nhưng, Phá Đáy còn chưa có đường, kẽm bù (dốc núi) cao đến mức chẳng cho cả những đôi giày da, giày cao gót vượt qua được. Bởi thế mà người Thái cổ mới đặt tên vùng đất xó rừng này là Phá Đáy, Phá tức là đá, Đáy là cái thang, đường vào bản khiến người ta phải bò thấp thểnh qua những bậc thang dây bắc trên các mỏm đá. Cũng có người đọc chệch ra bằng tiếng của đồng bào người Thái là Phả Đáy, Phả là Trời, Đáy là cái thang, nghĩa là muốn vào đến bản, phải bắc thang dây vượt qua các đỉnh đá nhọn, khó khăn như tìm đường lên trời!
Tôi nghe ai đó bảo, nếu tìm được một vùng đất nguyên sơ, sống thử ở đó, người ta có thể tìm ra những lý lẽ cho một ngày mai của nhân loại, thậm chí người ta có thể thành một tình nguyện viên chiến đấu chống lại bê tông cốt thép cùng sự suy thoái môi trường ở ngôi nhà chung Trái Đất. Nghe thì thấy đại ngôn, song sau những ngày uống căng bụng nước dòng suối Nà Cao ở Phá Đáy, tôi cho rằng họ nói cũng... chí tình, chí lý. Sau cái xóm Mường xa tít dưới chân dãy Ba Vì phủ mây thiêng, trong các vùng quê “một chốn bốn nơi” của gia đình tôi, chưa có địa danh nào “được” gọi là bản cả. Đến bây giờ thì tôi thân thiết với cái bản hủi ấy quá rồi, nghĩa là tất cả bản đều biết đến tôi, đều nhớ và nhắc tên tôi; nghĩa là tôi thuộc tên, thuộc tính từng người trong cái bản ấy, từ người già cho đến thằng bé sơ sinh tên là Sầm Văn Tướng. Phá Đáy là bản nghèo của tôi từ bao giờ chẳng biết nữa.
Lần trước, để vào được Phá Đáy tôi phải mời cả ông Quyên, nguyên Chủ nhiệm HTX Châu Bính và một cán bộ tuyên giáo huyện và một công an viên xã đi cùng. Người ta bảo đường rừng ngoắt nghéo, hiểm nguy khó lường, cứ là phải cẩn tắc, chưa kể những bất trắc, ít ra là để có người cõng tôi khi kiệt sức. Bước chân đi đến bung chợt đôi giày chơi thể thao của ông trưởng ban Tuyên giáo huyện cho mượn thì bắt đầu chạm đến đất của Phá Đáy. Ông cựu chủ nhiệm HTX vân vi bàn tay trên những phiến đá dựng thành vách ngang mặt mình, giọng tiếc rẻ: "Ngày xưa chính tôi dẫn quân vào “chiến đấu” cả mấy tháng trời, phá đá mở đường đi bộ vào trong này, đến đầu bản thì hết tiền. Cả yến thuốc nổ cũng hết veo. Tôi muốn khắc tên công trình, khắc ngày khởi công và hoàn thành con đường đi bộ vào bản hủi này trên vách đá kia, để đánh dấu một cuộc đại cách mạng cho Phá Đáy, thế mà không có điều kiện, đến giờ vẫn chịu chết chưa… thi công tiếp tục được! Tôi cũng tiếc cho vùng đất màu mỡ dọc thung lũng núi trong này, nếu ta ngăn suối, chỗ này làm một cái ao cá thì cả huyện ăn không hết của san hào. Nhưng...". Giọng ông Quyên cứ xa xăm dần theo từng hồi thở dốc. Nói thì bảo ngoa, trước khi từ Hà Nội vào Nghệ, tôi đã phải tập chạy, chạy từ tầng 1 lên tầng 6 của cơ quan để cơ bắp người đi công tác bằng mông (ngồi xe) nó quen dần với cảnh chân đất luồn rừng hết ngày nọ qua ngày kia. Kinh nghiệm cho thấy, nếu đột nhiên anh đi đường leo núi, chân người ở phố lâu ngày nó sẽ cứng, nhức và chỉ có nước ngồi... khóc giữa đường. Tại vách núi cuối cùng trước khi bò qua những dãy cọc ken dày chống lợn rừng phá nương và chiếc cổng cao vọi đề phòng trâu phá lúa của Phá Đáy, ông Quyên đã ngồi bần thần trước những súc gỗ lớn xếp ngổn ngang dọc bờ suối bảo: "Gỗ còn nằm vô chủ ở đây, là bởi trâu kéo không vào được đến nơi, chứ ra đến bên kia kẽm, bao nhiêu gỗ trâu nó cũng kéo ra xưởng được, ở ngoài ấy, giá của một súc gỗ thế này suýt soát bằng giá một con trâu đấy!". Hoá ra, cái cứu rỗi Phá Đáy của tôi khỏi sự xâm hại của những tên phá rừng láu cá không đơn giản là sự chưa xuất hiện của những vệt bánh xe tròn, vệt bánh xe bơm hơi có ít nhiều nan hoa; mà hơn thế, những khối đã xây thành quách ngăn đàn trâu đực tha gỗ từ rừng về xưởng đã cứu Phá Đáy. Những “đồ nghề” của bọn lâm tặc cũng đơn giản, tôi chụp được bức ảnh buồn: trên chiếc xe cải tiến bằng gỗ cũ kỹ, một cái nồi nhôm ngoang nghếch đen nhẻm, méo sẹo, một cái nón mê rách bời bời úp hờ lên miệng cái nồi không thấy vung đâu! Rừng vắng, hoa dại cứ nở vàng rực các lối mòn, những cành cây tươi còn thơm mùi nhựa sống. Rừng bị xẻ thịt, thịt rừng còn tươi vương trên lớp cỏ nhàu. Nhưng tịnh không thấy một bóng người. Chắc họ đã cầm dao cầm cưa máy hay cung nỏ gì đó đi tìm cây gỗ lớn hơn để hạ?
Lần ấy, tình cờ tôi phát hiện ra cô bé con người hủi ở trại phong Quỳnh Lập tình nguyện vào Phá Đáy dạy học cho trẻ em bản hủi. Hơn 6 năm trôi qua, với trình độ... hết cấp 2, cô là vẫn giữ kỷ lục là người đầu tiên và duy nhất mang được cái chữ qua rừng qua vách đá vào dạy cho trẻ em Phá Đáy, dạy không ăn lương, dạy không cần trường lớp. Bản vốn là nơi trú chân của những người bệnh phong (hủi) mang nặng mặc cảm bị xã hội ruồng rẫy, họ dạt vào góc rừng này, góc rừng khác rồi tụ cả vào thung lũng Phá Đáy, dân gian gọi quen là “bản hủi”. Mà Phá Đáy là bản của những người hủi theo đúng nghĩa đen. Bấy giờ, những căn lều người hủi được dựng trên miệng một cái hố có rải sẵn vôi bột bên dưới. Chỉ chờ người bệnh kiên nhẫn tiễn đưa các khúc chân khúc tay, các sống mũi vành tai của mình xuống mồ xong; chờ đến khi những người hủi cùi hủi cụt ấy trút hơi thở cuối cùng trong căn lều cô độc, là cộng đồng phóng hoả đốt căn lều, rồi giật đổ toàn bộ tro than và người chết xuống hố vôi. Tất cả vĩnh viễn chìm đi trong câm lặng.
Cho đến bây giờ, sau nhiều nhiều năm tồn tại, bản vẫn chỉ tự cung tự cấp hơn chục nóc nhà và 60 khẩu! Trưởng bản Lò Thái Bình mới 47 tuổi mà già như một ông cụ, mới cất được căn nhà trị giá... 3 triệu đồng, ông mừng ra mặt, rượu cần ủ men lá theo bí kíp của bản Thái cứ uống thun thút, chúng tôi làm veo cả một xô nước rợn rêu xanh vừa xách ở suối về rồi “chiêu” thẳng vào hũ rượu (ở đây chưa bao giờ có khái niệm về cái giếng). Hôm ấy, khi tính dân số của bản, ông Bình bấm đốt ngón tay nói bằng tiếng Kinh: “Thằng Cáng mới đẻ ra đứa con đặt tên là Tướng, thế là đúng 60 người; cái thằng Hoài người xã Châu Thuận đến lấy con Thu rồi ở rể, hai đứa mới ra ở riêng một nhà thế là thành 12 hộ!”.
Thực ra, số người là con cháu của người bệnh phong hiện nay vẫn còn nguyên ở Phá Đáy, có điều họ không mang trong mình vi khuẩn Hansen (vi khuẩn bệnh phong-hủi), bởi đơn giản là căn bệnh này không di truyền. Tuy nhiên, mặc cảm và sự tự xa lánh cộng đồng của họ vẫn phần nào còn lại. Mấy căn nhà đầu xóm, cả căn nhà ở bản Trạo, ngày xưa là nơi người bị bệnh phong nặng nằm chết ở đó, giờ cũng không còn dấu tích gì nữa. Mấy người bị bệnh phong của huyện (có người gốc Phá Đáy) giờ cũng đã được trung tâm y tế phát hiện, chuyển ra trại phong ngoài Quỳnh Lập. Xã cũng đã nhiều lần vận động bà con bỏ cái thung lũng biệt lập trong xó núi này đi để ra ngoài bìa rừng định cư "xây dựng kinh tế mới"; nhưng bà con đã gắn bó với đất này, hai nữa, mong muốn của cán bộ là vậy, chứ lòng người Phá Đáy thì sao, hình như người ta vẫn chưa hiểu thấu. Thế là cứ di ra xã một thời gian, bà con lại di vào… “hốc núi”! Nhà ông Tân, nhà bà Tuyên, thậm chí còn bỏ cả bản di tít vào trong thung lũng Trắm Cũ, sâu hơn trong rừng để sống, sống ở đâu thì họ cũng vẫn nghèo, cái họ cần hơn là một sự yên thân, yên phận trong mặc cảm nặng nề của mình (hiện nay ở cánh đồng tít trong rừng sâu kể trên nghe nói vẫn còn hai hộ sống biệt lập trong đó).
Nên hiểu, sự mặc cảm này, đôi khi là một sự thực... trong lành. Hầu hết các gia đình ở Phá Đáy hiện nay, họ đã từng sống ở bản Trạo, bản Luồng, hay ở ngoài xã Châu Bính, nhưng cuối cùng, năm năm hay mười năm sau bà con lại quay lại chốn cũ. Cái cộng đồng hơn một chục nóc nhà hiện nay đang ổn định và sự đi lên ngay từ mảnh đất thân thuộc này vẫn có vẻ có lý hơn.
(Sau cái chuyến đầu tiên tôi về Phá Đáy và viết báo, rồi kiến nghị cơ quan chức năng, có khoảng 400 triệu VNĐ đã được các nhà hảo tâm cùng một số tổ chức nước ngoài chung tay xây dựng cơ sở hạ tầng, giúp đỡ bà con ở “vùng đất bị lãng quên” Phá Đáy. Bà con vui lắm, nhưng vẫn một mực giữ cho mình cái sự hoang sơ từ bao đời, ở thung lũng mờ sương thương mến đó).
Bài 2: Đứa con người bệnh phong khóc bên suối Nà Cao
Chuyện kể rằng, hai bệnh nhân phong (hủi) ở hai “vùng thiểu số” xa lắc lơ của tỉnh Nghệ An đã gặp nhau tại trại phong Quỳnh Lập cách đây hơn 20 năm. Và, đứa con “không giá thú” Lương Thị Mùi đã ra đời. Người bố không còn một ngón chân nào ấy tiếp tục bỏ đi thật xa, đến vùng hoang vu kia, sống với một người đàn bà mất chân vì hủi khác, Mùi sống lay lắt cùng bà mẹ dơ dở (ngoài bệnh hủi còn “có vấn đề” về thần kinh)của mình trong trại cho đến khi cô tròn 18 tuổi; rồi cô gạt nước mắt tình nguyện bỏ vào rừng hoang tìm bố. Tại đây, quá xúc động trước nỗi đau của bản hủi, Mùi trở thành người đầu tiên trong lịch sử Phá Đáy đem con chữ lội bộ qua bù qua kẽm (dốc, núi) đến với những đứa trẻ vùng đất phong cùi ghẻ lạnh...
Nhưng, nỗi đau vẫn không dừng lại ở kỳ tích ấy...[/I][/B][/COLOR]
Tôi trở lại Phá Đáy lần thứ hai, đúng những ngày mà 3 đoàn làm phim đang hì hụi cho những thước phim dự đoán sẽ lấy được rất nhiều nước mắt và sự cảm phục vì tấm lòng của cô giáo Mùi giành cho bản hủi. Trừ có đoàn làm phim tài liệu của Đài Truyền hình Việt Nam dự thi không “ăn” giải… rút gì; còn lại “tình cờ thay”, hai đoàn còn lại toàn ẵm huy chương vàng. Bộ phim của cô phóng viên Đài PTTH Nghệ An đã chính thức được nhận Huy chương vàng liên hoan truyền hình của tỉnh nhà! Phim của chúng tôi (tôi viết kịch bản; đạo diễn Lê Hồng Chương - nay là Giám đốc hãng phim tài liệu khoa học Trung ương) đã đoạt giải Bông Sen vàng và giải Cánh diều vàng (Huy chương vàng) giành cho thể loại phim tài liệu nhựa của Hội Điện ảnh Việt Nam. Thôi thì cũng là “tiền nào của nấy”, khi anh chàng Chương phải thuê người và trâu mộng kẽo kẹt kéo máy nổ, máy móc tối tân (đến thang đá vút trời thì trâu không đi được nữa, toàn bộ lực điền ở Phá Đáy ra khênh giúp) vào ăn chực nằm chờ, công phu quay cả tháng trời ở bản hủi. Rồi vào Quỳnh Lập, vào Huế quay rất là tốn “nhân, tài, vật, lực”.
Đoạt giải rồi, sau lễ trao tiền trao giải ở Buôn Ma Thuột nắng gió lồng lộng (tỉnh Đắc Lắc), sau tràn ngập rượu cần chúc tục, sau những “cua” đi chiếu khắp các trung tâm, các trường đại học (gần đây, không chỉ VTV phát, mà đến cả VOV, Truyền hình của đài tiếng nói Việt Nam cũng phát) tôi, đạo diễn Chương và cả đoàn quyết định trở lại Phá Đáy lần nữa để “ăn chia” tiền giải thưởng với bà con bản nghèo. Mừng quá, mình viết một đêm mà nhuận bút những 6 triệu đồng, chưa kể tiền giải thưởng, thế là “lộc bất tận hưởng”. Ông Chương lúc nào cũng nỗi niềm và hay nghĩ về chuyện nhân tình thế thái hơn nên có vẻ chả giữ lại đồng tiền đạo diễn và tiền giải thưởng nào. Cái ông này dễ xúc động, nên nghe nói đến cái nghèo là lại rưng rưng. Mà Phá Đáy thì nghèo quá. Tôi mở một nồi gì đó trên căn nhà sàn mái hổng hoác thủng lên nền giời. Toàn những cháo, cháo củ mài. Cái giống củ mài này thì người đàn bà góa chồng tên là Chương kia đào bao giờ cho đủ bữa? Đào trúng búi thì bới đất ra là khênh trùng trục những củ mài về ăn dần thôi mà. Nhưng đào chệch chỗ thì từ sáng đến trưa, tay trầy máu cũng chỉ kiếm được vài lọn củ như cái bấc đèn dầu cắm tít hút vào trong lòng đất sâu thôi. Phá Đáy đói nghèo, ai cũng lên rừng kiếm củ thì làm gì có cảnh vục tay xuống đất bới được cả mâm củ mài nữa chứ!
Lần này trở lại, người làm báo trong tôi bỗng thấy mình được tôn vinh ngay cả trong hốc núi chưa bao giờ có bóng dáng của tờ báo, của sóng tivi; khi mà cả bản đứng ở bờ ruộng lúa nước soi đèn xem khách nào cầm đèn pin tiểu lội bì bõm vào bản thế kia… “Trời ơi, chú, thế là chú quay lại thật rồi!”, tiếng thằng Thuỷ con trưởng bản Bình. Cả bản đón tôi như người thân, Thuỷ thuộc dạng có chữ nhất của bản, nó 13 tuổi, nhanh như sóc, ít nói như một gộc cây già, nó là lứa học sinh “tiền thân” của cô giáo Mùi, nói sõi tiếng Kinh, ngày nào nó cũng cầm roi tre khua cây rừng, vượt kẽm núi ra trường cấp II ngoài xã để học. Thế ra, tôi đã làm được một cái gì đó cho Phá Đáy thật sao?
Cách đây chưa lâu, mấy ông ở đại sứ quán nọ có gọi điện cho tôi bảo: họ chuẩn làm một con đường xe máy ô tô có thể đi vào được Phá Đáy, sẽ xây cho cô Mùi một căn nhà khang trang để cô ở, và dạy học tại bản. Không ngờ, bây giờ vào, tất cả đã trở thành hiện thực, con đường 140 triệu, nhà của vợ chồng cô Mùi thì trở thành cái nhà đầu tiên của Phá Đáy được xây bằng bê tông, được lát gạch hoa, mái bằng. Cái giếng đầu tiên cũng được xây “từ thiện” ở ngay đầu nhà trưởng bản Bình, thế là Phá Đáy đã văn minh, bản không còn phải ăn thứ nước suối lờ lợ mùi lá mục kia nữa. Bà con mừng như mở cờ, thế thì lắm khách đến lắm đây. Mừng nữa là tin cô giáo Lê Thị Mùi sẽ được đặc cách vào ngành giáo dục tỉnh Nghệ An, sẽ được tăng phụ cấp và đưa đi học. Người Phá Đáy biết ơn tôi bằng cái tình sau vách núi, tôi tự thưởng cho mình một bữa rượu cần ủ sắn luộc, men lá. Thật say! Đôi mắt cô giáo Mùi long lanh, “thế là trẻ con Phá Đáy hết cô độc giữa rừng rồi”.
Đôi mắt buồn hồi Mùi quạt quạt chiếc nón mê lên rừng hú lũ học trò đi nương về gặp tôi hôm đầu tiên tôi lặn lội tìm ra Phá Đáy ngày nào, giờ như vẫn chập chờn đâu đó. Hôm ấy, khi tôi hỏi về người yêu (Mùi tuổi mùi, sinh năm 1979), em cười khanh khách: “Em á, em thì có khỉ nó yêu”, ngỡ như một sự tinh nghịch học trò, ai ngờ đó là niềm đau đã khiến Mùi... suýt chết. Mùi từng yêu Đông, người xã Châu Bính, anh chàng kém Mùi 2 tuổi, làm nghề buôn gỗ lậu từ rừng Phá Đáy về huyện. Trong căn nhà vách nứa không cửa rả ở cái bản hơn chục nóc nhà tất tật đều anh em với nhau ấy, hầu như Mùi không có cơ hội lựa chọn tình yêu nào nữa (?), vì thế, Mùi đã làm bạn với Đông. Anh ta cùng ông, và bố dựng lều ở trước bản Phá Đáy nuôi ao cá, trồng rừng, và chặt gỗ của rừng già đem về phố kiếm ăn. Bây giờ, nhà Đông giàu có tiếng trong vùng, với hơn 30 con bò thả rông trong núi, 8 con bò nái và bò đực chuyên đi kéo gỗ phá dần sự nguyên sơ của rừng già Phá Đáy. Những đêm trong lều buồn, chắc rằng anh ta đã tán tỉnh Mùi, rồi mới yêu nhau thật. Đến khi ánh ngày rạng ra, bà mẹ đành hanh của Đông biết chuyện, bà ta vào tận bản chửi rủa Mùi, “nếu cái con hủi ấy còn bám lấy con bà thì bà băm vằm ra cho mà xem, đi tù thì bà cũng đi. Chứ lấy bọn hủi về làm vợ, xóm làng người ta chửi “ủng mả””. Buồn cái là bà ta chửi đúng (theo tư duy của thói đời), buồn nữa là suy nghĩ của bà ta cũng chẳng có gì ác độc, không biết trong tập quán suy nghĩ của nông thôn Việt Nam (nghe đâu, ở Trung Quốc, Nhật Bản cũng thế). Đêm, nằm khóc chán chê, Mùi nhỏm dậy tự vấn: liệu có bà mẹ nào muốn con nình lấy con gái nhà hủi cùi hủi cụt về làm vợ không, sao mình lại trách mẹ của Đông? Bởi, Mùi là con đẻ của một ông cùi cụt ngón chân bàn tay với một bà cùi cụt bàn tay ngón chân vì bệnh phong, cả ông và bà đang nằm ở Bệnh viện Da liễu Quỳnh Lập! Bố Mùi và mẹ Mùi, khi sống ở trại phong, đã được bạn bệnh cho ghép đôi mà sinh ra Mùi, chứ không có tình yêu. Cũng chẳng biết làm thế nào để nuôi được giọt máu (là Mùi) buốt xót rơi rụng đó.
Mà có đâu xa, chính bố đẻ của Mùi và bà vợ thứ của ông đã nằm chờ chết vì bệnh phong ngay trên nhà sàn của Phá Đáy này, họ có ruộng, nhưng những bàn chân bàn tay không ngón và lở loét của họ không lội được xuống ruộng, thế là họ nghèo đói suốt đời. Họ ôm nhau nằm chờ chết bên cạnh đống lửa nhà sàn buồn hiu. Ông Lương Văn Dân (bố Mùi) đã nghĩ quá nhiều đến cái chết, rồi ông nhờ người viết thư bắn tin cho đứa con rơi duy nhất của mình (chính là Mùi) lên Phá Đáy cho bố đẻ nhìn mặt lần cuối. Cũng từ chuyến đi đầy khóc than ấy, Mùi đã có duyên với Phá Đáy. Em tình nguyện ở lại Phá Đáy làm cô giáo dạy vỡ lòng cho trẻ nhỏ giữa hoang sơ.
Tất nhiên, ai cũng biết, bệnh phong đâu có di truyền và Mùi cùng tình yêu của Mùi đâu có lỗi gì? Thế là trong cơn tủi nhục, Mùi đã tự tử. Giữa đêm đen, không y tá, không một thứ thuốc men nào, người Phá Đáy đành bảo nhau bật mười mấy cái đèn pin, vác dao dựa mở đường, làm cáng khiêng cô giáo ra trạm xá xã cấp cứu. Cô sống trở lại và suốt ngày nguyền rủa cái thằng xì-ke. Quả thật, Đông là một thằng nghiện. Tôi đã đóng giả kẻ khát nước leo rừng vào căn nhà ấy, chứng kiến anh ta ngáp dài, lì lợm, xí xớn cùng tóc nhuộm xanh đỏ, ngồi xe Dream II với mấy thằng con trai khác để đi mua ma túy. Ông nội của Đông được xem là người đầu tiên biết khai thác sự màu mỡ của đất, rừng, và sự phồn thịnh của đàn cá trong thung lũng phong cùi bị bỏ quên Phá Đáy. Vì thế, hằng tuần ông ta đã biết cưỡi xe Min-khù-khờ lặn ngụp qua suối, qua đèo vào đến chỗ không đi xe được nữa, quẳng xe hốc núi, lội bộ vào bản hủi làm ăn. Cũng lại nhờ nghề chặt gỗ lớn cho trâu kéo về phố mà căn nhà của bố con Đông toàn cột gỗ quý to như cột đình, vách trước sau, cầu thang, mặt gác đều ốp gỗ nghe rất “cường hào ác bá”. Một lối mòn với những kẻ ăn của rừng rưng rưng nước mắt đã hiện diện ở Đông: chặt rừng, giàu lên, tàn đời trong ma tuý và trác táng. Người Phá Đáy bảo, chẳng biết chúng nó phá rừng ở tận đâu đâu trong núi ấy, cứ theo vệt rãnh gỗ mài xuống đất rừng vàng ươm cùng vết chân trâu sâu như trôn bát kia thì kiểu gì cũng đến được chỗ chúng nó làm lán chặt gỗ. Thế nhưng, chưa có ai thèm đến đấy bao giờ, bà con bảo những trông thấy đã căm, căm mà chả biết làm thế nào, thà bịt mắt lại cho xong!
Đem những nỗi đau mới về Phá Đáy, bây giờ không chỉ một mình con nghiện tên là Đông ấy. Đêm đầu trở lại bản, tôi còn được chứng kiến cảnh đám thanh niên làm lán phá rừng lùng sục sạo khắp bản, ăn nói huênh hoang. Một tay tên Sơn, tóc búi túm tụm ở đằng sau theo kiểu của chàng cầu thủ đá bóng giỏi đến điều mà nghiện ma tuý cũng đến điều của Tây cứ giả đùa giả thật leo lên sàn nhà ngồi uống nước bảo: “theo phong tục của bản, thấy có khách gái thì đến chào thôi mà”. Mấy cô trong đoàn làm phim có vẻ ngài ngại. Cực, chàng trai bản dẫn đường cho chúng tôi trong các chuyến lội rừng kể: nó vừa đánh mấy anh ở bản chí mạng, vì mấy anh không muốn nó lừa con bé Hồng rồi ‘sàm sỡ” con bé Hồng nhà bà Miên. Chính Cực cũng bị đánh sưng vêu cả đầu, mà không muốn chuyện to tát mãi ra nên cũng mặc kệ!
Tôi lại nhớ con Hồng, nó là học trò cô giáo Mùi, học hết lớp 2 thì bỏ, vì... ngại ngại. Bởi nó lớn xác, lớn tuổi quá so với các cô cậu bé vào lớp 1. Hồng 16 tuổi, xinh, mập, má hồng rực, chỉ biết nghe mà không biết nói tiếng Kinh, khi bị hỏi thăm đến chuyện lấy chồng mặt cứ đỏ rần rần. Bỏ khách ngồi mình, cô chạy tọt xuống dưới gầm sàn biến mất trong rừng. Không biết cái thằng tóc túm như bó tỏi gác bếp để làm giống ấy nó có lừa em Hồng của tôi thật không và sẽ lừa như thế nào? Cực còn kể, chú Điệu người Hà Nam (Cực không hiểu tại sao toàn những người Hà Nam Ninh theo nhau lên đây chặt rừng thôi) tới thuê Cực, Cáng và trai bản em đi khiêng gỗ, Cực vạch chân tay lên cho tôi xem sẹo, em được người ta thuê phá rừng ở Ná Sảnh với mức công hơn hai chục nghìn một ngày, vần gỗ bị kẹp rập hết cả tay. Bản này, gần đây con trai lớn toàn đi ngả gỗ thuê, nên tay đứa nào cũng rập. Nếu các chú kiểm lâm không bắt được lâm tặc thì cứ vạch tay bọn thanh niên ở Phá Đáy ra khắc biết. Cái “chú” Điệu chú ấy có cái ống gì lạ lắm, như cái máy ảnh của anh này này. Chú cứ gương lên từ trong hang, nhìn ra tít ngoài núi kia, ai (kiểm lâm?) đi vào thấy ngay, là bỏ trốn. Có hôm chú còn hướng ra suối, bảo em nhìn thử, em thấy toàn con gái đang tắm! Hoá ra không chỉ tán tỉnh cái Hồng, bọn xấu còn ngắm cả phụ nữ Phá Đáy tắm ở dòng suối thanh khiết tên là Nà Cao. Và, cái máy của nó là ống nhòm, từ cuộc sống văn minh kỹ trị, chúng đã vén mây mù, nhòm vào nuột nà hoang sơ Phá Đáy!
Người Phá Đáy quý khách đặc biệt. Nghe nói cũng vì tấm tình ấy, mà cô giáo Mùi tình nguyện ở lại bản dạy học, nguyện bù đắp một phần những thiệt thòi nheo nheo nhóc nhóc mà đám trẻ mang tiếng con người bệnh phong ở đây đang phải còng lưng gánh chịu. Lúc mở lớp, cô Mùi được cả bản dựng túp lều, cưa tấm bảng đánh lá khoai lang lên làm lớp học, với dăm đứa học trò thò lò mũi xanh. Ngày thì túp lều làm lớp học, đêm nó thành nhà ở của cô giáo. Nhà của người con gái sống một mình này không có cánh cửa, những chiếc nồi bé bằng nắm tay có hôm chẳng ấm lên lấy một lần. Con lợn rừng về phá rẫy để lại bãi phân to, dày, với vết chân bằng vốc tay khiến các tay nỏ trong bản sôi máu lên. Các tay súng săn, súng kíp bản bên nghe tin cũng lần rừng mong tìm “vận may”. Vì thế cô Mùi càng sợ, trong tiếng con mang tác liên hồi, tiếng con chim gì vít vít réo trong đêm đen đã khiến cô sợ, nay lại thêm những tiếng uỳnh uỵch như của con lợn rừng. Đó là các toán thợ săn tàn độc và tục tĩu nhất... Cô giáo Mùi hãi hùng vào nhà con Hồng, rúc vào nách nó ngủ nhờ. Riêng việc ăn, hôm cô ở nhà ông Bình, hôm về nhà bà Tuyến, rất thất thường. Cuộc sống nơi này trôi đi bình lặng, thiên nhiên được tôn trọng tuyệt đối. Không điện lưới, không thuỷ điện nhỏ, thứ duy nhất chống lại quy luật của đất trời có lẽ là ngọn đèn dầu thắp trong đêm tối. Còn lại tiếng côn trùng, tiếng mang, hoẵng, chim chóc và tiếng nước chảy trong vách đá dòng Nà Cao luôn thống trị không gian.
Nhưng, cuộc sống ồn ã xô bồ ngoài kia, với con nghiện, với các trò chim gái ác độc, với phá rừng và lối sống thác loạn, bạo lực, sex đã ngấm ngầm xông vào Phá Đáy. Mùi khóc rời trại hủi lên đây làm cô giáo, giờ em lại phải khóc vì những ba động xấu đang tàn phá cuộc sống tinh khiết của bản hủi. Tàn phá cô (sau này, đau đớn thay, sự dồn đuổi của số phận, Mùi lấy một người chồng… cũng nghiện ma túy).
Còn nữa












