Quan tài treo.
Friday, April 22, 2011 6:34:20 AM
Hàng trăm chiếc quan tài “thiên táng” trong Động Ma…
Tôi nghĩ là mình sẽ không nhầm, khi dám quả quyết rằng, tôi là nhà báo đầu tiên tổ chức leo núi khám phá, quay phim chụp ảnh, tìm kiếm thông tin lý giải bước đầu về thế giới bí ẩn của khoảng 400 cỗ quan tài treo trong các khu Động Ma vùng Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Đó là vào năm 2006. Tiếp đó, tôi cũng lại vượt sông Luồng, sông Mã cùng ê kíp của VTV3, Truyền hình Việt Nam thực hiện các thước phim “rùng rợn” trong chuyên mục “Chuyện lạ Việt Nam”. Mới đây, dư luận lại ầm ĩ nghe thợ săn báo tin về ngót chục cái động ma la liệt quan tài treo “phủ” khắp núi non ở cả vùng Tây Bắc rộng lớn nữa. Có lẽ, mãi mãi, màn sương khói bí hiểm của hình thức chôn người mà khoa học tạm gọi là “động táng”, “thiên táng” này còn là một thách thức đối với vốn hiểu biết của loài người. Và, những lần cheo leo, nín thở, sững sờ, rúc mình trong rừng rậm với đá tai mèo, những lần chết hụt hoảng hồn trong thế giới quan tài treo đó cứ ám ảnh tôi mãi. Những câu hỏi không hứa hẹn có lời giải cứ treo ở đó, nhuốm màu tà ma huyền hoặc.
Tôi nghĩ là mình sẽ không nhầm, khi dám quả quyết rằng, tôi là nhà báo đầu tiên tổ chức leo núi khám phá, quay phim chụp ảnh, tìm kiếm thông tin lý giải bước đầu về thế giới bí ẩn của khoảng 400 cỗ quan tài treo trong các khu Động Ma vùng Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Đó là vào năm 2006. Tiếp đó, tôi cũng lại vượt sông Luồng, sông Mã cùng ê kíp của VTV3, Truyền hình Việt Nam thực hiện các thước phim “rùng rợn” trong chuyên mục “Chuyện lạ Việt Nam”. Mới đây, dư luận lại ầm ĩ nghe thợ săn báo tin về ngót chục cái động ma la liệt quan tài treo “phủ” khắp núi non ở cả vùng Tây Bắc rộng lớn nữa. Có lẽ, mãi mãi, màn sương khói bí hiểm của hình thức chôn người mà khoa học tạm gọi là “động táng”, “thiên táng” này còn là một thách thức đối với vốn hiểu biết của loài người. Và, những lần cheo leo, nín thở, sững sờ, rúc mình trong rừng rậm với đá tai mèo, những lần chết hụt hoảng hồn trong thế giới quan tài treo đó cứ ám ảnh tôi mãi. Những câu hỏi không hứa hẹn có lời giải cứ treo ở đó, nhuốm màu tà ma huyền hoặc.
Vượt sông Mã, vắt cạn mình để leo núi
Mỗi lần thuê thuyền đi dọc sông Mã, sông Luồng để đến với sườn một ngọn núi nghe đồn có quan tài treo, tôi đều rùng mình. Sông nước xiết, xoáy nước ở vùng thượng du ngã ba hai con sông toàn núi non hiểm trở đó, đúng là “sông mã gầm lên khúc độc hành” từ trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng thật. Hang Ma nằm trên đỉnh núi cao vọi mà dưới chân nó là Động Ma, cả hai chỉ cách thị trấn huyện lỵ Quan Hóa chừng vài cây số. Nước ở động Ma quẩn, táp, nó vòng vo, sôi sục và thường ùa lên bờ bãi, đẩy những xác người miền tây xứ Thanh xa xôi về các duềnh đá gần đó. Bà con thường mai táng các phận chìm sông lạc suối đó vào nghĩa địa vô chủ. Nhân thế, người Thái ở Quan Hóa mới đặt tên khúc sông nhiều vách đá tối om, mát rượi tứ thời này là Hang Ma. Đấy là chưa kể, trong khu vực còn có phần gò đồi nhấp nhô mộ táng, tương truyền toàn mộ của nghĩa quân của vua Lê Lợi hồi huyết chiến với kẻ thù phương Bắc. Xác các nghĩa binh thời Nguyễn Trãi viết “Bình ngô đại cáo” và xác giặc thù “thây chất như núi, máu chảy thành sông” ở đó.
Ông Phạm Hồng Nêu, nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện Quan Hóa là người đầu tiên gọi điện thoại, báo cho tôi về việc bọn trẻ chăn trâu nó phát hiện ra Động Ma. Cái tên động Ma đã có từ lâu, đời nọ qua đời kia, bà con vẫn truyền khẩu nói rằng, đó là vùng đất thiêng, ngọn núi thiêng, gồm những mộ táng đặc biệt kỳ bí, đừng ai dại gì mà xâm phạm. Họ còn kể, những ngày đẹp trời, các chiến binh máu lạnh bảo vệ Động Ma vẫn… bay là là bên sông, bay dọc các triền núi thắm đầy hăm dọa. Đến gần đây, bỗng dưng có các đoàn người bí ẩn, tay cầm bản đồ, tay cầm dây thừng và dao thuốn, họ xâm nhập vùng Hang Ma, Động Ma một cách tự tin như tiều phu vào rừng đốn củi vậy. Không ai biết họ làm gì, người Thái hiền lành ở Quan Hóa cũng chỉ nghĩ đơn giản, họ làm gì họ sẽ chịu trách nhiệm trước luật pháp và chư vị thần linh của hang, động cổ. Không ngờ, một ngày, toán thợ săn và đám trẻ chăn trâu kinh hoàng phát hiện ra, đoàn người kia đi bới các cỗ quan tài từ đời xửa xưa ở trong động ma. Hàng trăm cỗ quan tài bị lật bung. Mỗi quan tài là hai nửa cây gỗ tròn úp lại với nhau (y như khúc gỗ tròn chưa ai đụng đến) rất khít, nay lanh tanh bành, cổ vật biến mất, đến cả xương người cũng không còn. Nhiều mảnh quan tài bị bọn đạo tặc lao xuống vách đá bờ sông vỡ tan tành. Nghe chuyện đó, ông Nêu đau đớn vô cùng. Ông gọi cho tôi (nhà báo) và TS Nguyễn Văn Việt, Giám đốc Trung tâm tiền sử Đông Nam Á, một chuyên gia hàng đầu Việt Nam về khảo cổ học. Tôi và ông Việt lái xe từ Hà Nội, vượt chừng 200km lên Hồi Xuân, cũng là lúc cả bản Khằm tề tịu đông đủ, trưởng bản Phạm Hồng Sơn, phó bản tên là Dũng nai nịt gọn gàng, chúng tôi như những lính thủy đánh bộ trước hành trình khám phá Động Ma.
Đường đi mỗi lúc một dốc đứng. Vách đá tai mèo thẳng 90 độ, những đôi giày leo núi như găm vào các gờ đá sắc nhọn, hang hốc mà tiến lên. Vừa dùng dao phát đường, chặt bớt dây leo, buộc dây thừng lớn vào các gốc cây, chúng tôi đu bám, nhích lên đỉnh núi từng bước một. Phó bản Dũng cứ đi thoăn thoắt, bởi anh ta là thợ săn lão luyện trong vùng. Anh ta đã lên Động Ma từ ngày các cỗ quan tài còn nguyên vẹn, cho đến khi anh chứng kiến cảnh người ta dùng nêm lớn, búa lớn bật nắp từng cỗ ra, tìm kiếm gì đó rồi ném nó tan hoang trong lòng hang, cũng như dưới chân núi. Dũng bảo: Động Ma còn có tên địa phương là Lũng Mu, mu là con lợn rừng theo tiếng Thái. “Chỗ này là hang ổ của sơn dương và lợn rừng. Lợn rừng nhiều đến mức, thợ săn bắt ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, bắt xong, nó lại ở đâu tràn về nhung nhúc. Thế nên gọi là Hang Lợn Rừng”, Dũng rủ rỉ. Khi gương mặt tôi phủ toàn mạng nhện, vuốt đi, chắc nó đen nhẻm vì bụi bẩn và lá rừng ải mục; khi TS Việt bị ngứa điên dại vì sờ phải cây lá han ma quỷ của rừng, khi nước uống mang theo đã cạn kiệt, khi mùi phân thú rừng bốc ra từ những mái đá nhẵn thín nồng nặc nhất… - đó là lúc trưởng bản Phạm Hồng Sơn thều thào: “Hang quan tài treo đây rồi”.
Nói lời xin lỗi với các cỗ quan tài
Tôi dùng dây thừng buộc mình vào gốc cây lớn mọc chênh vênh bên cửa động, rồi ngồi thở dốc lấy lại sức lực. Tôi lặng lẽ đón gió sông Mã thổi ràn rạt giữa rừng thăm thẳm, núi xanh biếc và dòng sông Mã mùa lũ đục ngàu. “Các cụ” đã chọn điểm táng hàng trăm người ở cái chỗ phong cảnh rất hữu tình, giữa ngã ba sông Luồng, sông Mã gặp nhau, cửa động soi bóng nước! Cửa Động Ma nhẵn lắm, nhẵn đẹp sương gió mài rũa triệu năm qua hay có đám trẻ chăn trâu vẫn ngồi hằng ngày ở đây chơi trò đồng dào nào đó chăng? Anh Dũng bảo: bọn khỉ, sóc, sơn dương nó vẫn ngồi đó nhìn xuống đường, trong hang nhiều thú lắm. Tớ là thợ săn, nên biết rất rõ. Một cửa động đẹp mê hồn, đẹp (có lẽ) như “cửa động đầu non đường lối cũ/ ngàn năm thơ thẩn bóng trăng soi” trong cảnh Từ Thức nhập thiên thai vậy. Con đường thiên lý chạy từ tỉnh lỵ Thanh Hóa hơn 300km vượt qua ngàn vạn núi non để lên cùng trời cuối đất Mường Lát (đường lên Mường Lát bao xa, trăm bảy mươi thác trăm ba mươi ghềnh) đang bé như sợi chỉ dưới chân tôi. Con sông Mã hãi hùng chảy từ Lào về Việt Nam rồi xuyên qua nhiều huyện, tỉnh kia cũng bé xíu, có cảm giác ném một hòn đá từ cửa Động Ma, đá rơi mãi mới xuống tới mặt nước xa xôi như là không còn chảy nữa kia. Tôi ngoảnh vào trong động thì thấy trưởng bản Phạm Hồng Sơn và TS Nguyễn Văn Việt đang lặng lẽ, thành kính đốt bó nhang cắm ở trước thế giới quan tài treo. Trong bóng tối mênh mông trước mặt, tôi thấy những nén nhang lập lòe, đỏ ối, mùi lá mục, phân thú rừng và mùi nhanhg khói quyện vào nhau rờn rợn. Tôi ôm dây chão, đu theo gốc cây lớn vào phía hang động bên trong, chỉ dám lẩm bẩm kiểu “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”, rằng “Chúng tôi là những người khám phá, tìm hiểu để tôn vinh, nghiên cứu, bảo vệ khu vực Động Ma này. Mong các vị đừng quở mắng, triệt hạ chúng tôi. Vì đường vào tít trong lòng hang hiểm trở khôn lường, đường về cũng thăm thẳm. Họ đào bới phá các cỗ quan tài, trong khi lẽ ra phải bảo vệ, vì táng thức này kỳ lạ, người nằm trong “mộ” (động táng) là ai đi nữa, thì cũng cần trân trọng. Các cụ có câu, người chết mở mắt cho người sống là như thế này đây, là trong những trường hợp này đây!”.
Đi thêm vài bước, tôi sững sờ gặp một thế giới những cây gỗ tròn bị xẻ đôi, chúng nằm úp lên nhau. Ngổn ngang, vỡ đổ, có khi có cả giàn dáo đâm thủng vách hang để kê các cỗ quan tài lơ lửng trong lòng động đá. Nếu ai đã bỏ nửa ngày trời leo núi, đối mặt với bao hiểm nguy như chúng tôi ở dãy núi đá tai mèo phún sắc và phùm phụp lá mục muốn nuốt chửng đôi bàn chân người ta như chúng tôi, thì mới phải sững sờ đến mức ấy được. Không hiểu bằng cách nào, và vì lý do gì, mà người ta lại có thể đưa hàng trăm cỗ quan tài lên đây? Sao lại “táng” trong động, mà lại treo trên không trung của lòng động đá chon von, chứ không phải thả quan tài hay “yểm” xác người vào động như kiểu “vùi sâu chôn chặt” cho xong. Mỗi khúc gỗ dài chừng hơn 2m, nó được bổ làm đôi, giữa hai nửa khúc gỗ bổ dọc làm đôi đó, họ khoét rỗng đi (như 2 cái thuyền độc mộc), đặt thi thể người và đồ tùy táng vào đó rồi úp lại. Giữa hai con thuyền vỏ đỗ đó có mộng khít, đôi khi có cả chất kết dính đặc biệt, để khi úp vào (sau khi đã đặt thi thể người chết ở giữa) là khúc gỗ tròn khoét rỗng ôm ấp vĩnh viễn một thi thể người. Hai đầu cỗ quan tài tròn bằng gỗ đều có “chuôi” được đẽo gọn như chuôi vồ (chắc dùng để khiêng). Tìm hiểu các đồ vật trong động, có thể dễ dàng nhận thấy: người ta đã làm những cái giá đỡ quan tài tròn này hình sừng trâu. Tức là hai cái sừng cong cong đâm đầu vuốt nhọn của nó lên trên trời. Hai “sừng” như vậy đỡ hai đầu quan tài thân cây. Làm như vậy, khi khiêng đi, cỗ quan tài (bấy giờ là khúc gỗ tròn) sẽ không bị lăn, trượt.
Sửng sốt với những “ngôi nhà sàn cao tầng” cho người chết
Ở hang Lũng Mu, ngay cửa, có một khoang đá rộng lòng, la liệt quan tài. Chúng tôi đếm được 80 cỗ. Hầu hết nó đã bị cạy nắp, rất ít xương cốt còn lại, các tấm gỗ vỡ mục khá nhiều, nhiều cây gỗ tròn rêu mọc xanh rì. Chúng tôi tìm thấy rất nhiều răng người đã bóng lên như đá, như hóa thạch. Thấy những đồng tiền xu có chữ Hán đã han rỉ, nhiều loại chữ khác nhau, có đồng tiền “Khai nguyên thông bảo”. Đặc biệt, ông Nghĩa, cán bộ tuyên giáo của huyện Quan Hóa còn lượm được từ các ngôi mộ này cả thanh kiếm, những ống xương rất to lớn, cả những ngôi mộ “quý bà” với trang phục và những chuỗi hạt cườm đẹp lộng lẫy. Từ chi tiết này, ông Nghĩa nhận định, tầng lớp xây dựng các “động táng” này nhất định là quý tộc. Chỉ quý tộc mới giàu như thế, mới công phu khênh được người quá cố lên chỗ núi thẳm hang hoang này để táng. Sẽ rất tốn kém, đồ tùy táng cũng rất sang trọng. Nhiều người nghiêng về giả thuyết có một cuộc chiến tranh loạn lạc, một sự trả thù nhau của tầng lớp quý tộc nào đó, nên họ cần táng người thân của mình vào nơi kín đáo để không bị ai quấy rầy, xâm hại, trả thù. Có người bảo, trước đây có thể sông Luồng, sông Mã chưa “gọt” hết đất bám ở quả núi Lũng Mu này, đường lên động còn dễ đi, và nhóm cư dân nào đó đã quan niệm rằng, táng người trên núi cao, ở nơi địa thế đẹp (hình rồng hình phượng theo cách hiểu của người Việt chẳng hạn)… thì người chết mới ngậm cười, người sống mới phát tài phát lộc, con cháu trúng số “đế vương” (?).
Đang tranh luận thì tôi bị sa vào một trận địa quan tài hú hồn hú vía. Khi tụt từ vách hang cao xuống đáy hang để sờ tận tay vào mấy chục cỗ quan tài treo, tôi bị trượt chân, sa xuống thảm lá mục dày cộp. Chân thụt xuống sâu, tôi hãi hùng co một chân lên, chân còn lại dẫm mạnh vào một vật cứng. Bỗng dưng cả đoàn tối tăm mặt mũi, một cây gậy khổng lồ đập vèo qua mặt tôi, cái gì đó bụi mù hôi thối tràn khắp thân thể. Hai đầu gối tôi đau buốt. Lúc tá hỏa không còn biết gì nữa, vài người đã bỏ chạy. Trời yên bể lặng, tôi vẫn đứng như trời trồng, thì hóa ra: tôi đã dẫm vào rìa của một cỗ quan tài khoét rỗng vẫn nằm ngủ yên dưới lớp lá mục và phân rơi, phân sơn dương, chồn, sóc. Giống như bạn giẫm vào thành một cái chậu nhôm to, giẫm mạnh một thành chậu bên này, chậu sẽ bật lên, thành đối diện của chậu sẽ đập vào đầu gối hoặc chỗ nào đó trên cơ thể đang đứng của bạn (tùy theo đường kính của miệng chậu). Tôi giẫm dính một con thuyền độc mộc đựng xác người. Toàn bộ con thuyền gỗ nhẹ bật lên, tóe tất cả những gì trong bụng thuyền vào mặt chúng tôi. Đến tận bây giờ, tôi vẫn không tài nào hiểu nổi: đó là một cái bẫy nhắc nhở, rằn mặt mà người xưa cố tình gài ở cửa Lũng Mu, hay chỉ là sự tình cờ “tai bay vạ gió” lúc dò đường khám phá thế giới các cỗ quan tài treo.
Đã nhiều trăm năm trôi qua (các nhà khảo cổ học, sau khi nghiên cứu tại Động Ma đã đưa ra kết luận như vậy, thông tin sẽ nói ở phần sau) nhưng gỗ làm quan tài kia vẫn chưa hề ải mục nhiều. Anh Dũng dùng dao đẽo thử một nửa cỗ quan tài ra, thì gỗ vẫn cứng quánh, chất gỗ còn vàng óng, tỏa ra thứ mùi thơm dìu dìu như nhang trầm. Dùng các cây gỗ lớn có sẵn trong lòng hang, chúng tôi tiếp tục bắc chúng lên vách đá làm thang để trèo. Ở tầng thứ 2 (tạm gọi là hang 2), rồi tiếp đến tầng thứ 2 (hang 3), chúng tôi gặp cả một trận địa quan tài. Chúng được xếp ngay ngắn, song song, đôi khi đan cài trên những giá đỡ khổng lồ. Giá đỡ cũng làm bằng gỗ, chất liệu gỗ giống gỗ đẽo quan tài. Các thanh dầm khổng lồ được đẽo thuôn đầu, người ta đã khoét các lỗ lớn trong lòng hang, thúc “giàn dáo” vào đó, tạo thành bệ đỡ khiến các cỗ quan tài lơ lửng trong không gian của hang tối. Có đến 40 cỗ quan tài treo như vậy ở riêng tầng 2. Chúng tôi leo lên, sàn đá trơn trượt, rêu mốc ẩm ướt. Các súc gỗ vẫn rắn chắc, bốc mùi thoang thoảng thơm. Hệ thống sàn treo quan tài vững chãi như một ngôi nhà sàn cổ làm bằng gỗ ở hàng “tứ thiết” (đinh, lim, sến táu). Tiếc thay, hầu hết các cỗ quan tài này cũng đã bị mở nắp cả. Cổ vật, nếu có, nó đã bị cuỗm đi tự bao giờ. Con chim công chết vì có bộ lông đẹp, những người quá cố và các cỗ quan tài và đã không thể nằm yên, đã bị phá hủy, triệt hạ đến tang thương sau vài thế kỷ bình yên, chỉ vì trước đây, người ta đã giữ cái lệ kèm theo vật dụng trong đồ tùy táng. Và vật dụng đó giờ đây bỗng dưng biến thành cổ vật bị săn lùng bằng mọi giá.
Chúng ta sẽ mất Động Ma trước khi hiểu được nó?
Có thể nói, miền Tây xứ Thanh là quê hương của những hang động huyền bí và đẹp não nùng nhất. Có hang ngầm từ chân núi ra tít lòng suối cát trắng tinh khôi, chỉ toàn những hòn đá hình quả na, với mắt na, với quả tròn, giống quả na hơn cả quả na. Có hang rộng như những hội trường cấp tỉnh, với triệu triệu viên sỏi cuội tròn và trắng như trứng gà bóc. Có hang có cây hóa thạch 2 triệu năm tuổi cùng thế giới nhũ đá không kém gì Phong Nha - Kẻ Bàng. Và có hàng chục cái động chứa quan tài treo khiến giới khoa học Việt Nam và thế giới phải choáng váng, chưa thể lý giải nổi. Chỉ tiếc, kho di sản, địa chất, khảo cổ, tộc người đó đang bị xâm hại hằng ngày hằng giờ bởi những tên đạo chích vô văn hóa và nhẫn tâm bậc nhất kia, mà không một cơ quan tổ chức nào có ý định “chặn đứng” bàn tay của bọn chúng một cách thực sự. Đường về, mưa gió, sông lớn gào réo, núi rừng nghiêng ngả trước cơn bão lúc nhọ mặt người, ai trong chúng tôi cũng hoảng hốt. Răng người, tiền xu, các viên sắt tròn, cườm đá lóng lánh, các hòn đá suối nhẵn đến lạ lùng… đều được chúng tôi trả lại cho các vị “thần núi”. Chỉ TS Việt (người xếp tràn ngập phòng làm việc của mình toàn xương sọ người tiền sử) là dám cầm về vài hòn đá đẹp, thuôn dài, nhẵn nhụi mà hầu như mỗi cỗ quan tài đều có xếp một hòn ở đầu (xếp như một nghi lễ). Lại cả bản lo lắng chờ chúng tôi trở về, lại những lời oán hận đám người tàn phá Động Ma. Các kết luận khảo cổ, khoa học đã được đưa ra, nhưng không vì thế mà có ai đó đứng ra bảo vệ thế giới quan tài treo kỳ thú, kỳ bí và ẩn chứa nhiều câu chuyện đáng để khám phá nghiên cứu này. Có người ở Hồi Xuân đã đem các cỗ quan tài gỗ quý kia về nhà mình, làm ván quây đất lại để trồng rau, có người đẽo làm củi. Tôi cay đắng nói với ông cụ Phạm Hồng Nêu sắp bát tuần, nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện Quan Hóa, rằng: có hai cách để câu chuyện sửng sốt về hàng trăm cỗ quan tài treo trong động đá lưng trời kia được sáng rõ, một là bảo tồn, nghiên cứu nó; hai là… xóa sổ chúng đi, để khỏi phải thắc mắc. Để không còn gì mà thắc mắc. Những lần gần đây trở lại Quan Hóa, có khi đi với đoàn của UBND huyện do đích thân Chủ tịch dẫn đầu để vào Động Ma, chứng kiến người hiếu kỳ đào bới tơi bời lòng hang để tìm cổ vật, tìm răng người và những đồ tùy táng để bán hoặc để… thỏa chí tò mò, tôi giật mình nhận ra, không khéo, chúng ta đang chọn cách thứ 2 - chúng ta sẽ vĩnh viễn mất các Động Ma, trước khi hiểu được nó là… cái gì!?
Các cỗ quan tài treo đã 1.000 hay 500 tuổi?
Theo cuộc trao đổi trực tiếp của người viết bài này với ông Bùi Văn Liêm; và, theo tài liệu nghiên cứu đang lưu giữ ở Viện Khảo cổ học Việt Nam mang ký hiệu HS 410 do hai nhà khảo cổ Bùi Văn Liêm và Nguyễn Gia Đối thực hiện, thì bước đầu bí ẩn động Ma đã được “giải ảo”. Về các mộ táng “được đặt và treo trong hang” (từ ngữ trong nguyên văn) Lũng Mu, các tác giả đã khảo sát đối với ít nhất 75 “ngôi mộ” (cỗ quan tài). Bên cạnh hang Lũng Mu, có hang Ko Phày (10 cỗ quan tài); vùng Pha Ké đã phát hiện 5 hang có treo chừng 20 cỗ quan tài (trong đó có nhiều quan tài nhỏ xíu, có thể dành để mai táng trẻ em xấu số). Vùng Mộc Châu, Sơn La cũng có một hang tương tự. Khi chúng tôi từ động Ma trở về, ông Nêu và bà con còn cung cấp thêm tư liệu: ngay trên địa bàn Hồi Xuân, người đi rừng còn phát hiện một hang động có tới gần 50 ngôi mộ treo nguyên vẹn. Tức là tấm thiên tấm địa không bị bật nắp, bị xâm hại như ở khu vực hang Ma.
Về Động Mai, hai nhà khảo cổ Bùi Văn Liêm và Nguyễn Gia Đối kết luận: “Những quan tài và hiện phát hiện trong hang và mái đá ở Quan Hoá có hai mốc niên đại: mốc thứ nhất, một đất thời đại kim khí, di vật trên biển là những mảnh nồi vò Đông Sơn và những con ốc biển phát hiện ở hang Pha Ké 1; mốc thứ hai, khu mộ táng quan tài thân cây có thể có niên đại từ thế kỷ X đến thế kỷ XV (…). Từ những khu mộ đặt và treo trong các hang động, chúng tôi đã điều tra dân tộc học quanh vùng cho thấy, người hiện nay là người Mường và người Thái ở Quan Hoá vẫn dùng những quan tài tương tự như đã phát hiện trong hang. Theo các cụ cao niên thì từ rất xa xưa, người Mường và người Thái định cư ở Quan Hoá vẫn dùng quan tài từ thân cây. Từ một thân cây gỗ lớn, có thể là gỗ bi hoặc vàng tâm. Sau khi cưa cắt cẩn thận, họ dùng rìu, nêm, bổ đôi khoét vũm lòng gỗ tạo thành chiếc quan tài. Hiện nay, đa số người Mường, người Thái ở Quan Hoá vẫn có những quan tài bằng thân cây khoét để dự trữ cho người thân khi quá cố đặt dưới nhà sàn”.
Và, hai nhà nghiên cứu đưa ra kết luận: “Từ những lý do trên, chúng tôi cho rằng chủ nhân của những khu mộ táng trong hang động và mái đá ở Hồi Xuân, Quan Hoá, có quan hệ mật thiết, quan hệ họ hàng với hai dân tộc Mường, Thái ở Quan Hoá hiện nay”.
Tuy nhiên, cái cách nào để người ta đưa quan tài nặng nề thế, hằng trăm cỗ quan tài lên hang núi đỉnh trời kia, thì vẫn là một bí ẩn. Vì sao họ lại làm như thế, lại càng là câu hỏi chưa có lời giải hơn. Có người đặt vấn đề: mấy trăm năm trước, sông Luồng ở xa, và đất còn bám dọc đường lên Lũng Mu, nghĩa là đường lên không dựng đứng cheo leo như bây giờ. Tiến sỹ Nguyễn Văn Việt phỏng đoán, có thể người ta đã làm những đường xạn đạo, tức là buộc dây buộc gỗ thành được những cái thang nằm ngang ngoắt ngéo mãi lên đỉnh núi để đám đô tuỳ có thể khiêng quan tài đi được. Và, vẫn là giả thiết, con đường “xạn đạo” ấy giờ đã đổ sụp, hoặc sau khi động đầy quan tài, bà con “đốt đường sạn đạo” để vĩnh viễn các ngôi mộ thiên táng được ngủ yên trước thế sự… tò mò? Riêng phó bản Dũng rất có lý khi cho rằng: có ai đó, có thể theo bản đồ, gia phả, họ đã đến và thâu lượn xương cốt người quá cố rồi mang đi cả. Chứ không có tên trộm nào, con thú nào, hay sự tàn phá nào có thể làm cho những bộ xương bị biến mất một cách nhanh chóng và trọn vẹn đến thế. Và, liệu có phải sau cuộc thu lượm xương cốt người thân ấy, cộng đồng người (ở thời kỳ) có tục thiên táng ấy đã di chuyển khỏi khu vực kể trên?
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Tâm












