Hơn 300 ngày treo mình trên vách đá Mã Pí Lèng...
Saturday, 12. December 2009, 02:22:30
Phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng
... Để vượt qua được đỉnh của cao nguyên cao nhất Việt Nam đó, những người trẻ Việt Nam, cách đây 50 năm, đã phải treo mình 11 tháng trên vách đá để khảm từng xăngtimet đường trên biển đá kỳ vĩ nhất dải đất hình chữ ét-xì của chúng ta. Trên miệng lán mép vực nghìn mét sâu lởm chởm đá luôn túc trực 10 cái quan tài. Mỗi lần ra công trường, là một lần cảm giác mình đang được “truy điệu sống” lại dậy lên trong các chiến sỹ cảm tử và đồng đội của họ. Có người đã ngã xuống, thịt xương nát nhừ. Đến nỗi, quá cảm kích trước công trình kỳ vĩ của sức trẻ bấy giờ, các nghệ sỹ lớn của nước ta (như Văn Cao, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Nguyễn Sáng...) đã đi bộ vượt núi, buộc dây chão ngang lưng, bò trên miệng các hẻm vực Nho Quế để mục sở thị những người hùng giữa hiện trường xây dựng “Kim Tự Tháp Việt Nam” (chữ dùng của nhà văn Nguyên Ngọc)...
Quang cảnh mở đường phá đá anh hùng gần 50 năm trước (ảnh chụp lại từ tư liệu do Trung tâm lưu trữ quốc gia 3 cung cấp):
Sau 50 năm, những người đồng đội thắp nhang cho những người đồng đội ở nghĩa trang dành riêng cho các vị anh hùng ngã xuống cho đường Hạnh Phúc được khai sinh:
Họ, chứ không phải ai khác (!), chính là những người đã thắp lên ngọn lửa đích thực cho công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Hà Giang. Nhờ có họ, chúng ta mới được ngồi xe hơi ngắm những hẻm vực Nho Quế, một tượng đại địa chất, một đệ nhất hùng quan của VN và Nhân loại:
... Để vượt qua được đỉnh của cao nguyên cao nhất Việt Nam đó, những người trẻ Việt Nam, cách đây 50 năm, đã phải treo mình 11 tháng trên vách đá để khảm từng xăngtimet đường trên biển đá kỳ vĩ nhất dải đất hình chữ ét-xì của chúng ta. Trên miệng lán mép vực nghìn mét sâu lởm chởm đá luôn túc trực 10 cái quan tài. Mỗi lần ra công trường, là một lần cảm giác mình đang được “truy điệu sống” lại dậy lên trong các chiến sỹ cảm tử và đồng đội của họ. Có người đã ngã xuống, thịt xương nát nhừ. Đến nỗi, quá cảm kích trước công trình kỳ vĩ của sức trẻ bấy giờ, các nghệ sỹ lớn của nước ta (như Văn Cao, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Nguyễn Sáng...) đã đi bộ vượt núi, buộc dây chão ngang lưng, bò trên miệng các hẻm vực Nho Quế để mục sở thị những người hùng giữa hiện trường xây dựng “Kim Tự Tháp Việt Nam” (chữ dùng của nhà văn Nguyên Ngọc)...
Quang cảnh mở đường phá đá anh hùng gần 50 năm trước (ảnh chụp lại từ tư liệu do Trung tâm lưu trữ quốc gia 3 cung cấp):
Sau 50 năm, những người đồng đội thắp nhang cho những người đồng đội ở nghĩa trang dành riêng cho các vị anh hùng ngã xuống cho đường Hạnh Phúc được khai sinh:
Họ, chứ không phải ai khác (!), chính là những người đã thắp lên ngọn lửa đích thực cho công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Hà Giang. Nhờ có họ, chúng ta mới được ngồi xe hơi ngắm những hẻm vực Nho Quế, một tượng đại địa chất, một đệ nhất hùng quan của VN và Nhân loại:
Đi tìm một sự thực đáng giật mình của sức trẻ Việt Nam:
Hơn 300 ngày treo mình trên vách đá Mã Pí Lèng...
Gần 50 năm chờ đợi 1 ngày
Người viết bài này, cứ mỗi lần vượt gần 200km đường đèo dốc đến với đệ nhất hùng quan Mã Pí Lèng, lại tự hỏi: bằng cách nào mà từ 50 năm trước bằng lao động thủ công, mà “các cụ” đã làm đường được qua thế giới đá tai mèo chất ngất kia? Các học giả Pháp, từ cả trăm năm trước, đã gọi đỉnh Mã Pí Lèng nói riêng và “Công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn” nói chung là một Tượng Đài Về Địa Chất. Đứng ở nơi cao nhất của cao nguyên cao nhất Việt Nam đó, bạn sẽ thấy sông Nho Quế chỉ bé như sợi chỉ vắt giữa sương mù. Và bạn phải đi bộ gần một ngày mới chạm được vào mặt nước sáng óng ánh dưới kia. Tấm bia đá trên Mã Pí Lèng ghi rõ: thanh niên của 8 tỉnh, 16 dân tộc, đã mất 11 tháng treo mình trên vách đá để mở được chút đường qua Mã Pí Lèng. Tấm bia đá nằm cách đỉnh Mã Pí Lèng 22km, giữa trung tâm thị trấn Mèo Vạc cũng ghi rành mạch: phải mất 2,2 triệu ngày công, với bao nhiêu hy sinh thì con đường Hạnh Phúc được khai sinh. Tôi đã giật mình: trong lịch sử làm đường của nước ta, có lẽ, đó là con đường thi công hoàn toàn bằng sức người, gian khổ nhất; vượt qua cao nguyên cao nhất, chiếm số ngày công lao động nhiều nhất; thời gian lâu nhất;... và cũng bi tráng đệ nhất (khi con đường hoàn thành, phải có một nghĩa trang riêng để tưởng nhớ những người đã ngã xuống)...
Trong nhiều năm, bằng hàng chục bài viết đã đăng báo, in thành sách của mình, tôi và nhiều cựu Thanh niên xung phong (TNXP) mở đường Hạnh Phúc đã kiến nghị và góp phần thuyết phục được cán bộ liên quan của tỉnh Hà Giang, rằng: chúng ta không nên “vô tình” với hàng vạn người đã làm nên đại công trình kỳ vĩ, đánh thức cao nguyên đá, giúp cho Hà Giang được “đỏ da thắm thịt” như thế. Nửa thế kỷ qua, hầu hết cựu TNXP từng hoà cả tuổi trẻ, cả mồ hôi và máu của mình vào cao nguyên đá kia, (cơ bản) chưa một ai được một cơ quan chức năng nào tổ chức cho thăm lại “chiến trường xưa”. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Giang cũng chỉ vỏn vẹn vài dòng về kỷ lục Việt Nam này. Gặp lại chúng tôi, nhiều cựu TNXP mở đường Hạnh Phúc đã khóc, có người đã bực tức, tuyệt vọng. Bởi tuổi già, bởi đã quá nhiều người trong số đồng đội của họ phải “về cõi” mà chưa bao giờ được đặt chân đến nơi mình đã gửi hầu như cả phần đời tươi trẻ nhất kia!
Trong bối cảnh đó, cuối năm 2009, UBND tỉnh Hà Giang đã hạ quyết tâm, đánh công văn mời các cựu TNXP mở đường Hạnh Phúc thuộc 8 tỉnh lên thăm lại cung đường huyền thoại. Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Hà Giang huy động lực lượng tinh nhuệ nhất “theo chân” các bài báo để... sưu tầm hiện vật, mở cuộc trưng bày quy mô, mang tên “50 năm mở đường Hạnh Phúc Hà Giang - Đồng Văn”. Cùng các “cựu binh” đánh nhau với biển đá trở lại “chiến trường xưa”, chúng tôi nhận ra một sự thực còn sửng sốt hơn.
10 cỗ quan tài và hơn 100 ngày truy điệu sống
Phải nói, đến chuyến đi này, lần đầu tiên những “bí ẩn” về con đường kỳ vĩ mang tên Hạnh Phúc mới thật sự được giải mã. Những bức ảnh phá đá vượt Mã Pí Lèng 50 năm trước được tỉnh Hà Giang cửa người cầm công văn về Trung tâm lưu trữ Quốc gia 3 “xin”, phóng to, trưng bày. Các nhân chứng từ nhiều tỉnh lần đầu tiên có cơ hội đứng trên đỉnh của cao nguyên nóc nhà Việt Nam “tường thuật” lại câu chuyện treo mình phá đá quá “thần kỳ” của họ cho chúng tôi nghe. Thảng hoặc có mấy trăm chữ nhà văn Nguyễn Tuân miêu tả từ mấy chục năm trước, có dăm câu thơ được coi là của ông Xuân Diệu; thấp thoáng có vài chữ khắc vào bia đá dựng trên đỉnh núi hôm nay...., tuyệt nhiên, chưa ai có một công trình, tác phẩm đầy đặn và xứng tầm nào về đại công trình đường Hạnh Phúc. Suốt 50 năm qua, ngoài những người trực tiếp thi công, chưa ai có thể hình dung nổi những quật cường, bi tráng của “11 tháng treo mình trên vách đá”.
Ông Nguyễn Viết Chờ, Phó Chủ tịch hội cựu TNXP mở đường Hạnh Phúc tỉnh Hải Dương, đêm nằm cùng phòng khách sạn ở Đồng Văn với tôi, xem bức ảnh được chụp bản thân đã 50 năm mà bây giờ ông mới được nhìn thấy. Ông cứ thế khóc tu tu. “Tôi đấy ư? Họ chụp tôi lúc nào nhỉ?” - ông Chờ xúc động. Quá nhiều người bạn ông đã không còn sống nữa. Trong ảnh, ông Chờ đội mũ cát-kết trắng, cầm cờ, thắt dây an toàn, hào hùng như một tráng binh xung trận. Bấy giờ (năm 1964), anh bạn trẻ Nguyễn Viết Chờ và bè bạn đã được thời cuộc ban bố cho một sức mạnh khó hình dung. Anh coi khinh bọn giặc Pháp, dẫu triệt để gây hấn, dẫu dùng mọi thủ đoạn đớn hèn hòng đoạt cái vựa thuốc phiện lừng danh của vùng Tam Giác Vàng đó, nhưng suốt 80 năm đô hộ, chúng chỉ làm được có 17km đường tiến vào cao nguyên đá. Hoà Bình lập lại ở miền Bắc đã 5 năm, vào năm 1959, khi mà 8 vạn đồng bào thuộc (nay là) 4 huyện ở phía sau các dãy núi hùng vĩ của cao nguyên Đồng Văn vẫn hầu như chưa biết gì đến ánh sáng văn minh, vẫn phải đi bộ nhiều ngày ròng mới ra đến thị xã Hà Giang. Sau hơn một nghìn ngày con đường được thi công, cả vạn TNXP và bà con các dân tộc vấp phải một bức tường thành đá khổng lồ. Không một thứ máy móc, làm sao “tấn công” được lên đỉnh Mã Pí Lèng? Khó đến mức, Khu uỷ Việt Bắc phải cho gọi Chỉ huy trưởng Đại công trường Đồng Văn - Hà Giang lên hỏi: Đồng chí ơi, liệu có mở tiếp được đường vào xứ sở mà ngựa leo lên cũng phải truỵ thai mà chết (một cách chiết tự từ chữ Mã Pí Lèng) không? Ông Phạm Đình Dy, bấy giờ là Trưởng Ty Giao thông Hà Giang (sau làm Bí thư Tỉnh uỷ, nay đang sống ở Hà Nội) cùng đoàn tuỳ tùng đi khảo sát... 01 tháng, lạc đường suýt chết mấy lần, vượt dốc Mã (tên gọi tắt của Mã Pí Lèng) thấy nó cuồn cuộn chín khoanh như con mãng xà nằm ủ mình trong mây, ai cũng khiếp đảm. Đây là điểm nhìn ngoạn mục nhất, là nơi xuất phát của danh xưng “Tượng đài địa chất” núi Mã Pí Lèng, bên dưới là bát ngát núi non và dòng Nho Quế lắt lẻo trôi. Bà con lâu nay chỉ dám đóng cọc ven núi để bò lồm cồm qua kẻo gió thổi bay xuống “ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”.
Không còn cách nào khác, phải có một đội cảm tử (bấy giờ gọi chính xác là “Đội Cơ Dũng”) đem sức con người nhỏ bé chọi nhau với thế giới đá hãi hùng đệ nhất nước Nam này. Ban chỉ huy công trường chọn ra đường 17 người khoẻ mạnh, gan dạ nhất, đặc biệt phải không bị các bệnh sợ độ cao, ù tai, hoa mắt... Đội do ông Trịnh Văn Đảm, hiện sống ở Hà Giang phụ trách, các cá nhân được vinh dự tuyển lựa vào đội cảm tử gồm: ông Tuấn (Hà Giang); ông Chờ, ông Tình, ông Nguyên, ông Lập (Hải Dương), ông Nữu (Thanh Hoá)... . Trên đỉnh núi có một cây nghiến khổng lồ, mọc trùm phủ bộ rễ cuồn cuộn của nó lên các mỏm đá xám. Họ bện những chiếc dây thừng to bằng bắp tay, một đầu buộc vào gốc cây nghiến, một đầu buộc vào cơ thể các “tráng binh” đang đối đầu với Mã Pí Lèng. Nhiều người nhìn xuống các vách đá cao cả nghìn mét, nhìn ra bát ngát núi và sông Nho Quế xanh rờn rợn đã phải bỏ cuộc. Trên bãi đá bằng phẳng giữa đỉnh núi, có một cái lều chứa sẵn hơn chục cỗ quan tài để thể hiện... “lòng quyết tâm còn cao hơn núi” (vì bấy giờ làm việc giữa hoang vu, không có đường xe cơ giới, nhỡ ra, nếu cần một cỗ quan tài thì phải mất rất nhiều thời gian xẻ gỗ hoặc khiêng “chạy bộ” từ ngoài Đồng Văn vào). Mỗi sáng ra, đội Cơ Dũng bắt tay từng người đồng đội, hô to quyết thắng (và “nếu tao không về thì coi như là..., cứ nhằm ngày này...); rồi thận trọng tụt theo dây chão xuống vách đá cao 56m tính từ đỉnh núi (vị trí mà mặt đường Hạnh Phúc sẽ đi qua). Trong tay chỉ có một cái troòng bé như đầu đũa và một cây búa cũng nhè nhẹ (để phù hợp với công việc lúc đang treo mình bên vách đá cao) và ít thuốc nổ màu đỏ sột sệt, họ làm việc thông tầm như thế. Ngày nọ qua ngày kia. Trưa trật, đồng đội buộc dây ngang lưng mình, thò đầu ra mép vực, buộc nắm cơm vào dây thừng thả xuống “bón” cho từng người trong số 17 người quả cảm. Chiều về, khi đã khoan được một lỗ nhỏ bé vào vách đá, các thành viên đội Cơ Dũng mới nhét thuốc nổ vào, vừa bò, vừa hô anh em kéo một mạch lên đỉnh núi, tìm chỗ ẩn nấp, 20 phút sau, mìn nổ, đá Mã Pí Lèng vỡ ra một miếng bằng cái rá vo gạo. Đó là kết quả mĩ mãn của một ngày cật lực treo như thằn lằn mối dách giữa bát ngát gió, lồng lộng mây, sơ sẩy một ly một tý là... sẩy mạng. 17 người Đội Cơ Dũng và hàng nghìn người khác đã lấn từng xăngtimet đường như thế để vượt qua thế giới đá Mã Pí Lèng, trong suốt 11 mùa trăng. Gần 1 năm ròng treo mình trên vách đá ư?
Ông Nguyễn Viết Chờ xúc động: người có dây an toàn, búa, troòng, và gói thuốc nổ cũng phải có dây an toàn riêng. Chúng tôi ai cũng thuộc câu thơ ông nhà thơ này, không biết của ai: “Trượt chân rơi xuống vài trăm thước/ cây bốn người ôm cũng vụn tăm”. Ai cũng bảo, an toàn là trên hết, 10 cái quan tài luôn nhắc chúng tôi. Ngày nào cũng thề quyết tâm và tụt xuống vách sâu với tâm trạng... không biết có còn được gặp lại anh em và người thân? Tất nhiên, tin là mình không chết thì chúng tôi mới dám làm. Tối về, lán đội Cảm tử có được ưu tiên một cái đài Oriongton 4 pin để nghe, được ăn ở mức 27kg so với mức 24kg/tháng của công nhân khác. Bữa chính được “no” với 2 miệng bát cơm nếp ăn với cá mắm, bữa trưa thì được anh em buộc một nắm cơm độn ngô to hơn quả trứng vịt chút rồi thả xuống vách đá. Nói xin lỗi, đại tiểu tiện là cứ đu người vào vách đá... thả thẳng xuống... mây mù. Theo tiêu chuẩn, ở vùng lắm núi đá nhất cả nước, cho nên, cứ một A (12 người) thì một ngày được lĩnh một xô nước. Muốn tắm thì phải xin với “sếp” cho nghỉ cả 01 ngày, đi từ 6h sáng đến trưa mới xuống đến sông, từ sông, về đến lán là tối, là lại vẫn đầm đìa mồ hôi như... mọi hôm!
Các cựu TNXP Vũ Ngọc Thiên (Hải Dương); Nguyễn Mạnh Thuỳ (Hà Giang) và Nguyễn Dương Phả (Nam Định)... cứ đứng tần ngần trong mưa gió phần phật đỉnh dốc Mã. Dường như các pano quảng bá, vẻ đẹp kỳ ảo của “điểm ngoạn mục” được người Việt Nam và thế giới đang tôn vinh thành “Công viên Địa chất toàn cầu” kia không làm các ông già xao xuyến. Họ đang nghĩ về những người mở đường Hạnh Phúc đã ngã xuống trong một nghĩa trang riêng ở huyện Yên Minh. Đặc biệt thảm khốc là sự hy sinh anh dũng của anh Đào Ngọc Phẩm (người Thái Nguyên). Anh Phẩm tung người nhao ra cứu 2 bố con người đàn ông Mông trượt chân, hòn đá anh đứng bửa ra, nó cuốn đi rồi nghiền nát anh Phẩm dưới vực sâu Mã Pí Lèng. Thi thể anh nhát nhừ, chỉ có 2 cái chân thò ra khỏi khối đá lớn. Ông Thuỳ, ông Nguyễn Ngọc Minh (Hà Giang) và đồng đội đã phải dùng troòng đục từng lỗ vào vách đá, đóng các cọc sắt thật vững, rồi dùng dây thừng buộc quanh mình, trườn dần xuống dưới vực sâu như những con mối dách. Trườn đến đâu, “giăng tơ nhện” (dây chão) đến đó, họ lần theo các cọc sắt mới cắm, kéo thi thể nát nhừ ông Phẩm lên thì trời đã tối. Máu người đồng đội đã đông đặc.
Ròng rã, với không ít đau thương và hàng trăm ngày truy điệu sống như vậy, may thay, chỉ có 01 cỗ quan tài “bị” sử dụng, nhưng anh em vẫn không khỏi lo lắng. Sau mỗi đợt bắn mìn, họ phải đi kiểm tra lại toàn bộ các dây an toàn, sự liên kết giữa các khối đá rồi mới thận trọng thả mình xuống tiếp. Tiếng hô mỗi sáng mai ra của đội Cơ Dũng, không thể thiếu hai chữ “An toàn”. Sau khi khởi công Đại công trường Đồng Văn - Hà Giang, phỉ vẫn nổi lên, đóng cổng trời, mổ bụng cán bộ treo lên cây làm bia tập bắn. Thế nên, ngoài những cái sợ đã đi vào... huyền thoại: “Muỗi Bắc Sum, hùm làng Đán”; còn có “Dốc Cán Tỷ, phỉ Đồng Văn”, ngày làm, đêm vẫn phải cắt cử người bồng súng đứng gác đề phòng phỉ. Ông Hạ Văn Phổ (đang sống ở Tuyên Quang) là người Tày ở Ngân Sơn, Bắc Kạn đi xung phong làm đường Hà Giang - Đồng Văn, kể: sau nửa năm bò như con thằn lằn dọc các vách đá, đường “công vụ” rộng 40cm, chỉ đặt vừa bàn chân (đeo dây an toàn) của người phá đá, thế là cả công trường mừng như... pháo nổ. Đúng lúc ấy, chúng tôi lại được “trên” cấp phát cho một chiếc máy khoan hiệu DK20 của Tiệp Khắc. Tôi được giao cầm máy, khoan một lỗ sâu cả mét vào trong lòng Mã Pí Lèng. Đặt mìn, nó nổ phá ra cục đá to như cái chiếu, mừng khôn xiết, thế là công trường đã được cơ giới hoá rồi. Tôi dùng máy khoan doạ bọn phỉ, chúng nó bảo bao giờ đá mọc trên đầu người được thì mới tin Chính phủ làm được đường qua Mã Pí Lèng. Nhìn cái máy khoan phùm phụt mỗi mũi sâu cả mét vào đá khối của chúng tôi, bọn phỉ sợ quá, bỏ đi cả.
64 tuổi, ông Mai Quang Hồng (Hải Hậu, Nam Định) đứng tựa vào vác núi ở đỉnh đèo - điểm nhấn của “Công viên địa chất toàn cầu Đồng Văn”, nhớ một cái cảnh bi hùng khác: “Tôi làm ở đội mộc của công trường, đi xẻ bạt ngàn gỗ nghiến về đóng quan tài xếp trong căn lều chỗ kia để... phục vụ đội Cơ Dũng. Xong công trường vượt Mã Pí Lèng, phải dùng mất một chiếc áo quan để mai táng anh Đào Ngọc Phẩm, số còn lại chúng tôi đem “hóa táng” cả ở góc kia”.
Đọc lại Xuân Diệu, Nguyễn Tuân trên đỉnh dốc Mã
Đêm phố núi se lạnh đầy hoài niệm, những “cảm tử quân” lập kỳ tích vượt Mã Pí Lèng đều đã ở tuổi cổ lai hy, ai cũng thấy rưng rưng lệ. Thoắt thế đã 50 năm trôi qua, nửa thế kỷ là quá dài so với một đời người, thế mà suốt ngần ấy năm kể từ ngày thi công phá đá mở đường Hạnh Phúc, bây giờ họ mới lại được đi trên con đường đầy mồ hôi xương máu của mình và động đội... một lần. Được trở lại “quê hương thứ hai” Hà Giang một lần này, muộn mằn lắm, nhưng có còn hơn không. Và, biết Trời có còn cho đủ sức khoẻ để được ngửi mây mù đỉnh cao nguyên đá một lần nữa không nhỉ? Mấy cụ bị tụt huyết áp, ngất xỉu giữa đường khiến bác sỹ Tùng của BV Đa khoa Hà Giang đi theo “bảo vệ sức khoẻ” cho đoàn cứ tá hoả cả lên.
Chữa chạy xong, ông Chờ thở hắt, tự hào: ở trường Giao thông vận tải, người ta đã đem chuyện khảm đường vượt dốc Mã vào giáo trình dạy cho các cháu đấy. Vì nó là chuyện chưa từng có ở Việt Nam, 11 tháng treo mình, treo ở gần 10 cái quan tài đóng sẵn. Vì nó là một sáng tạo chưa có tiền lệ của những người trẻ Việt Nam.
Ông Nguyễn Mạnh Thuỳ (Phó Chủ tịch Hội cựu TNXP mở đường Hạnh Phúc tỉnh Hà Giang) mê thơ văn, quay ra kể về những ngày cả công trường tưng bừng đón các nghệ sỹ lớn lên thăm kỳ quan Mã Pí Lèng đang bị chinh phục. “Anh em phải buộc dây vào người các bác, để các bác ấy bò qua đường công vụ, ngó xuống hun hút vực sâu Nho Quế mà tìm... cảm hứng. Các bác ở lại công trường, làm thơ, đọc thơ, bình luận văn chương với anh chị em công nhân suốt cả tuần. Vui lắm”. Những vần thơ vang lên, tất cả các người hùng từng nhiều lần được “truy điệu sống” đều khẳng định đó là thơ ông Xuân Diệu viết về Mã Pí Lèng. Tôi tìm trong “trước tác” của cố thi sỹ quả là có những dòng về Mã Pí Lèng, thơ ấy được thi sỹ thần đồng Trần Đăng Khoa trích và bình, như: “Đá nhỏ bắt đầu rơi lộp bộp/ sau lôi đá lớn đổ ầm ầm”. Nhưng đoạn ông Thuỳ đọc rồi cả hội cựu TNXP thề thốt là của cụ Xuân Diệu “ứng khẩu” ngay giữa công trường vượt Mã Pí lèng, cá nhân người viết bài này, quả là chưa được nghe bao giờ (đoạn trích theo… trí nhớ của những người ngoại lục tuần, hoàn toàn có thể chưa... chính xác):
“Ôi, Mã Pì Lèng trăm gian ngàn khó
Vách “56” trên đầu cheo leo hiểm trở;
Dưới chân sông Nho Quế thăm thẳm, rợn người.
Chín tháng treo thân, vạt núi ngang trời
Khát cháy cổ, nhường nhau từng ngụm nước
Nắm cơm nào từ trăm thước câu lên.
Trăm khối đá mới được đường một thước
Tổ chữa troòng cũng thức trắng đêm đêm”.
Không biết các câu thơ trên có phải của cụ Xuân Diệu như trí nhớ của các cựu TNXP mở đường Hạnh Phúc không? Ông Thùy hào hứng kể: “Đoạn thơ ấy, ông Xuân Diệu lên viết ngay và đọc cho anh em tôi nghe, bọn tôi nhớ nhập tâm được như thế thôi. Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên, Tô Hoài, Văn Cao... , có nhiều nghệ sỹ lắm, nhưng chắc chắn tôi nhớ là có bằng ấy “cụ” lên thăm công trường một đợt. Họ đi bộ lếch thếch từ ngoài Đồng Văn vào công trường. Nhân hứng mây gió, cụ Xuân Diệu còn ôm một bà cụ người Mông mặc áo quần sặc sỡ, nhờ mấy cậu nhà báo trẻ chụp ảnh hộ, khiến bà cụ xấu hổ nói một tràng tiếng Mông xủng xẻng không ai hiểu gì”.
Thi sỹ Nguyễn Hải Trừng (1921-1996) có mặt ở đại công trường treo mình mở đường xuyên qua Mã Pí Lèng năm 1964, còn thảng thốt so sánh đường qua Mã Pí Lèng với đường vào Ba Thục mà ông Lý Bạch từng ví. Nửa thế kỷ đọc lại vẫn thấy mồn một sự thảng thốt hôm đó:
"Y chu choa! Nguy ôi! Cao thay!
Đường Thục khó đi, khó như đường lên trời"
Thơ Lý Bạch ngàn năm sau đọc lại
Còn thấy người xưa leo mướt mồ hôi.
Việt Nam mang danh Mã Pì Lèng
Vắt vẻo lưng chừng cao nguyên Hà Giang
Mây đạp dưới chân, trời đụng trán
Đường Thục, Mã Pì Lèng, đâu hiểm hơn?
(...)
Sông Nho quế dưới xa như rãnh nước
Từ đấy lên đây trèo tới một ngày
Núi đứng như thành chơi vơi nghìn thước
Thanh Niên treo mình, choòng đục, búa quai”.
* Trích bài thơ “Mã Pí Lèng” của Nguyễn Hải Trừng - viết ngày 23/9/1964, NXB Lao Động, năm 2001
Tôi không phải là người am hiểu văn học, chỉ dám trích những gì mà các “cựu binh” đánh nhau với đá nhớ được ra để cảm nhận về những chiều kích khác của đệ nhất hùng quan Mã Pí Lèng, cũng như kỳ tích của những người cảm tử năm xưa. Cụ Nguyễn Tuân, trong chuyến đi với nhà thơ Xuân Diệu kể trên, có viết trong bút ký của mình (điều này thì tôi dám chắc) như sau: “Cả quãng Đồng Văn - Mèo Vạc hai mươi bốn cây số đường núi đá này phải làm mất một năm rưỡi, nhưng riêng chỗ dốc Mã Pí Lèng, (chiết tự ra là) Xống – mũi - ngựa này thì phải tốn mất mười một tháng treo mình trên vách đá để đục mìn, bổ đá khắc đá ra mà cấn mặt đường vào vách đá đứng thành vại” (Trích Tuyển tập Nguyễn Tuân, nhà xuất bản Hội Nhà văn).
Phép nhiệm màu đến muộn mấy mươi năm...
Con người và thiên nhiên, cứ liên tục “bãi bể nương dâu”, cảnh đã khác, nhiều người đã khuất, những người về từ đại công trường mở đường Hạnh Phúc mà còn sống thì cũng đã già rồi, giờ đây nếu họ có ngồi kể cho con cháu nghe chuyện Mã Pí Lèng, “bọn trẻ” sẽ chỉ coi là “bịa ra cổ tích”. Càng ngày thì huyền thoại chinh phục Mã Pí Lèng trên đây càng cổ tích đến khó tin, xót xa thay! Người viết bài này dù dày công tìm hiểu khắp nhiều tỉnh, trong suốt quãng thời gian không ngắn, vẫn thấy chơi vơi giữa mấy vần thơ của Xuân Diệu, vài dòng xúc cảm ít ỏi trong ký của Nguyễn Tuân và những lời kể lúc nhớ lúc quên của những người già, mới chợt lạm nghĩ rằng: phải có một cái gì sinh động hơn, xứng tầm hơn, người thật việc thật hơn để không phụ lòng kỳ tích của những người trẻ hơn 300 ngày treo mình trên vách đá (với mỗi ngày là một “truy điệu sống”), mở đường vào nơi hùng vĩ, hoang thẳm và dữ dằn nhất Việt Nam. Thú thật, từ sự cảm kích trước bao hy sinh gian khổ của hàng vạn người mở đường Hạnh Phúc, qua tìm hiểu, tôi đã dần cảm thấy oán trách sự vô tình của tất cả chúng ta với 2,2 triệu ngày công (giả thiết có một người cặm cụi làm việc liên tục, thì phải hơn 6000 năm mới đủ 2 triệu ngày công) của hàng vạn người trẻ thuộc 8 tỉnh, 18 dân tộc đã xả thân để con đường được khai sinh giữa điệp trùng đá. Nhưng rồi, cuối năm 2009, những bức ảnh phá đá vượt Mã Pí Lèng của hơn 40 năm trước đã oai hùng bước ra từ Trung tâm lưu trữ Quốc gia 3, thế rồi UBND tỉnh Hà Giang mời hàng trăm người hùng phá đá trở lại với những đỉnh trời chất ngất của cao nguyên Đồng Văn. Những bức ảnh, những người hùng treo mình trên vách đá năm xưa bắt đầu lên tiếng, tất cả hiện ra trước mắt tôi như có một phép nhiệm màu nào đó. Những bản anh hùng ca phá đá mở đường đẹp và bi tráng nhất của dân tộc đã lại tấu lên sau gần 50 năm tưởng như bị chôn rấp vô lý nhất.
Quả là như vậy, được an ủi lắm chứ, dẫu muộn còn hơn là không bao giờ...
Mã Pí Lèng, cuối năm 2009
Đỗ Doãn Hoàng









whitelie # 15. December 2009, 02:07
Lần đầu lên Hà Giang, đi con đường Hạnh Phúc bọn em cũng thắc mắc y hệt về việc làm thế nào để có thể xây được con đường trên vùng cao nguyên đá này.
Giờ thì đã vỡ ra nhiều.
nguyễn trường trung # 16. December 2009, 14:48
Hình như kỳ 4 là anh và chị nào đó viết chung mà
Đỗ Doãn Hoàng # 16. December 2009, 15:40
đọc lại bài "Mở đường Hạnh phúc" trên TT sẽ rõ. Bài cuối cũng là chị Lãng Quân và anh Lãng Quân thôi, lắm bút danh lắm mà
nguyễn trường trung # 16. December 2009, 17:36
Thế ra Hà Duy Nguyên cũng là cái bút danh khác của gã Lãng Quân hả anh. Cái bút danh khôn thế, đem cả gia đình lên mặt báo. Như anh thì khôn quá, vừa viết vừa "nịnh" vợ, "nịnh" con.
Này nhé, chỉ cần đọc bài viết, chưa nhìn bút danh thì gần như e đoán đựơc bài anh, tin không. Dạo này quen rồi nên xác suất đúng tớ trên 90%. Thật đó.
Hoa Nguyen # 17. December 2009, 15:35