Sông Đà rồi lại… sông Đà
Friday, March 9, 2007 12:34:59 AM
Sông Đà rồi lại… sông Đà
Bút ký: Đỗ Doãn Hoàng
Sông Đà sẽ không còn được gọi là sông nữa!
Đêm sông Đà ở khúc Quỳnh Nhai (tỉnh Sơn La) xa ngái. Trời tối đen kịt. Núi và sông đặc quánh. Đà giang tĩnh lặng luồn giữa hai vách đá cao ngút trời, lạnh buốt khí núi. Tầm mắt chúng tôi bị án ngữ bởi những dãy núi, vách núi đen đúa. Không có một tẹo đường chân trời. Việt Nam mình không có dòng sông nào đi giữa thành quách đá vòi vọi như sông Đà. (Vách đá cao tới mức, lúc trời chưa tối, đi giữa sông, từ lòng thuyền ngửa cổ trông hút ngược vách đá ven bờ để tìm đường chân trời đến… rơi cả mũ lưỡi trai! Hai vách đá quá cao tới mức, sông khảm giữa đá luồn đi, ngay cả lúc ban ngày, chẳng mấy khi giữa dòng sông có được ánh mặt trời. Nhiều đoạn, những bờ đá cao từ tả ngạn vói sang sát hữu ngạn – nhà văn Nguyễn Tuân từng miêu tả trong bút ký “sông Đà” - sát đến mức con hươu, con hổ, con nai hứng chí có thể nhảy từ bờ nọ sang bờ bên kia được). Thuyền chết máy, gãy chân vịt do cuốn phải những súc gỗ lớn trôi ở ven thác, chủ thuyền Điêu Văn Láo (là cán bộ trạm y tế xã Cà Nàng) bần thần lo lắng. Mắt chẳng nhìn thấy gì, tôi nằm rạp trong lòng hẹp của con thuyền độc mộc bằng thân gỗ khoét rỗng để tránh cái buốt lạnh của gió sông Đà lúc về đêm. Bấy giờ, tôi đã hãi hùng nghĩ tới cái chết. Người Thái bản địa cũng làm quan tài bằng thân gỗ khoét rỗng, y như con thuyền cổ này đây. Tôi co ro, tuyệt vọng trong cỗ áo quan bằng gỗ. Điêu Văn Láo (họ Điêu vốn là họ Đèo của người Thái, tôi cứ tếu táo trêu anh ta: gớm, tên gì mà đã điêu còn… láo) và Lò Anh Túc (cái tên nghe đã rất… thuốc phiện) vẫn câm lặng như đá tảng, bọn hắn kiên nhẫn dùng mái chèo lựa thuyền khỏi những phiến đá to như chiếc tàu ngầm nằm phục kích bắt người ở giữa tim sông. Hình như hắn tránh tử thần chỉ bằng sự mẫn cảm sông thiêng nước ác, hình như trí nhớ từng luồng lạch Đà giang của con rái cá Điêu Văn Láo ấy đã cứu sống chúng tôi – chứ không phải một phép màu nào khác.
Bút ký: Đỗ Doãn Hoàng
Sông Đà sẽ không còn được gọi là sông nữa!
Đêm sông Đà ở khúc Quỳnh Nhai (tỉnh Sơn La) xa ngái. Trời tối đen kịt. Núi và sông đặc quánh. Đà giang tĩnh lặng luồn giữa hai vách đá cao ngút trời, lạnh buốt khí núi. Tầm mắt chúng tôi bị án ngữ bởi những dãy núi, vách núi đen đúa. Không có một tẹo đường chân trời. Việt Nam mình không có dòng sông nào đi giữa thành quách đá vòi vọi như sông Đà. (Vách đá cao tới mức, lúc trời chưa tối, đi giữa sông, từ lòng thuyền ngửa cổ trông hút ngược vách đá ven bờ để tìm đường chân trời đến… rơi cả mũ lưỡi trai! Hai vách đá quá cao tới mức, sông khảm giữa đá luồn đi, ngay cả lúc ban ngày, chẳng mấy khi giữa dòng sông có được ánh mặt trời. Nhiều đoạn, những bờ đá cao từ tả ngạn vói sang sát hữu ngạn – nhà văn Nguyễn Tuân từng miêu tả trong bút ký “sông Đà” - sát đến mức con hươu, con hổ, con nai hứng chí có thể nhảy từ bờ nọ sang bờ bên kia được). Thuyền chết máy, gãy chân vịt do cuốn phải những súc gỗ lớn trôi ở ven thác, chủ thuyền Điêu Văn Láo (là cán bộ trạm y tế xã Cà Nàng) bần thần lo lắng. Mắt chẳng nhìn thấy gì, tôi nằm rạp trong lòng hẹp của con thuyền độc mộc bằng thân gỗ khoét rỗng để tránh cái buốt lạnh của gió sông Đà lúc về đêm. Bấy giờ, tôi đã hãi hùng nghĩ tới cái chết. Người Thái bản địa cũng làm quan tài bằng thân gỗ khoét rỗng, y như con thuyền cổ này đây. Tôi co ro, tuyệt vọng trong cỗ áo quan bằng gỗ. Điêu Văn Láo (họ Điêu vốn là họ Đèo của người Thái, tôi cứ tếu táo trêu anh ta: gớm, tên gì mà đã điêu còn… láo) và Lò Anh Túc (cái tên nghe đã rất… thuốc phiện) vẫn câm lặng như đá tảng, bọn hắn kiên nhẫn dùng mái chèo lựa thuyền khỏi những phiến đá to như chiếc tàu ngầm nằm phục kích bắt người ở giữa tim sông. Hình như hắn tránh tử thần chỉ bằng sự mẫn cảm sông thiêng nước ác, hình như trí nhớ từng luồng lạch Đà giang của con rái cá Điêu Văn Láo ấy đã cứu sống chúng tôi – chứ không phải một phép màu nào khác.

Trên đường tiến vào ghềnh thác sông Đà vùng giáp biên giới
Trung Quốc, địa phận xã Mù Cả, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
Tôi bật chiếc rađio tùy thân. Chiếc loa bé vang lên câu hát diễm tình tới sướt mướt của người Kinh Bắc: “Con sông của người quan họ/ suốt đời nước chảy lơ thơ”. Cái thứ sông Thương, sông Cầu chảy như có như không giữa tre pheo bờ dâu bãi mía ở châu thổ Bắc bộ kia như ngược hẳn với sự hung dữ vọt lên, húc vào những vách đá lớn trải dài hàng trăm cây số của Đà giang. Sông Đà, dòng văn hóa - lịch sử dài tới 500km (tính trên lãnh thổ Việt Nam), với 73 con thác dữ khét tiếng đã được sử sách "điểm mặt kể tên ấy" đã mang tải trầm tích, khí phách của bà con hơn 30 dân tộc Tây Bắc. Tây Bắc mênh mông, rợn ngợp, sặc sỡ một phần là vì có sợi chỉ đỏ hung dữ sông Đà.
Thế mà, chẳng mấy nả nữa, khi mà chúng ta chưa kịp hiểu sông Đà và những hùng thiêng bí hiểm của nó, thì liên tiếp các thủy điện lớn mọc lên, sông Đà tiếp tục bị khuất phục, chúng ta sẽ mất hẳn sông Đà. Sông Đà bị giết chết. Với công trình thế kỷ Thủy điện Hòa Bình, hoàn thành cách đây 20 năm, con ngựa chứng sông Đà bị xấn sẹo lần đầu đã mất vãn cả cá tính đắm say lòng người rồi. Sắp tới, ác liệt hơn là thủy điện lớn nhất Đông Nam á Sơn La, tiếp đó là thủy điện Nậm Nhùn (tít phía thượng nguồn, chỗ Thác Lai ở thị xã Lai Châu cũ). Dòng sông năng lượng lớn nhất Việt Nam; con sông hung dữ - bí hiểm, ghềnh thác nhất Việt Nam, “Đà giang độc bắc lưu” sẽ biến thành một cái hồ lành hiền - tẻ nhạt. "Đem thân về với triều đình/ Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu". Sông Đà lúc ấy không còn được gọi là sông nữa.
Chúng tôi lang thang Tây Bắc, đi mãi, hóa ra chẳng thoát khỏi vòng kiềm toả khổng lồ của sông Đà. Đi đâu cũng gặp sông Đà, sông Đà bao dung nhìn tôi như cha mẹ nhìn cậu bé con lêu têu dãi nắng miệt rừng. Những chuyến đi, nghĩ cho cùng, cứ sông Đà rồi lại sông Đà mãi. Một sông Đà quyến rũ bất kỳ ai.
Sông Đà - kỳ vĩ và bí ẩn!
Tháng 8-2005, một đồng nghiệp chữ nghĩa của chúng tôi, đạo diễn - nhà quay phim của bên quân đội ấy đã bị sóng sông Đà vùi lấp ở khu vực sông Đà chảy qua huyện Mường Tè (tỉnh Lai Châu). Anh mãi mãi làm dở một bộ phim tài liệu tâm huyết về Ka Lăng, cái chốn xa xôi hiểm trở nhất của huyện rộng nhất, nghèo nhất, xa nhất Việt Nam - Mường Tè - ấy. Thác sông Đà vẫn hung dữ lắm, dẫu rằng nó đã một lần được thủy điện Hòa Bình "thuần hóa" cho mát tính đi rất nhiều rồi.
Tôi, chẳng hiểu thế nào, bao năm cứ duyên nợ với ghềnh thác sông Đà. Tôi sinh ra ở Ba Vì, nơi ấy, sông Đà kết thúc sứ mệnh truồi trên các phiến đá kỳ vĩ suốt độ đường 500km ghé qua nước Việt của mình. Đó là bến Trung Hà, đò ơ lại lại qua qua giữa Hà Tây và Phú Thọ. Ngã ba sông này, Đà giang gặp với sông Thao (tức là khúc đi qua Phú Thọ của sông Hồng) – xưa, thời phong kiến, cả khu vực này được đặt là Lộ Thao Đà cũng là vì cái ngã ba này đây. Chỗ ấy: dòng nước xanh rì đá núi, xanh đen như mực Cửu Long của sông Đà (vì thế nên trước đây người Pháp gọi sông Đà là Hắc Giang) đổ ầm ào vào sông Hồng, sông Hồng khúc này đỏ quạch như màu nước cốt trầu. Hai màu xanh đỏ ù ập vào nhau, tạo nên sự trộn sắc thú vị. Thuở nhỏ, sống ở Ba Vì, đi đò ra vượt qua dòng sông xanh đen, ra đến giữa sông, tôi từng rú rít lên khi nhận ra: bỗng đâu mũi thuyền húc vào một dòng sông đỏ! Sông Đà dài hơn, lưu lượng nước lớn hơn, hung dữ hơn sông Hồng. Song, chỉ vì cái màu đỏ của sông Hồng đã át mất màu xanh đen nhờ nhợ của sông Đà (một giọt mực Cửu Long cũng đủ làm đen cốc nước), cho nên: từ khúc hạ lưu của sự “hợp hôn” – ngã ba sông - này, sông Đà đã biến mất. Chỉ một mình sông Hồng được mang tên mình, trôi ra biển Đông.
Tôi cũng lại từng lên đến cái nơi con sông Đà bắt đầu băng băng sức giao long thuồng luồng của nó "nhập tịch" Việt Nam. Chỗ ấy là thượng huyện Mường Tè (tỉnh Lai Châu), chỗ ấy vách đá cũng sừng sững, lòng sông cũng hẹp, cũng tối om vì đi giữa những tường thành đá lớn như ở khúc qua Thuận Châu, Quỳnh Nhai (đã miêu tả ở trên). Chỉ có điều, sông Đà ở nơi chảy vào đất Việt Nam này lại màu đỏ nặng phù sa như… sông Hồng. Không hiểu vì sao có cái màu khó hiểu lúc xanh, lúc đen, lúc đỏ quạch của cùng một con sông như thế? Khi luồn qua những đồn điền trù phú của nước bạn Trung Hoa, sông Đà vào Việt Nam, nó nhập dòng với hai con suối giáp biên (tức là cả sông Đà, cả hai con suối Nập Là, nậm Náp ấy đều là sông suối giáp biên, được chia đôi tim dòng ra, ta và Trung Quốc mỗi bên quản lý một nửa!), có thể vì hai con suối nông choèn, nước màu xanh nõn chuối chảy trên sỏi cuội ấy quá xanh, khiến cho sông Đà đục cũng đủ cho người ta cảm giác rằng con sông đang đỏ lừ phù sa? Đá phía thượng nguồn hang hốc, đá chầy bửa nằm chình ình khắp nơi khắp chốn, có cảm giác sông Đà phải khó khăn lắm nó mới vượt qua được qua những trận địa đá. Bao đời nay, con sông cứ nhẫn nại thúc vào đá, mài mình trên đá để trổ đường ra biển lớn. Lặn lội vượt thác ngược sông, thấy sông Đà len lỏi trong biển đá điệp điệp, thật tội nghiệp. Nhưng, đứng trên đỉnh núi cao của Nậm Ma, nhìn con sông như lưỡi dao sắc lẻm chẻ mạnh, bửa đôi "thiên la địa võng" đá phiến đen nhánh của Tây Bắc ra, vết chém mỏng tang, sâu hún hút, lại thấy sông Đà đúng thật có sức mạnh của thiên binh vạn mã!
Lên đến thượng nguồn, bạn sẽ có cảm giác sông Đà kỳ vĩ khủng khiếp. Gió ngùn ngụt, sương mù chạy luyễnh loãng. Lau lách tràn bờ. Sông Đà chảy dưới vực sâu hàng trăm mét. Nước húc vào đá réo ầm ầm, bọt nước bắn cả lên các cánh rừng nguyên sinh của Pác Ma, Mù Cả. Cây cầu xa nhất về phía thượng nguồn sông Đà (tính đến thời điểm năm 2006) chính là cầu dây văng Pác Ma, cầu bé như một thanh đóm, mỏng manh, dài miên man bắc giữa 2 bờ sông. Những cây gỗ mục vêu vao thòi ra mặt sông, cà mình vào thân cầu. Có cảm giác, gió sông lồng lên mỗi bận, là mỗi bận cây cầu lại chao nghiêng, nhẹ như một thanh đóm dài. Tôi, suốt đời chưa gặp cây cầu nào gợi được nhiều cảm giác… giang hồ biên viễn tới mức ấy. Bên kia cầu là tấm biển “Vùng biên giới”! Thác Kẻng Mỏ cũng là cái thác thượng nguồn hơn cả trong số 73 cái thác “năm năm báo oán đời đời đánh ghen” đã đi vào cổ tích của sông Đà, của cội nguồn dân tộc Việt (truyền thuyết Sơn Tinh Thuỷ Tinh). Kẻng Mỏ tức là mất chảo theo tiếng Quan hoả, xưa người Trung Quốc giáp biên có nghề buôn chảo gang bán cho bà con vùng thượng du sông Đà (trước, ở ta hầu như không có nghề đúc chảo), cứ qua thác này là thuyền lật, chảo mất hút dưới những thác nước sông Đà. Nhân thế mới đặt thành tên Kẻng Mỏ. Các nhà “khảo cổ” cho biết, dưới chân thác Kẻng Mỏ bây giờ, khai quật lên phải có hàng nghìn cái chảo từ nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Đến nỗi, theo trưởng bản ở Mù Cả, thác Kẻng Mỏ sở dĩ hung dữ ngần ấy, chính là vì oan hồn những người đã bỏ mạng chân thác; cũng lại vì số lượng chảo thất lạc quá lớn nằm lổn nhổn với đá và nước nơi này... (?).
Năm 2006, con thuyền dữ dằn lắp máy lớn của trạm biên phòng Pác Ma, do đích thân các chiến sỹ biên phòng ở nơi xa xôi nhất của sông Đà điều khiển cũng vẫn phải chào thua thác Kẻng Mỏ. Nước gầm réo, đá đón đường chổm hổm. Chúng tôi phải lên bờ rồi thận trọng kéo thuyền vượt thác từng bước, từng bước, sẩy chân là sẩy mạng. Cát sông Đà hạt to, rắn rỏi, óng ánh như được nghiền ra từ đá phiến. Đây đích thị là nơi mà nhà văn Nguyễn Tuân miêu tả: mỗi khi bà con mổ vịt đánh chén, xem trong diều vịt lại thấy óng ánh những viên sỏi bằng vàng! Chỉ có điều, quy chế quản lý biên giới đã tuyệt đối không cho phép đám tàu vàng ham hố kia lai vãng. Kẻng Mỏ hung dữ tới mức: trước, trong một bản nghèo của xã Pác Ma ven sông, có một dòng họ thờ câu “nghĩa tử là nghĩa tận”. Bao nhiêu đời, họ cứ truyền đời giữ một cuốn sổ ghi tên những người đã chết vì các con thác ác xung quanh như Kẻng Mỏ, Mường Mươn, Nậm Luồng... Họ ghi chép, để hiểu quy luật ăn thịt người của thác, cũng là để không ai vô danh trên đời này, dẫu là phận chìm sông lạc suối ở sơn lam chướng khí Mường Tè. (Kể cũng là chuyện “ác liệt”, chưa dễ gì trên thế giới có được!).
Miên man Tây Bắc, đi chỗ nào cũng có thể trổ ra sông Đà, sông Đà chảy qua nhiều tỉnh: Hà Tây, Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu... Sông Đà là thứ "nhân cốt" để tạo nên sức quyến rũ của Tây Bắc, sông nắm trọn những bí mật của những ngọn núi cao nhất Việt Nam ấy. Lạ nhất là câu chuyện về những con thác, riêng điều này có thể viết cả một cuốn biên khảo nếu bạn có sức cất bước hải hồ du lãng như… sông. Trước khi tất cả những con thác biến mất, bạn có thể gặp lại thác Kẻng Mỏ, Nậm Luồng, Mường Mươn, Thác Lai; Tiếu ông, Tiếu bà (tức là khi qua thác bạn luôn nghe thấy tiếng cười ma quái, thách thức giữa lòng đá); thác Giàn dái (tức là thác xoáy mà ai đi qua đó cũng phải… ở truồng ngồi bè, vì sợ ướt quần áo, dân gian nói vống lên, nhiều người buộc mình vào bè qua thác – bè xoay tròn, lật úp, chìm trong nước rồi mới nổi lên ở khúc sông dưới - sợ quá, hai hòn dương vật vọt cả lên các dàn đá xếp chồng trên mặt thác thành… hàng dài). Chính đá và thác đã tạo nên những hang cá, mỏ cá khổng lồ, nức tiếng trong cả nước. Đó là những hang nước ấm, có khoáng chất, các loài thuỷ sản quy tụ cả lại. Trong những hang nước ngầm, các loài cá lăng cá chiên sống đến bao giờ… già, chết thì thôi. Bởi con người chưa bao giờ chinh phục được những hang núi ấy. Cho nên, cá to tới 70kg là chuyện bình thường. Bao đời nay, người Thái, người Hà Nhì, người Khơmú ven sông chia nhau khai thác các mỏ tôm mỏ cá mà không hết. Mỗi tháng đến lượt gia đình nào thì họ được bản cử vào mỏ bắt cá tôm ra chia cho bà con, đem ra chợ bán thoải mái. Mai lại đến lượt người khác, bà con tự phát có một kế hoạch khai thác bền vững các mỏ tôm cá - chứ không đánh bằng giã nhủi, xiết điện như dưới xuôi. Nhiều khi, kể thì bảo như huyền thoại, ở các mỏ cá, người đi đường khô khát đúng là phải vạch cá ra để có thể múc được một mũ cối nước lã mà uống. Những con cá chiên to tới 30-4-50kg (xem ảnh, một con cá chiên 45kg!), nó trôi như chiếc tàu ngầm, như quả bom tấn lừ đừ dưới lòng sông. Đầu cá u mấu lên như một phiến đá lớn, bà con thậm chí, khi bắt được cá lớn đều có thói quen dùng cái đầu cá hoá thạch ấy để làm… đá mài dao! Nếu bạn lên thượng nguồn sông Đà, đi dọc suối Nậm Ma, sẽ thấy những cái đăng (đó) khổng lồ dùng để bắt nhử cá lớn (xem ảnh 3); nếu bạn bơi ở sông Đà, mắc vào cái đăng đó cũng không thể tìm cách trốn ra được. Mồi câu cá ở đây là những con cá trắm mình tròn to khoảng 2kg (!), lưỡi câu to gần bằng đầu ngón tay người lớn. Một con cá nằm như cái thây người úp sấp trên bờ sông Đà là hình ảnh quá quen thuộc; đến nỗi, khi tôi hiếu kỳ xông vào chụp ảnh, bà con chỉ chạy ra xem “thằng” nào nó cầm cái gì như khẩu súng – máy ảnh - thay vì xem con cá khổng lồ. Mỗi khi, một lần thuỷ điện sông Đà bị ngăn dòng, các loài cá quý lại bị vãn đi rồi tuyệt diệt. Bởi, như cá chiên khổng lồ, “thủy quái” sông Đà ấy, nó là loài cá chỉ sống trong nước chảy xiết. Nó là chúa tể của dòng sông nước xiết. Sông biến thành hồ, cá cũng đi vào huyền thoại lắc lơ.
Những con thác, những phiến đá kỳ lạ đều chứa trong mình những câu chuyện huyền thoại.
Những con sông, nhánh suối biết chơi trò ú tim
Đặc biệt là, cũng từ thác và đá, chúng ta lại gặp những dòng sông ngầm. Bà con gọi đó là sông luồn, sông lủi, sông cụt, sông trào. Đó là hiện tượng kỳ thú mà các nhà hang động học Việt Nam và thế giới đã ít nhiều khám phá. Chỗ thị xã Sơn La có con suối Nậm La, trước khi đổ ra sông Đà, nó gầm thét băng mình qua ngót chục cây số âm âm trong lòng núi. Hồi đánh Pháp, rồi chống Mỹ leo thang, xác máy bay, vũ khí, cả vô số gỗ mục và rều rác từ rừng đã trôi tuột vào trong hang núi thành một bảo tàng khổng lồ dưới “âm phủ”. Năm 1994, nước dâng to, nước ngập thị xã Sơn La chết mấy chục mạng người, nước húc vào lòng hang bí ẩn, núi vỡ tung, xẻ ra một dòng sông lộ thiên mới, bấy giờ xác máy bay mới trôi tuột ra mặt ruộng rẫy ven thị xã. Các nhà khoa học và bà con không tài nào hiểu nổi dăm cây số dòng sông ngầm lại giữ được một cái bảo tàng chứng tích chiến tranh kỳ lạ như thế. Cái bản mới, chỗ dòng sông ngầm vỡ bục ấy giờ vẫn tồn tại, gọi là bản Bom Bay (có tên trên bản đồ hành chính hẳn hoi), ý là núi nổ như một quả bom, bay ra một dòng sông mới, san được một bãi bằng mới phục vụ cho việc lập bản dãn dân (Bom Bay nghe cứ như là… tên thành phố của ấn Độ ấy!). Nhân đấy, các nhà hang động vào điều tra thì thấy cả một hệ động vật muôn đời sống trong lòng hang với bóng tối vĩnh cửu. Tất cả rắn rết, cua cá, lươn trạch, ốc ếch đều tất tật màu trắng bóc! ếch trắng như đã được lột da chuẩn bị đem nướng, lươn trạch cũng vậy. Bởi chúng, cả tổ tông chúng nữa, chưa bao giờ được tiếp xúc với ánh sáng mặt trời.
Tại Mường Chiên, Quỳnh Nhai, có kỳ quan suối Nậm Cỏ còn huyền hoặc hơn. Các nhà khoa học bảo, suối chảy từ bên Lai Châu, mấy chục cây số trong lòng đất, lòng núi, rồi nó nhò ra bản Mường Chiên. Nước trong vắt đùn lên vô tận; nước lạnh ngắt mà vẫn bốc hơi nghi ngút vào mùa hè, ấm nồng vào mùa đông. Bà con đã kể nhiều huyền tích liên quan đến núi và suối này: họ thả một quả bưởi có khắc chữ "Mường Chiên" ở bên ngầm suối phía Lai Châu, mấy ngày sau, trái bưởi nhàu nhĩ nổi lên ở Nậm Cỏ, lăn ra sông Đà. Đây là nguồn nước ăn với khoáng chất lý tưởng của bà con trong toàn bộ khu vực. Suối đổ ra sông Đà ở bến Mường Chiên, suối rất đẹp. Khoáng chất của dòng suối được coi là nguyên nhân tạo nên nhan sắc huyền thoại của đàn bà con gái xứ Mường Chiên từ bao đời nay. Cho nên, đã nhiều lần người ta tính tổ chức du lịch ở đây, nhưng bà con nhất nhất không đồng ý. Bởi đó là suối thiêng; là nguồn nước ăn tuyệt vời của bà con; người Thái trắng bản địa không muốn những kẻ hiếu kỳ làm cho kỳ quan Nậm Cỏ bị ô uế. Tuy nhiên, vài năm nữa thôi, toàn bộ huyện Quỳnh Nhai, toàn bộ núi non khu vực đều nằm dưới lòng hồ Thủy điện Sơn La, chứ nói gì đến Nậm Cỏ, tiếc quá! Tại Mộc Châu, suối Nậm Tôn phun lên như vòi… rồng từ trong hang núi lớn tít trên độ cao hơn 800m so với mực nước biển (các nhà khoa học gọi đây là “mỏ nước áp lực”). Không biết suối Nậm Tôn nó chảy từ âm ty lên hay từ thượng giới xuống, bà con bao đời lại phải kể dài dài về những huyền tích con suối nhỏ của sông Đà hùng vĩ ấy.
Trong cuốn Thiên nhiên Việt Nam (NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội năm 1977), GS Lê Bá Thảo, cũng viết về hiện tượng những dòng sông thoắt ẩn thoắt hiện ra với sông Đà này, xin trích: “Các sông trên các cao nguyên Tây Bắc – hơn cả Đông Bắc – thật xứng đáng là đại diện cho các sông chảy trong miền đá vôi. Chúng thường chơi những trò ú tim kỳ lạ: đang chảy rõ ràng trên bề mặt đất, chúng đột nhiên ầm ầm lao xuống một hố sâu thăm thẳm (gọi là hố mất nước hay “cửa biến”) để rồi xuất hiện ở một nơi nào đó dưới chân một lũng kín hay chân cao nguyên (gọi là “cửa hiện”). Đấy là trường hợp của suối Nậm Tôn ở phía dưới Mộc Hạ, khi suối này bỗng nhiên mất hút trong khối đá vôi Húp Chôn rồi xuất hiện ra ở dưới đó trên độ cao 300m…” (trang 85, sdd).
(Còn nữa)
Đ.D.H












