Sông Đà rồi lại... sông Đà
Saturday, March 10, 2007 5:10:34 PM
Sông Đà rồi lại… sông Đà
Bút ký: Đỗ Doãn Hoàng
Kỳ 2: Sông Đà - con đường độc đạo, hành trình chinh phạt của nhiều bậc đế vương
Lý lịch một con đường mang tên viên công sứ Sanhpulop!
Bây giờ, chỉ 47 phút, du khách có thể bay thẳng một lèo vượt 500km đường kinh lý đèo dốc nhất Việt Nam để có thể từ Hà Nội đến với thành phố Điện Biên Phủ, thủ phủ của tỉnh phên giậu tổ quốc Điện Biên. Bây giờ, bạn có thể lái ôtô đi thẳng một lèo Hà Nội - Mường Tè. Và, thế nên, thật khó để những người trẻ hiểu được thế nào là sự xa xôi cách trở của Tây Bắc thuở trước. Chẳng xa xôi gì, cách đây 50 năm, con đường từ Lai Châu vào “thủ đô Mường Tè” có khi còn hiểm trở hơn cả đường Khổng Minh vào bắt Mạnh Hoạch, chiến đấu với đội quân giáp mây và voi chiến rắn rết trong Tam Quốc. Trước, lên Tây Bắc, “bộ khôn bằng ngựa, thuỷ khôn bằng thuyền”, chỉ có một lối “cửa tử” là đi dọc sông Đà. Qua thác nào thì biết là đã sống được tới thác ấy thôi. Mãi năm 1941, sau kỳ công 20 năm khoét núi khảm đường, người Pháp mới khánh thành đường Sanhpulop, tức là đường 41, tức là đường QL6 Hoà Bình-Sơn La-Điện Biên hiện nay.
Bút ký: Đỗ Doãn Hoàng
Kỳ 2: Sông Đà - con đường độc đạo, hành trình chinh phạt của nhiều bậc đế vương
Lý lịch một con đường mang tên viên công sứ Sanhpulop!
Bây giờ, chỉ 47 phút, du khách có thể bay thẳng một lèo vượt 500km đường kinh lý đèo dốc nhất Việt Nam để có thể từ Hà Nội đến với thành phố Điện Biên Phủ, thủ phủ của tỉnh phên giậu tổ quốc Điện Biên. Bây giờ, bạn có thể lái ôtô đi thẳng một lèo Hà Nội - Mường Tè. Và, thế nên, thật khó để những người trẻ hiểu được thế nào là sự xa xôi cách trở của Tây Bắc thuở trước. Chẳng xa xôi gì, cách đây 50 năm, con đường từ Lai Châu vào “thủ đô Mường Tè” có khi còn hiểm trở hơn cả đường Khổng Minh vào bắt Mạnh Hoạch, chiến đấu với đội quân giáp mây và voi chiến rắn rết trong Tam Quốc. Trước, lên Tây Bắc, “bộ khôn bằng ngựa, thuỷ khôn bằng thuyền”, chỉ có một lối “cửa tử” là đi dọc sông Đà. Qua thác nào thì biết là đã sống được tới thác ấy thôi. Mãi năm 1941, sau kỳ công 20 năm khoét núi khảm đường, người Pháp mới khánh thành đường Sanhpulop, tức là đường 41, tức là đường QL6 Hoà Bình-Sơn La-Điện Biên hiện nay.

Phương và Cường, hai chiến sỹ biên phòng lành nghề sông nước
đã đưa chúng tôi đi, chụp ảnh tại nơi con sông Đà nhập tịch Việt Nam.
Lại nói về con đường Sanhpulop. Viên công sứ Sanpulop mắt xanh mũi lõ đã anh dũng chỉ huy làm con đường khảm giữa rừng già, vượt qua địa ngục trần gian nhà tù Sơn La, vượt đỉnh Pha Đin (theo tiếng Thái tức là núi đá cao đến tận trời; đèo Pha Đin hiện nay có chiều dài tính theo QL6 là 32km). Con đường mang tên ông xâm lược Sanhpulop cũng xứng đáng thôi. Sau 20 ròng rã xây dựng, khi đường được treo biển khánh thành, Sơn La vẫn hoang rậm tới mức, đàn gấu hoang vẫn leo lên đồi Khau cả (nơi có nhà tù Sơn La) nghịch ngợm rồi một con rơi xuống bể nước… chết đuối. Gà rừng chọi nhau loách choách, khỉ hoang nhảy lò cò trong lòng thị xã. Mải ngửng cao đầu với tàu vũ trụ lên mặt trăng, người ta ít có thì giờ để ý, chứ giờ ở “cây số 85” ven QL6, đoạn qua khỏi huyện Mộc Châu đi về phía thị xã Sơn La vẫn còn một vách đá lỗ chỗ hang hố, với năm bảy cái đầu sắt gỉ hoen gỉ hoèn thò ra. Lịch sử đã tạc ghi: đó là nơi viên công sứ quả cảm Sanhpulop đã treo tấm biển lớn cổ suý cho việc khánh thành con đường huyết mạch của Tây Bắc mà ngày nay chúng ta vẫn sử dụng, gọi là QL 6. (Vừa qua, mấy ông pê-mờ-u gì đó có dùng tiền tỷ của nhà nước để nâng cấp mở rộng con đường này, nhưng hễ chỗ nào bị nâng cấp là bị vá chằng vá đụp ngay lập tức. Nhiều mảnh bị hỏng, loang một hố to bằng cái chiếu, biến mặt đường thành ruộng bậc thang, khiến báo chí rất đau đầu. Trong khi đó,con đường ông Tây kia làm đã 65 năm, tuy hơi nhỏ một chút, tuy tốn nhiều gương cầu một chút, song mặt đường vẫn nhẵn thín uốn lượn qua nhiều rải rừng nguyên sinh. Có người bảo, bây giờ máy móc nó làm kém, ngày xưa ông Sanhpulop toàn cầm roi da, súng lục bắt phu phen người Việt Nam lao động khổ sai…, đường tốt hơn là phải. Đường xây xương lính, đường làm bằng máu dân!?).
Cạnh dấu tích của buổi khánh thành đường 41 là rất nhiều bệ thờ những người đã hy sinh khi làm đường (ngày ấy gọi là bỏ mạng, vì là làm đường cho thực dân). Thì 20 năm trời ròng rã, biết bao nhiêu người đã ngã xuống? Từ đó đến nay, ở nước ta, có lẽ chưa có con đường nào lại được làm “câu dầm” hai thập niên ròng như thế! Ngay ven QL6 bây giờ, bà con người Thái còn nhớ y nguyên, “di tích” Năm ông Ngự (tức là năm ông nằm “trị vì”), bởi trước khi khánh thành, bửa tấm đá khổng lồ ven mép vực chênh vênh vùng cao nguyên châu Mộc (tức là huyện Mộc Châu ngày nay), còn có thêm năm người thợ trượt ngã tử nạn. Họ được thờ ngay ở cạnh khu vực làm lễ khánh thành công trình vĩ đại của nhiều đời.
Nhiều người thắc mắc: dọc QL6 bây giờ, bà con vẫn có thói quen sử dụng các địa danh như km 22, km 60, “kilomét số tám lăm” (nơi có dấu tích cắm biển khánh thành đường Bốn mốt)…? Cây số 85 là tính từ đâu? Những địa danh như dốc 75, bạn cứ nói là lái xe khách nào cũng biết để trả bạn xuống bến; dốc 70 đồn Công an, nơi mà không người Sơn La nào không biết. Điều đáng ngạc nhiên là: tất cả QL6 hiện đại ngày nay vẫn được tính bằng thước đo của cái thời Tây Bắc chưa có đường cách đây già nửa thế kỷ. Độ ấy, đường (theo xe bánh tròn có thể lăn được) chỉ được tính từ Suối Rút-Thác Bờ của tỉnh Hòa Bình về Hà Nội để xe cộ trệu trạo đi chậm leo núi thôi. Từ Thác Bờ đổ lên thì chỉ có nước… đi bộ. Đường Sanhpulop được làm đến đâu thì người ta cứ tính toán đặt tên địa danh, rằng chỗ ấy cách Suối Rút bao nhiêu cây: cây số 75 tức là cách Suối Rút 75km, cứ thế cộng vào.
Cho nên, thuở còn triều đình phong kiến của tổ tông ta, các bậc vua chúa, quan lại có tuần du đến chỗ núi thẳm non cùng Tây Bắc, thì dĩ nhiên chỉ có một mình con đường đi dọc sông Đà thôi. Lịch sử đã ghi lại rằng, vua Lê Thái Tổ đã đi ròng rã với binh hùng tướng mạnh, với những chiến thuyền hiện đại nhất, người mở đường phát lối rầm rộ nhất, cũng phải mất đúng 29 ngày mới lên đến Sơn La. Bây giờ, dấu tích còn lại là những địa danh bất hủ như: Cửa Vua và các tấm bia do chính ông Lê Lợi xẻ vách núi, rút kiếm vạch thơ giữa trời đất. Cửa Vua tức là cửa sông Đà nơi nhà vua đã dừng chân trên đường Kinh lý. Chỗ ấy có những ngôi mộ táng của người Hán, có cây mít to khổng lồ từng được nhiều người biết đến (có thể người Hán, từ thời còn đô hộ nước ta, họ cũng thám hiểm sông Đà bằng con đường này).
Người Pháp, với khả năng tính toán xuất quỷ nhập thần của mình, họ cũng từng thành lập tỉnh Vạn Bú ở ven sông Đà để cai trị vùng mênh mông Tây Bắc (năm 1895). Vừa rồi, Sơn La long trọng kỷ niệm 110 năm ngày… thành lập, nhưng ít ai để ý rằng, tỉnh Sơn La “tiền thân” đã được thành lập ven sông Đà, chứ không phải tít dưới chân đồi Khau Cả, ven suối Nậm La như hiện nay! Đơn giản, ngày xưa Tây Bắc làm gì có đường, ngoài con đường độc đạo dọc sông Đà. Cái đồn mà người Pháp đóng ở Sơn La sớm sủa hơn cả, có lẽ là đồn Bản Dạng trong Mường La, chỗ xây dựng Thuỷ điện Sơn La hiện nay. Có một câu chuyện mà người chép sử Tây Bắc giờ nên bổ sung vào, ấy là tôi nghe bà con bản xứ kể, như sau: trước, ông Pháp đóng ở đồn binh Bản Dạng có lấy một bà người Sơn La ở cạnh đồn (có thể là ép phải lấy, bọn xâm lăng hám gái mà lị). Sau, 1953, giải phóng Tây Bắc, ông Tây xâm lược đem bà vợ ấy về Hà Nội rồi đưa sang Pháp sống rất hạnh phúc (chiến tranh là chiến tranh, tình yêu là tình yêu chứ). Sau này, con gái bà rất thành đạt, lấy một ông Bồ Đào Nha làm chồng. Nghe kể về miền rừng Tây Bắc Việt Nam mãi, mới đây cô cất công tìm về tận cái bản có đồn binh xâm lăng của ông bố châu Âu của mình. Chỗ ấy, khoảng những năm 1980 là cái rốn của dịch sốt rét của Sơn La, bản làng gần như bị huỷ diệt, nhưng cô gái nguồn cội ấy vẫn tìm được họ hàng, vẫn yên lòng với quê hương thời mới mà lần đầu tiên trong đời cô được trông thấy.
Hành trình của những tấm bia cổ ven sông Đà
Một phép tính đơn giản, Tây Bắc là cốt nhục của nước Việt ta, việc chống xâm lăng, diệt trừ giặc cỏ thường xuyên diễn ra cũng là dễ hiểu. Việc triều đình gả con gái cho các tù trưởng miền biên viễn để giữ yên bờ cõi cũng là dễ hiểu, như thể công chúa Huyền Trân vào Chiêm Thành độ nọ, như Chiêu Quân cống Hồ thuở trước nữa. Đời nhà Trần đã có ông Trần Nhật Duật mải mê miệt rừng, ông nói chuyện với người sau nhiều nách núi Tây Bắc không cần phiên dịch. Ông tay trần “đơn thương phó hội” như Quan Công thuở trước chỉ để bày tỏ với các tù trưởng vùng thiểu số chưa chịu tuân phục rằng: ông hết lòng, ông chân thành với họ. Và, một mình ông đã “đánh bạn” với người thiểu số bao năm ròng, giữ yên bờ cõi phía Bắc kinh thành trong cả một giai đoạn lịch sử dài dặc. Hoặc như, thời Pháp mới lên đánh chiếm Tây Bắc, muốn tấn công vào Mường Tè, nơi cố thủ của vua Thái Đèo Văn Long mà không sao “chinh phạt” được. Cuối cùng cũng lại phải nhờ đến một người hùng, nhà thám hiểm Pháp Pavie chơi con bài tâm lý chiến. Sử cũ chép: ông ta chuộc hai đứa con của Đèo Văn Trì (bố “vua Thái” Đèo Văn Long) từ lân bang (bị bắt làm con tin) về, trao không cho ông Trì để lấy chỗ đi lại. Tiến tới, ông ta, râu dài đến rốn, mặc quần cộc, ở trần, hai tay giơ lên trời tiến vào thủ phủ của “vua Thái” xin được nói chuyện tình cảm! Từ đó, cái hiệp ước ký năm 1886 mới ra đời, cha con họ Đèo nhục nhã thụ lộc của người Pháp làm quản đạo cả nhiều đạo ở vùng Tây Bắc mênh mông. Mãi đến trước giải phóng Điện Biên, ở thị xã Lai Châu cũ vẫn có hai con phố mang tên gã Pavie và tên Đèo Văn Trì để kỷ niệm sự kiện này (sau Cách mạng đổi thành phố Dân Chủ và phố Phú Cường).
Tây Bắc hiểm trở, vậy nhưng, vua chúa thời phong kiến Việt Nam đã chinh phạt dọc sông Đà rất kỹ càng. Chỉ lần theo những tấm bia ven sông cũng đã đủ thấy điều này: bia ông Lê Lợi viết ở Cộng Hoà, huyện Mộc Châu; bia ở Thác Bờ, Hoà Bình; bia ở thị xã Sơn La ngày nay – bia “Quế lâm ngự chế”; bia ở huyện Sìn Hồ, Lai Châu, cheo leo trên vách đá bờ sông Đà, cạnh dinh vua Thái Đèo Văn Long; bia cổ Cà Nàng, Quỳnh Nhai…
Cách đây gần sáu trăm năm, xa xôi quá rồi cũng đừng cộng trừ chi ly làm gì, ông vua quả cảm Lê Lợi đã đích thân đem quân lên vùng đất hoang rậm mà sau này người ta gọi là thị xã Lai Châu chinh phục đám giặc cỏ bất tuân thượng lệnh. Dẹp yên vùng phên giậu, người anh hùng bèn gọt một vách đá chênh vênh trên bờ Đà giang, khắc chữ đề thơ. Có lẽ đây là tấm bia xa xôi nhất ở vùng Tây Bắc mà một vị vua nước Việt từng “rút kiếm đề thơ”. Thơ viết bằng chữ Hán, dịch nghĩa như sau:
Thơ rằng: “Bọn giặc cuồng sao dám trốn tránh. Tội đáng giết. Dân ngoại biên đã từ lâu ta đợi đến cứu sống, kẻ bầy tôi làm phản từ xưa vẫn có. Đất đai hiểm trở từ nay không còn (bọn chúng nữa – PV). Hình bóng cỏ cây và tiếng gió thổi hạc kêu cũng làm quân giặc kinh sợ. Non sông này nhập vào một bản đồ, đề thơ khắc lên núi đá. Chắn giữ phía Tây nước Việt ta.
Ngày lành tháng Chạp năm Tân Hợi, tức tháng 1 năm 1432”.
(Sắp tới, để phục vụ cho công trình Thuỷ điện Sơn La, nhà nước ta sẽ bứng toàn bộ di tích quốc gia Bia Lê Lợi ra khỏi vách núi bờ sông Đà của huyện Sìn Hồ đem đi trưng bày ở nơi khác. Vẫn nét chữ của vua Lê, vẫn vách núi ấy sẽ được di chuyển “nguyên khối”. Toàn bộ khu vực gặp nhau của 3 con sông Nậm Tè (một tên gọi khác của sông Đà khúc thượng lưu) với sông Nậm Na, Nậm He kể trên sẽ ngập vĩnh viễn trong lòng hồ).
Cũng trong năm 1432 ấy, tít dưới hạ lưu sông, cách đó mấy trăm cây số đường thuỷ ông Lê Lợi cũng lại rút gươm khoét đá lưu bút tích. Bia đá cổ nguyên trước kia được khắc ở vách núi đá bên Thác Bờ, thuộc xã Hào Tráng, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình. Bia chép bài Tiêu dẫn của Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đề rằng:
“Năm Nhâm Tý 1432, Thuận Thiên thứ 5, tháng 3, ngày tốt.
Ta đi đánh Đèo Cát Hãn về qua đây, làm một bài thơ để đời sau được biết về đạo lý đánh giặc:
Bọn phản nghịch ở Mường Lễ (Sơn La) mặt người dạ thú, nếu ngang ngạnh, không chịu theo đức hoá thì phải dẹp ngay cho dứt. Ta chẳng sợ gì hiểm trở và sơn lam chướng khí. Như thế là vì lo nghĩ đến sinh linh trong thiên hạ. Còn phương lược ra quân thì hai đạo Thao - Đà, đường thuỷ là đường tiến binh tốt nhất.
Đường hiểm gập ghềnh không ngại khó
Tuổi già ta vẫn còn tấm gan sắt
Nghĩa khí quét sạch nghìn đám mây mù
Tráng tâm san cách muôn trùng núi
Phải trù liệu phương lược làm tốt việc biên phòng
Phải toan tính sao cho xã tắc dài lâu yên ổn
Ba trăm khúc thác ghềnh nguy hiểm – lời nói ấy kể chi.
Nay ta chỉ thấy nước chảy thuận dòng”.
Sau này, mấy trăm năm sau, cùng với việc sông Đà bị vặt râu bẻ cánh biến thành “cỗ máy sản xuất điện” (xây dựng Thuỷ điện Hoà Bình), con cháu vua Lê đã trân trọng bong nguyên cả khối đá, cả khối núi có lưu chữ của ông về bảo tàng cất giữ (năm 1982). Bia hiện nay đang “quàn” tại khuôn viên rất đẹp tại thị xã Hoà Bình, trước cửa bảo tàng tỉnh.
Tại nơi xa cực cùng của những vách đá ven sông Đà trên đất Sơn La, ấy là xã Cà Nàng, huyện Quỳnh Nhai, có một tấm bia cổ bí ẩn. Sau cả ngày đi dọc sông Đà, lút mình leo núi dọc một trảng rừng rậm, vừa qua chúng tôi mới cùng cán bộ địa phương khảo được vị trí của tấm bia ở vùng đất huyền thoại Cà Nàng (nơi mỗi vũng nước, mỗi ngọn núi đều mang tên bụng, đùi, ngực, gan, phổi… của người con gái trong một mối tình đẹp nhưng buồn, xin được kể câu chuyện này trong một dịp khác). Tất cả tài liệu của Bộ Văn hoá Thông tin, UBND tỉnh Sơn La đều có liệt kê di tích bia cổ Cà Nàng này. Bia nằm trong diện cần di dời để trả lại đáy hồ “sạch” (khai thác trắng hết rừng, dùng mìn phá hết nhà cửa, trả lại mặt bằng) cho bụng nước chứa hàng tỉ mét khối của thủy điện Sơn La). Tuy nhiên, chưa ai biết đích xác về nội dung của tấm bia. Có người bảo đó là một cột mốc đánh dấu gianh giới giữa 3 huyện Quỳnh Nhai, Sìn Hồ, Tủa Chùa (nay thuộc hai tỉnh Lai Châu và Sơn La) mà ngày xưa rất hay xảy ra tranh chấp lớn; có người bảo, bia khắc một nội dung bí ẩn mà ai đọc rồi cũng không muốn nói rằng mình đã đọc… Chúng tôi đọc được hai chữ “thiên tử” trên bia, rất có thể, đó là tấm bia do một vị vua phong kiến Việt Nam đã dựng trong thời kỳ đường dọc sông Đà còn là “độc đạo” hiểm trở. Cạnh tấm bia (cách độ 2m) là cột mốc 3 cạnh phân định gianh giới 3 huyện của nước ta. Bà con kể cả một kho huyền thoại liên quan đến tấm bia. Gì thì gì, việc bảo vệ và di dời dấu tích quý trong “hành trình của những tấm bia cổ dọc sông Đà” này cũng là hết sức cần thiết.
Văn bia cổ còn rất nhiều, di tích cổ hoang phế cũng rất nhiều. Một mai nước sông Đà dâng lên đem về “vàng trắng” (thủy điện) cho cả nước, hàng trăm bản làng ở khắp 3 tỉnh Tây Bắc sẽ vĩnh viễn mất đi nhiều giá trị văn hoá quý. Những người yêu cái hành trình sông Đà rồi lại sông Đà, dĩ nhiên là vô cùng tiếc nuối nếu một mai sông dữ biến thành hồ lành. Hẳn nhiên, chúng ta cần biết hy sinh vì dòng điện ngày mai của tổ quốc. Chỉ xin, các nhà khoa học, kể cả các văn nghệ sỹ, hãy sớm hiểu sông Đà hơn, hãy lưu giữ những giá trị muôn một của sông Đà lại trước khi tất cả trở thành quá muộn. Nếu không, chúng ta sẽ có tội với các liệt tổ liệt tông, với mai hậu, với chính chúng ta. Bởi sông Đà luôn kỳ vĩ và kỳ bí, luôn sặc sỡ và quyến rũ. Có những giá trị có thể bứng đi trưng bày ở bảo tàng được, nhưng có quá nhiều giá trị, không còn cách nào khác, phải vĩnh viễn chôn vùi trong bụng nước bạc bẽo của chính sông Đà. Sông Đà, dùng chính dòng nước tung bờm từ vạn thuở trên đá dữ của mình để… đào huyệt chôn mình, đó là niềm tiếc nuối của tất cả chúng ta – dẫu vẫn biết rằng, “tất cả vì dòng điện ngày mai của tổ quốc” (như khẩu hiệu trên công trường thủy điện Sơn La).
Xin có lời yêu thương, xin tri ân, xin được nghiêng mình mặc niệm với Đà giang kỳ vĩ và kỳ bí, sặc sỡ và quyến rũ.
Đ.D.H
Làng Lủ, lúc Oh 43 ngày 5/7/2006












