My Opera is closing 3rd of March

Suối Giàng - của Thượng giới đánh rơi

Suối Giàng - của Thượng giới đánh rơi
Bút ký của Đỗ Doãn Hoàng
Câu nói nhặt được của Lù A Vang
Tôi luôn nghĩ rằng, vùng văn hoá Mường Lò, chứ không phải bất cứ toà địa ốc nào ở chốn quá nhiều bê tông của “thành phố miền tây” kia làm nên bản sắc đáng nói của Yên Bái. Lần nào vượt hơn tám chục cây số toàn những đường cua uốn éo - tới mức người ta bảo đó là nguyên nhân để các cô gái Mường Lò thời mới dẫu ngồi xe máy Nhật mà cái eo rẻo vẫn thon chẽn vì liên tục phải nghiêng uốn để vào cua đường xá - kéo từ tỉnh lỵ vào thị xã Nghĩa Lộ của Mường Lò, tôi cũng gặp lại bài tỉnh ca “Anh có vào Nghĩa Lộ với em không”. Phần lời của bà Hoàng Thị Hạnh, giờ là Phó Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái, nhạc của ông Trọng Loan. Bài hát hay tới mức người ta giật mình: không lẽ một bà Phó Chủ tịch tỉnh cũng lại có thể thơ ca hò vè lãng mạn đến thế. Nhưng, từng rong ruổi Mường Lò cùng bà Hạnh, tôi biết, bà viết bài thơ này bằng tâm trạng của một cô gái Tày dạy học môn văn cấp ba đã nhiều năm trên cánh đồng Mường Lò. “Chiều mùa thu nắng vàng như mật/ Khi đã qua Đèo Ách Cửa Nhì/ khi đã từng nghe rừng gió hút/ anh có vào Nghĩa Lộ với em không”. Lời bài hát cứ đong đưa, cứ sàng sê như đêm xoè Thái xã Nghĩa An thế thế. Cứ như lời của một hướng dẫn viên du khảo văn hoá về nguồn vậy. “Kìa nước ngòi Thia lời yêu còn đó/ Xống trụ xôn xao thêm vần thêm điệu/ Nhìn núi Hoàng Liên mây trắng ngang trời.../ Suối Giàng vẫn xanh xanh bầu trời Yên Bái”. Đến Mường Lò là dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ nhất Việt Nam thò bước chân lênh khênh cuối cùng của mình xuống cánh đồng rộng thứ nhì Tây Bắc ấy. Mường Lò là điểm mút của dãy núi dài một trăm tám mươi cây số, rộng ba mươi cây số, có đỉnh Phanxipang cao nhất toàn xứ Đông Dương. Cái ngòi Thia vắt mình qua thị xã miệt rừng Nghĩa Lộ đây rồi. Rêu suối Thia ăn ngon nổi tiếng, cô gái Thái thơ thẩn giữa dòng suối hái... rêu về nấu ăn. Rêu suối mọc tua rua theo dòng nước, rêu suối bám viền quanh những hòn đá tròn như nhắc nhớ về một mối oan tình mà người Thái thích kể. Rằng quan lang đã giết chàng trai chặt đầu ném xuống suối để cướp người yêu của chàng. Cô gái Mường Lò thuỷ chung đã trẫm mình xuống Ngòi Thia (Ngòi Thia sông Đáy suối Lê vơi đầy – thơ Tố Hữu) rồi biến thành rêu đá bám chặt bên sọ chàng (là những hòn đá tròn). Thì huyền sử chỗ nào chả na ná như thế: nhất thiết phải có Tình. Và có mối Oan.

Miên man lần lữa theo bước chân huyền thoại của ông tổ người Thái Lò Lạng Chượng ngược đèo Khau Phạ dẫn cộng đồng đi khai phá miền Tây Bắc. Bước thiên di của ông họ Lò giờ còn hằn trên rêu đá đỉnh Khau Phạ - có kém gì cảnh ông ngựa Thánh Gióng khạc lửa vào muôn kiếp tre đằng ngà, và những bước chân ông để lại cho đầm ao Bắc Bộ trước lúc Về Trời đâu? Bỗng dưng bài hát và kẻ khám phá Mường Lò cùng ngẩng lên nhìn mây giăng từ ngọn núi Hoàng Liên kéo khắp ngang trời. Tầm mắt dừng lại gặp bầu trời Yên Bái, bầu trời Tây Bắc xanh xanh màu của Suối Giàng.
Suối Giàng ở tít trên cao.
Vắt vẻo lưng trời. Một vùng đất riêng giành cho các vị Tiên Phật mà nhà trời đã sơ ý đánh rơi. Suối Giàng cũng như một vị trích tiên, vì đánh vỡ cái chén ngọc hay trót tằng tịu với anh chàng (cô nàng) người trần nào đó mà bị đày xuống hạ giới.
Cái câu ấy bỗng dưng tôi nhặt được từ anh chàng người Mông Lù A Vang, xã đội phó xã Suối Giàng khi anh ta đưa bạn dưới xuôi đi Giàng Cao, Pang Cáng, vòng về Bản Mới. Anh nói tiếng Kinh chậm và ngọng, cứ bi bô dễ thương như trẻ lên ba ấy. Lù A Vang bảo, hồi mình đi lính nghĩa vụ, đã nếm cơm mấy năm ròng đủ khắp Bảo Hà, Bảo Thắng, Sa Pa, rồi lên Lũng Phình của Bắc Hà rồi. Nhưng mà chẳng đâu như được Suối Giàng.
- Mây mù kéo đến thì chẳng còn nhìn được lên tới nóc nhà nhà mình nữa, đứng trên bờ hồ chẳng nhìn thấy mặt nước hồ cạnh nhà uỷ ban nữa. Bây giờ thì nắng quá. Trên đỉnh Suối Giàng, nhìn thấy rõ từng mái nhà xám lợp bằng gỗ pơmu, nhìn thấy từng mảng tường của thị xã Nghĩa Lộ. Nhưng dù mù hay là nắng thì tối đến, nhà nào cũng vẫn phải đắp chăn bông vì lạnh. Có năm, ngủ dậy, mình hắt chén nước ra sân nghe lạch cạch. Hoá ra nước trong chén cũng biến thành... đá, và nước ngoài sân cũng đông thành tuyết. Gió bốn mùa mát lộng. Tôi xem phim Tôn Ngộ Không, cứ bảo: Suối Giàng là suối của Trời (tiếng Mông, Giàng là trời), trên này cũng có vườn đào tiên, cũng có mây chạy tứ tung suốt ngày. Đúng như ở trên Giàng ấy. Chắc trời đánh rơi Suối Giàng này cho bà con dưới trần.
Lù A Vang là người đơn giản. Làm đến... xã đội phó rồi anh vẫn vẹn nguyên là chàng trai Mông ăn theo mây mù (ăn theo: sống cùng, sống dựa vào; trong câu: người xá ăn theo lửa/người Thái ăn theo nước/người Mông ăn theo mây mù). Sáng: ông xã đội phó A Vang cứ chân trần cuốc bộ mấy cây số xuống uỷ ban; sẩm tối: lếch thếch qua mấy con hồ xanh đỉnh núi, qua những nương chè cổ thụ về nhà.
Những mái lợp pơmu ở Bản Mới thật kỳ diệu. Có lẽ nó là thứ “văn hoá vật thể” hay hớm nhất mà người phố thị còn có thể được chiêm ngưỡng ở Suối Giàng. Ông Tráng A Vàng hồ hởi ra đón khách lạ. Toàn những khoe chiến tích nghiện thuốc phiện mấy chục năm, với lại khoe mấy... đời vợ thôi. Ông Vàng cười bằng nụ cười hổng hoác gẫy hết răng của một ông già ngoại bảy mươi. Căn nhà nguyên bản toàn gỗ rừng dựng thô. Ván thưng. Cửa rả, bờ rào, máng lợn, thùng đựng nước tất tật đều làm bằng gỗ pơmu. Rừng chả còn pơmu nữa, rừng sâu còn một ít một ít cây nữa nhưng mà cán bộ không cho chặt đâu. Bản này chẳng còn tấm pơmu nào nữa. Chỉ còn chõ đồ xôi, thùng đựng nước hay là pẻn mụng (mái ngói, ván làm ngói) là bằng pơmu thôi. Truyền hình Hà Nội với lỵ Truyền hình Trung ương người ta vẫn lên đây quay tivi suốt đấy mà. Chắc là quay để chiếu lên tivi thôi, nhưng ta có xem tivi bao giờ đâu mà biết. Hay được quay nhất là cái nhà gỗ to ở dưới chân bản Mới, dưới chỗ hai cái cây rõ to trên bãi đất bằng kia kìa, đấy là nhà gỗ của Sùng A Lý, “nó (A Lý) mới chưa đến 50 tuổi thôi mà; nhà ấy là của ông nó, của bố nó để lại cho nó chớ... ớ”.
Những cây chè cổ thụ sống trong sương mù đất Việt
Giữa xứ sở nhiệt đới ẩm nhiều khi khắc nghiệt đến đáng sợ này, đôi khi trời đất nảy nòi ra cho con người vài vùng khí hậu mát mẻ, sương mù, thảng hoặc có tuyết rơi. Trong thời gian dài sang “khai hoá” An Nam, người Pháp đã tinh tường quy hoạch hầu hết những món quà của tạo hoá ấy để làm nơi nghỉ dưỡng, du hí, hay ít ra là để cho các sỹ quan, binh lính và thân nhân của họ (bấy giờ gọi là gia binh) hít thở không khí trong lành. Nhiều vùng như Tam Đảo, Ba Vì, Sa Pa, Đà Lạt, Bà Nà, Bạch Mã, Mẫu Sơn... đến tận bây giờ người Việt Nam vẫn tiếp tục khai thác du lịch khá thành công. Nhiều dấu tích kiến trúc của người Pháp vẫn còn nguyên – thậm chí như ở Sa Pa, vừa qua, bên cạnh việc tìm cho ra tấm ảnh chụp Sa Pa được xem là cổ nhất (khi thị trấn kỳ diệu này còn nguyên bản nhất nét kiến trúc vốn có của người Pháp xây dựng cách đây hơn 100 năm), nhà chức trách Lào Cai còn kỳ công cho mời công ty kiến trúc từng quy hoạch Sa Pa cách đây 100 năm sang tiếp tục góp ý trong việc xây dựng Sa Pa nay.
Giữa bối cảnh ấy, có nhiều vùng tiên cảnh ở lưng trời Tây Bắc – vì quá xa xôi hiểm trở, hoặc vì trước sức kháng Tây của bà con các dân tộc bản địa nên người Pháp đã hoặc là bỏ quên, hoặc là không dám bén mảng tới. Một trong những nơi đó là Suối Giàng.
Mới đây, đường leo lên đỉnh trời Suối Giàng đã được rải nhựa. Chỉ mười cây số vòng vo dọc các vách đá kỳ thú, các trảng rừng nguyên sinh là từ huyện lỵ Văn Chấn bạn đã có mặt ở trung tâm xã Suối Giàng. Mây bay ngùn ngụt. Cảnh vật càng lên cao càng kỳ thú. Đã từ lâu, tỉnh Yên Bái hạ quyết tâm xây dựng Suối Giàng thành một khu nghỉ mát, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái. Thậm chí, ý tưởng táo bạo đem cả pơmu lên trồng khắp nhiều quả núi nhằm phục hồi dần vựa pơmu quý hiếm của Suối Giàng cũng đã được thực hiện. Qua 10 năm, cây pơmu đã lớn. Tuy còn nhiều tranh cãi về việc có nên trồng pơmu bằng mọi giá ở Suối Giàng không; nhưng ít ra thì điều này đã là bằng chứng cho tấm lòng của một số lãnh đạo tỉnh Yên Bái với Suối Giàng. Hệ thống nhà nghỉ, khách sạn đã từng được “nhắm” vào những vạt đồi bằng phẳng vàng rực lúa nương của người Mông ở lưng chừng đỉnh Suối Trời từ rất lâu. Nhiều cánh rừng nguyên sinh cũng được tính đếm để đánh thức giá trị du lịch của nó. Người ta thậm chí đã bàn tới cả phương án lập một khu nuôi thả động vật bán hoang dã trong thiên nhiên Suối Giàng để phục vụ du khách. Phương án giữ các cánh rừng nguyên sinh với những cây đại thụ pơmu đường kính gốc một mét và hơn một mét nhằm phục vụ du lịch sinh thái cũng đã được dự trù. Hệ thống hồ chứa, máy cung cấp nước cho các điểm cao cũng đã được xúc tiến. Đoàn điều tra quy hoạch của tỉnh hoạt động rất rầm rộ một độ. Nhưng không hiểu sao dự án sau đó bị chững lại. Chúng ta sẽ nói chuyện này vào một dịp khác.
Chân dung và số phận những cây chè cổ thụ ở Suối Giàng là một cái gì đó cuốn hút tôi từ mấy năm nay. Có quá nhiều thông tin vừa là khoa học, vừa là huyền thoại về chè Suối Giàng. Xã có hàng vạn cây chè cổ thụ (hơn 100 tuổi), đất, rừng, và chè ở cái khúc đuôi vòi vọi của dãy núi Hoàng Liên Sơn hùng vĩ này thật lạ. Suối Giàng ở độ cao từ 1500-1800m so với mặt nước biển. Có cây chè đo đếm ra từng sống ở Suối Giàng hơn 300 năm, nó là một trong sáu cây chè thuỷ tổ của “tín ngưỡng” chè trên Thế giới (!). Điều này chỉ là giả thuyết, nó cũng sương khói như thể lời của Lù A Vang cho rằng: Suối Giàng của trời đất đánh rơi ấy. Nhưng, những giả thuyết này được ghi rõ trong nhiều cuốn sách viết về nguuồn gốc cây chè ở Việt Nam. Năm 1933, ông J.J.B.Deuss, chuyên viên Hà Lan, nguyên giám đốc Viện Nghiên cứu chè Buitenzorg ở Java (Indonexia), cố vấn các công ty chè Đông dương thời thuộc Pháp đã lên tận vùng Vị Xuyên, Hà Giang nghiên cứu các vùng chè cổ Tham Vè tại xã Cao Bồ rồi kết luận: chè Việt Nam và chè thế giới đều có nguồn gốc từ Tây Tạng. Giả thuyết này không được các nhà khoa học Việt Nam mặn mà gì (tất nhiên); bởi họ thích giả thuyết, cây chè Việt Nam (cụ thể là Suối Giàng) là cha đẻ của các dòng chè của Vân Nam, Trung Quốc, của Ấn Độ (tất nhiên).
Thuyết đó cho rằng (trích trong sách nghiên cứu về chè ở Việt Nam mà chúng tôi đang có trong tay): vào năm 1976, Djemukhatze, Viện sỹ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô đã nghiên cứu sự tiến hoá của cây chè, bằng cách phân tích chất catesin trong chè sống hoang dại, chè do con người trồng ở các vùng chè khác nhau trên thế giới (gồm chè ở Tứ Xuyên, Vân Nam, Trung Quốc; các vùng chè cổ Suối Giàng, Lạng Sơn, Nghệ An – Việt Nam). Từ các chuyến điền dã công phu, tác giả đi đến kết luận: cây chè cổ Việt Nam tổng hợp các catessin đơn giản hơn nhiều lần khi đem so sánh với chè ở Vân Nam – Trung Quốc(1961). Các chất catessin phức tạp ở cây chè Vân Nam nhiều hơn ỏ cây chè Việt Nam - điều này chứng tỏ, cây chè Vân Nam là một loại hình tiến hoá của cây chè Việt Nam. Từ đó, tác giả đề xuất mô hình tiến hoá của cây chè thế giới như sau: Camelia – chè Việt Nam – Chè Vân Nam lá to – chè Trung Quốc – chè Assam (Ấn Độ).
Và cũng trong cuốn sách kể trên, ở trang 154, các tác giả cũng đưa ra một bằng chứng nữa thể hiện rõ hơn quan điểm này. Trích nguyên văn: “Cách đây hơn 100 năm, vào năm 1882, Lefevre Pontalis đã tiến hành một cuộc khảo sát về sản xuất và buôn bán chè giữa sông Đà và sông Mê Kông ở miền núi phía Bắc Việt Nam từ Hà Nội qua Chợ Bờ (Hoà Bình), Thuận Châu, Mộc Châu, Lai Châu, Mường Tè rồi sang Trung Quốc, đến Xiêng Hùng và Ipang, vùng Xíp-xoong-pản-nả. Ông viết: “12 ngày vận chuyển trên lưng lừa từ Ipang đến Lai Châu, và 5 ngày từ Lai Châu đến Hà Nội bằng thuyền độc mộc”, đó là con đường từ Ipang (Trung Quốc) sang Hà Nội (Việt Nam)”. Các tác giả viết tiếp “hàng ngày tôi đã gặp những đoàn ngựa thồ lớn 100-200 con lừa, chất đầy muối và gạo khi đi và nặng trĩu những chè khi về. Ipang nổi tiếng do chất lượng đạt mức “vua chè”. Hàng năm, vào thời gian những trận mưa đầu mùa, người ta hái cho Hoàng Đế một đợt chè gồm toàn những búp non và nhỏ nhất. Loại chè cao cấp này không bán ngoài thị trường... ai cũng cố giữ lại cho mình một phần nhỏ, mặc dù có nguy cơ bị tố cáo hay trừng trị nặng nề. Tôi đã trông thấy một nắm chè loại này trong tay một người Trung Quốc... Loại chè màu trắng ngà này, bao gồm những cánh chè rất nhỏ và rất xoăn”. “Vùng đất đai của Đèo Văn Trì (Lai Châu - Đèo Văn Trì là bố của Đèo Văn Long – người thường được gọi là “vua Thái”)... có thể gọi là hàng xóm láng giềng gần gũi của Ipang”.
Cùng với quan điểm kể trên, mới đây, trên Báo Thanh Niên có trích dẫn chữ trong một cuốn Trà Điển (từ điển về trà) viết “vào năm 760 (chắc là sau CN) trong đó có nói rằng từ khoảng 2700 năm trước CN, ở Trung Quốc đã tìm ra cây chè làm thuốc giải độc cứu người, nhưng ông Onishi lại tin rằng cây chè ấy ở vùng Suối Giàng Việt Nam từ trước đó rồi mới lan sang Trung Quốc”. Ông Hideo Onishi là chuyên gia kỹ thuật làm chè Nhật Bản từng dày công nghiên cứu cây chè Việt Nam qua các vùng Yên Bái, Hà Giang, cao nguyên Mộc Châu. Ông Onishi là người đã từng hạ quyết tâm: “Phần còn lại của đời tôi, tôi sẽ giành cho cây chè Việt Nam. Tôi sẽ tiếp thị chè Việt Nam tại Nhật Bản” (cũng theo Báo Thanh Niên).
Điều này có vẻ như có lý hơn, khi mà chúng tôi vẫn gặp nhiều bà con ở một số vùng chè shan tuyết cổ thụ ở Việt Nam thường uống nước chè để tránh nhiều bệnh đường ruột và bệnh ngoài da. Thậm chí, chỉ cần dùng lá chè cổ thụ sát vào da thịt người, bao nhiêu bệnh ngứa mẩn sẽ khỏi tiệt.
Chè tuyết cổ thụ ở Suối Giàng
Tôi sinh ra ở vùng chè bán sơn địa của Ba Vì, Hà Tây. Mười mấy năm tuổi đời niên thiếu, tôi sống giữa bạt ngàn nương chè. Và suốt chục năm trời đốn chè, phun thuốc sâu, hái chè, vò đạp nhựa chè, sao đảo chè, đánh mốc chè (xao lại cho chè dậy hương như khi mới chế biến trước khi trao đến tay người uống). Tôi từng viết, “đời bà tôi là dấu cộng của những vụ chè quay quắt. Bà hái xong nương chè mênh mông phía bản người Dao, thì cũng là lúc quả đồi rợn ngợp chè ở phía bản người Mường đã lên xanh. Bà hái vòng trở lại phía bản người Mường. Rồi lại vòng phía bản người Dao...”. Cây chè quê tôi không bao giờ cao quá thắt lưng đứa trẻ lên 10. Tay cầm dao, tay cầm thớt, sau mỗi mùa chè chính vụ, nương chè được đốn bằng, mượt như gợn cỏ trên thảo nguyên. Như mặt biển lặng sóng.
Thế nên, giờ đây, đứng trước những thân chè vòng gốc to cả người ôm chưa xuể, những búp chè to như ngọn rau muống ở tít tịt trên cao đến nỗi người Suối Giàng phải huấn luyện khỉ leo cây hái chè giúp – trong miền ký ức miên man đồi chè bán sơn địa xứ Đoài, tôi thật sự ngỡ ngàng, thú vị.
Đi ở miền chè shan tuyết cổ thụ Suối Giàng, lần nào tôi cũng có cảm giác mình đang đến một thế giới khác. Không chỉ vì sương mù, vì cái góc cao chỏm choè có thể phóng tầm mắt ra sông ngòi, nhà cửa, và cả cái thị xã miền rừng Nghĩa Lộ ấy. Mà là vì chè cổ thụ. Những cây chè to như cây chè được coi là một trong 6 cây chè thuỷ tổ của thế giới thật ra không phải nhiều lắm (mà sách báo viết thế, chứ tôi một lần nữa không tin cây chè thuỷ tổ lại có thể... còn sống!). Đi vào rừng chè ở Suối Giàng, thấy khó có cây nào ở rừng rú lại có thứ lá xanh ngằn ngặt, xanh đầy đặn, xanh đen thẫm như lá chè cổ thụ Suối Giàng. Lá chè to, dài, và khó có thể xanh hơn được nữa. Búp chè to kềnh như ngọn rau muống (tôi vẫn dùng lại sự ví von đã ví ở đoạn trên). Nhiều búp chè ở gần thân cây to như ngọn một đọt măng với những lá nách vạm vỡ. Rừng chè nhấp nhô. Chè xoè tán mọc càng dày hơn ven các hồ nước. Thân chè xám hoa trông vững và đẹp. Nhiều thân chè to, rêu xanh phủ kín gốc như một bảo tàng của rừng thường xanh có ủ trong sương mù. Có điều thú vị là ở tít trên đỉnh trời Suối Giàng này mà có nhiều cái hồ nước xanh trong như thế. Nước chảy chỗ trũng – cái câu không đúng với đỉnh núi mây mù của chè shan tuyết Suối Giàng. Lại nữa, khi gọi chè Suối Giàng tức là người ta đang nhắc tới một thương hiệu (dù chưa chính thức xây dựng) thì đúng hơn; bởi chè cổ thụ shan tuyết không chỉ ở xã Suối Giàng; mà nó trải rộng mênh mông hàng vạn gốc sang tận Suối Bu, ngược Sùng Đô, đến rẻo cao ngút mắt mịt mù như Tả Si Láng, Làng Nhì (những xã của huyện tiếp giáp, huyện Trạm Tấu).
Có cây chè vòng gốc hai người trưởng thành tầm thước dang tay ôm mới kín. Tán cây lu loe, ngợp cả một vùng rộng. Cùng một lúc cây chè ưỡn ngực đón tới 10 người phụ nữ Mông leo lên trèo hái vô tư. Người ta trèo lên, các tán chè rung lùng bùng, nhập nhềnh. Nhiều cành chè vươn xa quá, mà búp thì to như ngọn rau muống lớn, chị em đành phải dùng dao đi rừng phạt cả cành chè xuống rồi... vặt búp. Đống củi khổng lồ là các cành chè sau một mùa thu hoạch từng khiến nhiều cán bộ kiểm lâm đi qua ngỡ bà con người Mông lại du canh du cư phá rừng làm rẫy (!). Xã Suối Giàng, với hơn 2000 dân, tới 99% bà con là người Mông, cho nên phương pháp làm chè truyền thống là một bí quyết thú vị. Và đó cũng là điều cốt tử tạo nên chất lượng huyền thoại trong nhiều năm của chè Suối Giàng. Cây chè cổ thụ giờ tập trung nhiều ở các bản Tập Lăng 1, Tập Lăng 2, Giàng Cao, khu vực gần đỉnh Chông Páo Mùa, đỉnh núi cao nhất của Suối Giàng. Từ Chông Páo Mùa, ngày quang mây có thể nhìn thấy trại giam Hồng Ca, TP Yên Bái (cách đó mấy chục cây số). Nhớ mãi những ngày phó công an xã Suối Giàng Sảng A Rua (SN 1974) đưa tôi đi khám phá Suối Giàng. Lên đây mới hiểu tại sao người ta đã tổng kết người Mông thích đỉnh cao, người Mông nhìn đời vời vợi như con đại bàng núi. Sảng A Rua bảo, buồn quá, cây chè nổi tiếng nhất Suối Giàng ở nhà Sùng Tùng Say dưới bản Pang Cáng đã bị chết mất rồi. “Anh Say (hơn 40 tuổi) anh ấy bổ làm củi mất rồi. Thì tự nhiên nó khắc khô, nó (cây chè được xem là lớn nhất) khắc chết chứ có ai muốn thế đâu”. Suối Giàng có sóng điện thoại di động, nơi này cao quá, tôi gọi điện cho Chủ tịch UBND xã Giàng A Đằng. Anh Đằng đang họp Hội đồng nhân dân ngoài tỉnh, nói chuyện với nhà báo toà tiếng kinh, chả lẫn câu tiếng Mông nào. Chẳng bù cho năm trước. Thôi, thế cũng tạm coi thế là mừng rồi. “Chè ở đây nó ngon là vì nó có sương mù. Chè ngậm sương mù thành tuyết, nên mới gọi là chè tuyết. Nhìn cái búp chè sau chế biến vẫn còn một lớp lông tơ trắng mỏng mảnh thì khắc biết. Chè bám tuyết. Tuyết vậy, nhưng khi pha lên nước chè nó lại trong trong, chứ nó không bám vào chén vàng khè như chè khác. Lạ lắm. Đêm ở Suối Giàng, nằm đắp chăn giữa mùa hè thì anh khắc thấy tại sao cây lá rừng chè Suối Giàng lúc nào cũng được tưới tắm bởi sương mù. Chè Suối Giàng là món quà của trời đất đánh rơi”.
Chính xác ở Suối Giàng có bao nhiêu câu chè shan tuyết cổ thụ? Ngày trước, vào cuối những năm 1960, đoàn cán bộ của Viện Nghiên cứu chè đã nhiều lần lên Suối Giàng “điểm danh” quân số các cây chè tuyết cổ thụ. Vào rừng chẳng biết lối ra/thấy cây núc nác tưởng là vàng tâm. Đó là nỗi lo của tất cả những người vào rừng. Biết rừng chứ làm sao biết hết được từng cây. Làm thế nào để đếm được số cây chè cổ thụ trong những cánh rừng kia? Đếm làm sao không bị vòng vèo, vừa bỏ sót cây, lại có khi cây đã đếm rồi vẫn đếm lần thứ nữa? Các cán bộ đang vò đầu bứt tai thì một bác người Mông đi qua hiến kế: “Nhà tao vừa cưới con gái. Cứ để cái lạt tre ở trên bàn, mâm nào ai thích ngồi thì tự bẻ một khấc vào que đóm. Ai cũng làm thế. Tao sờ cái đóm là biết có 5 hay 7 người để xếp mâm, để múc măng và xúc cá thịt lên cho người ta ăn. Sao cán bộ mày không cầm bó lạt buộc mà đi đếm chè?”. Ai nấy giật mình. Và lịch sử ngành chè Việt Nam đã ghi công anh chàng người Mông đó. Họ dùng lạt tre rẻo màu trắng cùng nhau cả đoàn vào rừng. Trong tay mỗi người cầm 100 cái lạt. Họ đi tìm những cây chè cổ thụ đủ lớn (theo tiêu chí đếm chè) nào là lập tức rút chiếc lạt trong túi mình ra buộc vòng quanh gốc. Lúc về, rừng chè ấy đã được buộc hết, thế là sáng nay 1 cán bộ đã đếm được 100 cây chè shan tuyết cổ thụ. Ai đi qua, thấy các gốc chè đã được buộc lạt thì cầm lạt đi mà tìm cây chè cổ thụ khác. Không sợ đếm lại, đếm nhầm. Cũng không phải vừa leo núi bở hơi tai vừa lẩm bẩm như hầu đồng: 90, 91, 100...
Kết quả, cả bà con, cả đoàn cán bộ của Bộ NN&PTNT cùng vui mừng thống kê: di sản chè shan tuyết cổ thụ Suối Giàng cả thảy 8 thôn có tới 84.000 cây chè cổ. Chưa kể lượng chè mới trồng thêm, hơn tám vạn cây chè, mỗi năm đã cho thu hoạch với sản lượng khoảng 300 tấn chè búp tươi/năm; bỏ rẻ thời giá hiện nay là: 5.000 đồng/kg chè búp tươi. Nếu đây là một phép tính khoa học, thì ít nhất mỗi năm, chè shan tuyết cổ thụ đem lại nguồn lợi cho Suối Giàng là 15 tỷ đồng. Số tiền khổng lồ so với một xã vùng rẻo cao chon von với 99% đồng bào là người Mông như thế.
Bên cạnh những gốc chè mọc tự nhiên trong rừng già từ lâu lắm lâu lắm. Quả chè rụng xuống, tự nó nảy mầm và lớn lên. Nhưng, theo bà con, rất nhiều diện tích chè cổ thụ hiện nay đã được đồng bào dân tộc Mông trồng. Họ trồng chè shan tuyết như trồng cây thuốc, như một thứ tín ngưỡng đối với loại nước uống mà cho ông họ vẫn uống (chứ họ không hề biết ở thế giới cũng uống trà và có các Hiệp hội chè như chúng ta đã biết). Trong rừng rậm rạp, bà con cuốc hố, thả từng nắm hạt chè màu xám đen như hạt dẻ Trùng Khánh đó xuống rồi bỏ vẳng nó với rừng già. Họ quên đi là mình đã từng trồng chè. Hạt chè lớn lên với những búp to phủ lông tuyết trắng. Bà con đến hái, và cũng quên luôn cả công việc chăm sóc, bón tỉa. Họ cứ hái, cứ chặt cành – coi như đang đi kiếm đặc sản của rừng già. Chính điều đó đã góp phần tạo nên giá trị của chè đặc sản, chè tự nhiên, chè sạch Suối Giàng. Cây chè to như cây sở, lá dày, đanh, màu sẫm. Cây chè mọc thưa, nhưng đôi khi nó vẫn đủ lớn để mọc giao cành giao lá với nhau tạo nê những tán rợp khổng lồ. Người Mông ở Suối Giàng có truyền thống tạo tán chè shan tuyết cực kỳ nguyên thuỷ: khi cây chè đủ lớn, gốc chè sần sùi u mấu, người ta chọn các khe – hoặc thậm chí tách thân chè ra – rồi nhét vào đó một... tảng đá vôi lớn. Thân chè bị bửa dần ra vô số cánh nhánh. Có khi khối đá khổng lồ cứ án ngữ giữa thân chè đến suốt đời – từ đó hàng vài chục cành nhánh của chè được toả ra như vô số những vòi tua bạch tuộc, những bàn tay gầy guộc vươn ra tứ phương tám hướng. Điều này giải thích tại sao chè shan tuyết cổ ở Suối Giàng luôn rợp tán như cái ô cái lọng, từ đó, số lượng búp chè sẽ nảy ra nhiều hơn gấp bội. Tán chè toả rộng xùm xoà (thậm chí) trong vòng bán kính cả 10m. Rất ấn tượng; rất năng suất và... dễ hái. Trông xa, tán chè cổ thụ ấy giống như một đồi chè trung du nho nhỏ, tán lồi mâm xôi, giữa thắt cổ bồng xinh xắn. Cách đây chưa lâu, một cây chè Suối Giàng có tán rộng và có tuổi cao đã được giữ lại làm giống (nay cây ấy đã chết): người ta thống nhất không đốn một nhành nào củ nó, mỗi năm chỉ hái 4 đợt búp, mỗi đợt được 80kg búp tươi!; mỗi năm, nó ra quả trĩu trịt, trông xa lúc lỉu như một... vườn cà phê, riêng số hạt mẩy chắc làm giống được đã được vài tạ (!). Bây giờ, có lẽ ít ai còn giữ được cái cảm giác được uống chè đặc sản mang tên Hương Suối Giàng, bên ngoài bao bì của đặc sản này có in hình một cây chè cổ thụ (khá thịnh hành trong thời gian cách đây... hàng chục năm). Chén trà giót ra, thấy nước chỉ phơn phớt vàng, nhấp một ngụm người tinh ý có thể nhận thấy đủ các mùi vị: chan chát, ngòn ngọt, ngầy ngầy, chát man mác; và có vị gì lưu luyến mãi nơi đầu lưỡi, cả trong đáy họng. Có người bảo, đến lúc “trà đậm hương nồng nước thứ hai” thì thấy nước chè vàng sậm hơn. Và, ai đó đã thấy ở khúc thưởng trà này mùi vị ngòn ngọt của mật ong rừng. Sự phối vị đến huyền diệu. Mấy chuyên gia ngoại quốc đầu tiên lên Suối Giàng, chỉ nhìn gốc chè, nhấp thử hai ngụm, họ đã ôm gốc chè nhảy nhót hò hú ầm ĩ một góc rừng. Họ đang vui niềm vui của nhà địa chất đi tìm thấy được mỏ kim cương. “Họ (những chuyên gia ngoại quốc) bắt tay từng người ở Suối Giàng mà họ gặp, miệng họ luôn miệng nói cảm ơn, cảm ơn” – một cán bộ xưởng chè Suối Giàng, người Thái Bình đã kể lại câu chuyện này với nhà văn Ngô Ngọc Bội – in trên Báo Văn nghệ số ra vào khoảng năm 1969! Chè nào uống nhiều cũng cồn ruột, nhưng chè Suối Giàng vị đậm rất dễ say. Nhiều người thưởng vài chén mắt trâu đã thấy người hưng phấn lạ kỳ, rồi đầu ong ong, hai lỗ tai nổi trống lùng bùng, người thấy nôn nao...
Khắp hầu hết các địa phương, chè là loài cây mọc như cỏ rả trong vườn. Nay đẵn chè đi, mai ươm hạt chè mới, trồng cây mới. Chè mọc trong mỗi vườn nhà như cây sắn dây khoai. Riêng cây chè tuyết cổ thụ, vì sống lâu rồi nên nó cũng có số phận như con trâu con bò, như con người ta vậy. Tại Suối Giàng, cây chè từng sống những bị lãng quên; rồi người Pháp thấy lạ đặt mua uống chơi. Rồi Nhà nước Việt Nam có điều kiện để ý đến. Đường được làm, chè được hái chuyển về xuôi. Rồi những ngày Hợp tác xã khá rôm rả. Nhà nước phát gạo,muối, cá khô cho từng nhà nấu ăn, rồi họ đi hái chè (chè ở đây không phải phun thuốc sâu, không phải đốn tỉa gì như ở dưới xuôi), chè đem về nộp cho hợp tác. Ai tuồn bán chè ra ngoài cho tư thương “buôn gian bán lậu” là bị xử lý. Cây chè lúc ấy là do chính quyền địa phương đứng ra quản lý. Rồi đến những ngày đếm gốc chè chia về cho từng hộ dân giao khoán. Lại những ngày chè có bao nhiêu cái nhà máy mọc từ lâu đời “đón lõng” để cho ra đời đặc sản chè shan tuyết cổ thụ. Nhà máy ấy hoạt động ngay ở cổng Uỷ ban xã hiện nay. Xí nghiệp chè ấy giờ vẫn còn, vẫn hoạt động. Nhưng, chè đặc sản bám tuyết phấn trắng đâu có nhiều. Mà “đò đầy thì đò phải sang sông”, năm có vài vụ chè, đến lứa là phải hái chứ. Lúc nhà này hái thì nhà kia chưa hái và ngược lại. Xí nghiệp chè cứ phải bòn dần, cứ gộp dần để đủ một mẻ chế biến rồi mới dám nổi lửa. Rất cò con và tội nghiệp. Nhưng thế mới là đặc sản, thế mới là thái độ nâng niu, chắt chiu của trời đất đánh rơi. Của tuyết núi và sương mù ban tặng. Hiềm một nỗi, rồi sau đó lại đến ngày xí nghiệp làm ra toàn sặc sản ấy bị công kích kịch liệt: bởi họ làm chè bằng than củi. Càng đốt chè nhiều thì càng tiếp tay cho phá rừng ở Suối Giàng nhiều “chứ có được cái gì”. Bởi đơn giản là chẳng ai rồ dại tới mức ngược gần hai nghìn mét cao từ đỉnh núi Suối Trời xuống thị xã Nghĩa Lộ để mua gỗ “chở củi về rừng” để sao chè cả. Đến lúc chè hạ giá, người giữ Mông chỉ muốn hạ những gốc chè cổ thụ về làm củi sưởi trong mù tuyết rải trắng những mái nhà pơmu. Bởi hái chè rồi, bán cũng chẳng ai mua. Rừng chè bị bỏ hoang. Cơn bĩ cực qua, đến lúc người sành uống đổ xô đi tìm chè shan tuyết Suối Giàng, cân chè ở Hà Nội bán được dăm bảy trăm nghìn đồng (bằng cả chỉ vàng); thì vựa chè đặc sản này lại rơi vào bi kịch tiếp nữa: chè bị đánh mất “thương hiệu”. Tức là người ta đem nước sông đổ lẫn nước đồng, người ta đem vàng thau bới lộn cả lên. Bà con sống trong rừng, hái chè ra cửa rừng bán cho ai đó. Người ta giả tiền rồi người ta đem về trộn tùm lum các loại chè nguồn gốc đâu đâu; rồi chế biến với công nghệ của người ta, rồi bán. Bảo đó là chè Suối Giàng. Cái lối ăn xổi ở thì, cái lối “ăn” hôm nay chẳng biết đến ngày mai ấy dù chóng dù trầy cũng bị ẩm khách phát hiện. Chè Suối Giàng chưa kịp xây dựng thương hiệu thì đã bị mất uy tín trên thương trường. Trong khi bà con ở vùng chè Tân Cương, Thái Nguyên đem những kẻ mắt không nhìn qua được chóp mũi mình kia ra kiện vì dám làm hoen ố chữ Tín của chè Thái trên thương trường; thì bà con người Mông ở Suối Giàng hầu như chả biết tới sự đánh tráo bạc bẽo của những “con buôn” chè cháo đã âm ỉ hại mình. Họ cứ sống trong mây mù, sống dưới những gốc chè xanh rì rêu núi; cứ năm ba vụ hái chè rồi đem bán búp tươi lấy mấy đồng tiền mọn. Họ ra cửa rừng rồi lại vào sống với rừng. Họ không ra khỏi đỉnh núi mù sương kiêu hãnh của mình. Đám con buôn tự tung tự tác một hồi rồi cũng chính chúng cũng nhận ra cái “thót hậu” của lối làm ăn chao chát đó.
Cũng là lao đao một dạo.
Vậy nhưng, chè Suối Giàng cũng mang nhiều vinh dự lắm. Khi mà lãnh đạo Yên Bái và Bộ NNPTNT biết tính đến thương hiệu hạt gạo Mường Lò, thì chẳng có cớ gì họ không quan tâm tới cây chè Suối Giàng “độc nhất vô nhị” cửa nước nhà. Nếp Tú Lệ, tẻ Mường Lò – khi mà gạo Mường Lò đang tiến tới lập thương hiệu “Cô gái Mường Lò” thì cũng là lúc tăm tiếng chè Suối Giàng được cả nước quan tâm lo lắng. Người ta bắt đầu bàn thảo về thực trạng “Thương hiệu Chè Suối Giàng: chưa xây đã mất” (tên một bài viết do TTXVN phát hành). Mà tiếc cũng phải. Chè Suối Giàng đúng là danh bất hư truyền. Câu chuyện về những búp chè tươi to như búp đa phủ một lớp lông to nõn; khi chế biến rồi, búp chè vẫn câu móc, to ngẫy; thân búp chè sau chế biến vẫn phủ một lớp tuyết trắng đục, óng ánh, thơm ngào ngạt thì nhiều người đã biết. Nhưng đúng là ít người có cơ hội được thưởng thức thứ của san hào đó. Bởi (xin nhắc lại), có một thời kỳ dài, đường xá quá hiểm trở, chè Suối Giàng ít có cơ hội về xuôi. Lại thêm những ngày chè mất giá, bà con không bán được đành bỏ rừng chè hoang hoá. Cây chè xanh um, càng tốt tươi thì búp chè càng lười nảy. Nhiều người tâm huyết với chè Suối Giàng đi dọc rừng chè mà ruột buốt như dùi đâm. Con bò, con dê đi loanh quanh trong rừng chè; ngóc cổ nhìn cây chè vươn cao nhưng cũng chẳng có cách nào vặt được lá chè xuống ăn. Những người Mông suốt đời sống dựa vào cây chè hết kế sinh nhai, cũng chẳng thạo trồng lúa nương nốt, bà con bảo nhau sang mỏ vàng tít bên Văn Yên đào đãi rồi vàng đâu chẳng thấy, chỉ thấy vàng mắt vàng da khổ sở. Lại thêm nạn di dân tự do tàn phá cả những triền rừng huyền thoại của Suối Giàng xanh. Một chuyên gia về chè của Liên Xô từng tôn vinh chè Suối Giàng như sau: “Chè Suối Giàng có đầy đủ hương vị của các loại trà ngon trên thế giới”. Và, họ cũng ngạc nhiên với lối chăm sóc và chế biến chè hoàn toàn thô mộc của người Suối Giàng. Có khi đàn khỉ nhỏ chí choé leo cây hái chè, chè tươi được khỉ ném vào quẩy tấu rồi ngay lập tức được rinh lên lưng ngựa thồ về bếp chảo của người Mông chế biến trong sương mù đỉnh núi. Vào mùa chế biến chè, Suối Giàng thơm ngào ngạt, mùi chè lá chè búp bị chín ngẫu mềm bởi sức nóng của chảo gang, củi lửa gỗ rừng. Nhựa chè thơm chan chát, quyến rũ đến mức đi trong hương mùa vụ của chè, người ta đã có cảm giác đáy họng mình cũng có vị chan chát, ngầy ngậy. Đúng là một thứ chè rất được nước, rất nịnh hương, uống xong rồi dư âm của thứ hương rừng sắc núi ấy vẫn cứ lưu mãi nơi đầu lưỡi. Chè Suối Giàng xịn bán tại Thủ đô lên tới tiền triệu/kg. Ngồi trong phòng điều hoà tránh bụi bặm phố phường mà người thưởng thức cầm cái chén sứ nung thật già lửa như vẫn thấy được khói bếp của căn nhà gỗ lợp pơmu, thấy được sương mù âm u phủ từ đỉnh Chông Páo Mùa của Suối Giàng kéo về với phố xá. Sương khói mịêt rừng về phố cùng với những búp chè câu móc phủ một lớp lông tuyết mỏng tang ấy. Bạn tôi khi ấy lại hít một bầu ngực đầy khói sương chén trà shan tuyết Suối Giàng, vị chát ngọt của chén chà như khêu máu lãng du về những chân trời núi tiếp núi trong anh. Đầu còn xanh mượt mà anh ta đã mê những miền chè cổ vùng cao phía Bắc Việt Nam như điếu đổ, như là một người xế bóng tóc nhuộn khói sương già. Bạn tôi sắm sanh khay chén như cụ non, hắn mở cả một hiên trà với những buổi thuyết trình về trà cứ nghiêng ngả ẩm khách Hà thành. Trước mỗi buổi thuyết trình, hắn comple, thắt cà vạt ngồi trước máy vi tính xách tay, “meo” thông điệp của mình tới tất cả những tờ báo có trang văn hoá. Hắn nhiệt tình với công việc của trà đến mức có người bảo hắn đang kỳ công thuyết trình để kinh doanh trà móc câu tại hiên trà Trường Xuân của mình. Nhưng, đó chỉ là lời đồn đại của những kẻ nông cạn. Bạn tôi không chỉ đi Hải Dương, Bát Tràng sắm đồ nghề pha pha giót giót, hắn còn rắp tâm sang tận Hàn Quốc mua được bộ đò trà độc ẩm. Hắn gõ vào cái đầu ngưu ẩm của tôi mà rằng: “Kiếm được trà shan tuyết Suối Giàng uống đã là tuyệt cú mèo. Nhưng anh nào lười vặn vòi nước máy toàn mùi cờ-lo (cl) ở Hà Nội là coi như hỏng hết cả cơm rượu. Một là dùng nước đá ong vùng trung du, hai là dùng nước mang từ Tập Lăng, Giàng Cao của Suối Giàng xuống đây thưởng trà, thế mới là hảo hạng”. Hắn nói rồi vỗ đùn đen đét, tôi trông mà lại chớt nhả: trông mày mới đúng dáng của cái thằng ngưu ẩm (uống chè như trâu uống nước) – chứ cây chè shan tuyết cao vòi vọi thế, trâu ngựa nào vít xuống mà ăn được để làm món trảm mã (hay trảm ngưu) trà cho nó uống? Tuy nhiên, thì buổi nhiều người sành sỏi như hiện nay, cái việc cõng nước, cõng ấm, cõng trà từ những xứ sở xa xôi về để thưởng, tưởng cũng là một việc tốt đẹp. Và có văn hoá. Đó là cơ hội toả hương sắc cho Suối Giàng chứ sao. Cũng như năm trước 2003, có cái cô chủ khách sạn Tuyết Chinh ngoài thị xã Nghĩa Lộ đã táo bạo mang 10 đấu gạo nếp Tú Lệ (nếp ngon đệ nhất nước ta, trồng ở cánh đồng Bản Phạ, xã Tú Lệ, cùng huyện Văn Chấn, cách xã Suối Giàng của chè shan tuyết 60km); gạo cùng với 60 gáo nước của chính Tú Lệ được đem về thẳng Hà Nội dự liên hoan ẩm thực mọi miền (tổ chức tại Công viên nước Hồ Tây). Chị Tuyết cõng thêm dăm bảy bó lá rừng, gạo nếp và nước Bản Phạ nấu lên; vò lá rừng ra, mỗi thứ lá lẩu tạo ra một màu sắc nguyên thủy thiên nhiên của đĩa xôi ngũ sắc. Xôi ngũ sắc, món ăn tuyệt kỹ truyền thống của người Thái qua tay người cõng lá rừng, nước rừng, gạo rừng Bản Phạ ấy đã đoạt ngay huy chương vàng danh giá. Tôi nghĩ, nếu có anh nào ngẫu hứng như thế với chè Suối Giàng, cũng nội trong cái liên hoan ẩm thực đó thì nhất định giành cái huy chương vàng nữa về khoản “ẩm” (còn “thực” thì để xôi ngũ sắc Tú Lệ chiếm nốt).
Tôi nhớ mãi cảnh anh Vàng A Sênh chỉ ngược lên ngọn núi Chông Páo Mùa tự tin: từ Mường Lò nhìn lên, núi Chông Páo Mùa vòi vọi. Theo tiếng Mông, nó là viên ngọc của dòng họ Mùa. Hòn ngọc quý với những thân chè cổ thụ, rêu bám xanh kín vòng quanh gốc, với rừng nguyên sinh Tập Lăng nhiều gốc pơmu cổ thụ mấy trăm năm tuổi. Nhiều gia đình người Mông thu mấy chục triệu một năm chỉ nhờ mỗi một việc là leo lên cây chè vặt búp cõng ra phân xưởng chè bán thẳng cẳng! Có ngày, riêng bà con ở xã đã “xuất” tới 10 tấn chè búp tươi, thế thì gì mà chẳng giàu lên. Người ta dùng bếp ga để sao chè, sướng quá. A Sênh cũng cưỡi xe máy để đi xuống chợ. Buổi sáng ra, sương chưa tan hết, A Sênh cưỡi xe Win đi chợ thị xã Nghĩa Lộ đánh vèo hơn nửa tiếng đồng hồ đã vượt qua được ngòi Thia. Lúc ấy, sương vẫn ngậm mặt trời, vợ A Sênh phóng tầm mắt xuống thị xã, vẫn chưa kịp nhìn thấy ngòi Thia êm chảy. Thì A Sênh đã phành phạch nổ xe máy về đến cổng nhà rồi. Xã có tới hàng trăm hécta chè tập trung mới trồng. Cũng là cái giống chè biết ủ sương mù mà vươn mình lớn dậy ấy.
“Thời mới có khác” – A Sênh bảo. Trước, khi cán bộ mấy chục người cầm lạt vào rừng cả tháng trời để đếm các gốc chè to, bấy giờ toàn đi bộ. Bắt đầu từ chân núi dưới huyện lỵ Văn Chấn, chỗ nào cũng đi bộ. Xưa, xưa lắc lơ, Văn Chấn thuộc khu tự trị Thái – Mèo (cũ) cơ mà. Đó là vào đầu những năm 1960, hơn chục cây số từ huyện lị thôi sao mà độ ấy Suối Giàng mông muội xa xôi như vì sao trên trời. Người dưới chân núi, mỗi đêm trời quang trông lên trời thấy ánh đèn le lói lại bảo nhau, người Mông của dãy Chông Páo Mùa sống ở trên đó đấy. Xa lắm, một thế giới diệu vợi khác ở trên đó. Mãi đến năm 1968, nhà nước đã cho khai sơn phá thạch mở đường ngược núi lên Suối Giàng. Đường khảm trên đá hộc, nhưng dẫu sao cũng vẫn là đường, có đường vẫn hơn là không. Người Suối Giàng bấy giờ nguyên sơ, bố con lên rừng nổ súng kíp đì đoàng bắn thú về ăn. Bố con hè nhau vác cây xà beng bự ra kỳ cạch buộc da trâu vòng quanh một mũi dùi rồi cứ kỳ quạch ngày qua ngày khoan lỗ sâu mấy chục xăng-ti-mét dọc thân xà beng để làm nòng súng. Cả bản bảo nhau đẵn cây pơmu dầu to nhất về dùng nêm tách ra làm ngói (nhất thiết phải tách theo thớ tự nhiên của gỗ thì nước mưa mới không thấm qua gỗ được), chỗ thừa vun cả lại chia cho bà con chẻ ra để xó nhà làm đóm nhóm lửa. Pơmu dầu cháy rất đượm. Ngói pơmu lợp lên mái nhà, khói, sương có thể uốn éo luồn qua, luồn vào rất thơ mộng. Nắng thì ngói gỗ cong vênh lên, kẽ mái hở ra toang hoác cho ánh mặt trời xuyên mây vào trong nhà. Nhưng hễ trời ỉu, mưa bắt đầu rơi, ngói gỗ lại tự động cụp xuống, bảo đảm căn nhà hơn trăm mét vuông lòng nền không bị giột một hạt nước bao giờ. Cả xã, hễ có ai nằm xuống bên cỗ quan tài pơmu là súng kíp được nhồi đạn ghém nổ giòn. Ngay từ thời bấy giờ, số phận cây chè shan ở Suối Giàng đã được người Pháp quan tâm. Bố đẻ của Giàng A Đằng - đương kim chủ tịch UBND xã Suối Giàng hiện nay, cụ Giàng Nhà Lử còn được chứng kiến cảnh bà cụ đẻ ra mình đem chè móc câu xuống núi bán cho người Pháp. Chè được xao bằng chảo gang gia truyền. Bà cụ cho nổi lửa liu riu rồi vuốt tay dọc đáy chảo để dùng thịt da mình nghe độ nóng của chảo. Bà xoa tay vào đám chè lơ phơ trong chảo gang mà biết rõ lửa già lửa non, biết rõ chè sẽ ra hương vị gì khi đem bán. Biết rõ sương mù ngậm tán chè như mùa này thì giá chè sẽ bán được là bao nhiêu. Người Pháp đô hộ bấy giờ người ta cũng lịch sự lắm, chứ không như bọn diều hâu mua tranh bán cướp sau này. Họ trân trọng chè Suối Giàng mình còn hơn cả người mình ấy - ông cụ Lử thở dài.
Cái thời hoang sơ ấy dần qua. Có lẽ, ông Vũ Sửu, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái là người nặng lòng nhất với khát vọng làm du lịch văn hoá, sinh thái ở Suối Giàng. Cái dự án táo bạo tới mức trồng cả pơmu ở Suối Giàng ấy có giá trị lên tới 150 tỷ. Ngành văn hoá Yên Bái đã và đang điền dã tập hợp tư liệu phục dựng lại lễ hội đua ngựa đẫm đầy tinh thần thượng võ của người Suối Giàng – mừng quá. Nhiều chuyên gia, nhiều cán bộ các cấp ngành đã lên tận Suối Giàng sống, nghiên cứu tập tính của cây chè già đỉnh núi rồi lập phương án nâng cao chất lượng, năng suất đối với cây chè cổ nơi này. Người ta còn tính đến cả nước táo tợn: có nhất thiết phải để cây chè cao vòi vọi thế này để cứ phải nhớ đến những ngày huấn luyện khỉ leo lên hái chè không? Hay là đốn chè đi để được nhiều hơn những búp chè lông lá to như búp cây đa lông Bắc Bộ? Có không ít chị phụ nữ người Mông leo lên cây chè hái rồi ngã. Có chị ngã xuống lùm rừng rậm, bị gốc chè đâm phập vào mông phải đem đi viện cấp cứu. Bản Giàng B có anh leo lên cây chè giẫm phải cái cành khô ngã gẫy xương sườn.
Chủ tịch xã Giàng A Đằng, sinh năm 1964 còn nhớ y nguyên ngày Thủ tướng Phạm Văn Đồng về thăm Suối Giàng và chụp bức ảnh lịch sử (xem ảnh) bên cây chè cổ thụ ở bản Pang Cáng. Bức ảnh đó sau này trở thành biểu tượng của vựa chè shan tuyết cổ thụ Suối Giàng. Cây chè có tán khổng lồ, “chi chít” người đứng xung quanh! Tiếc thay, cây chè đó nay đã chết vì già, vì sâu đục thân. Một anh người Mông đã vác búa bổ cây chè khổng lồ ra làm củi.
Tại phòng truyền thống của UBND xã Suối Giàng hiện nay có lưu giữ bức ảnh kể trên, cùng một vài bức ảnh - giấy tờ liên quan khác. Chủ tịch Giàng A Đằng đưa tôi xem một “công hàm”, viết rõ: “Vùng đồng báo Mèo (nay gọi phổ biến là người Mông - PV) xã Suối Giàng, Văn Chấn, Nghĩa Lộ (bấy giờ Nghĩa Lộ là một tỉnh) có nhiều chè ngon từ 2-3 trăm năm nay chưa được khai thác. Ngày 15/7/1961, anh hùng thương nghiệp Nguyễn Tuấn Anh cùng các đồng chí cán bộ thương nghiệp địa phương đi sâu, phát hiện loại chè này và hướng dẫn đồng bào khai thác chế biến. Chè này phẩm chất rất tốt. Chủ tịch Uỷ ban hành chính tỉnh Nghĩa Lộ. Cầm Ngoan”.
Bức ảnh nữa, đề ngày 9/9/1962, chụp Phó Thủ tướng Phạm Hùng (bên phải ảnh) cùng một đồng chí cán bộ xoài người ôm quanh một gốc chè - để thấy cây chè to tới mức nào!
Có rất nhiều chuyện để lan man cùng vùng đất quyến rũ Suối Giàng. Dòng Suối Trời của thượng giới đánh rơi này cứ trôi lan man giữa rừng già, sương mù, màu xanh lá rừng và sải cánh nâu vòi vọi của những con đại bàng núi. Đến một ngày, Giàng buồn bã nhận thấy con Suối mến thương của mình bị kim tiền hạ giới làm cho vẩn đục. Mỗi lần đứng trên núi cao nhòm xuống cái xí nghiệp chế biến chè đặt sát vách UBND xã Suối Giàng với những ống khói cũ càng như một lâu đài cổ Âu Châu, tôi lại thêm mừng bởi người kinh doanh xứ sở từ mấy mươi năm qua đã biết đến giá trị riêng có, trội nổi, đặc sắc của chè shan tuyết Suối Giàng. Nhưng lần nào cũng vậy, mấy vị am hiểu tình hình ngồi bên cạnh cứ lắc đầu quầy quậy: người ta đang đánh mất chè Suối Giàng. Đang giết chết món quà của thượng đế ấy. Rằng, sau khi được đầu tư sản xuất chè hàng hoá, thời Công ty chè Yên Ninh quản lý (giữa những năm 1990), chè đặc sản Suối Giàng được bán với giá cao ngất ngưởng mà vẫn không có để phục vụ ẩm khách trong và ngoài nước. Chè Suối Giàng còn nổi tiếng đến mức, vào năm 2000, đôi vợ chồng người Hàn Quốc nọ đã xin phép Chính phủ Việt Nam để lên tận Suối Giàng, phối hợp với Công ty bản xứ xây dựng một dây chuyền sản xuất chè đặc sản còn độc đắc hơn những gì vốn có ở Suối Giàng. Nhiều người ngoại quốc bị thứ chè kỳ bí ở Suối Giàng bỏ bùa, đã nguyện suốt đời làm một cái gì đó cho khỏi phụ lòng trời đất đã sinh ra cho hạ giới một Suối Giàng. Một trong những “tín đồ” chè shan tuyết ấy là ông Hideo Onishi – một chuyên gia chè nổi tiếng của Nhật Bản (như đã kể ở trên). Nhưng rồi, rất nhiều người dân Yên Bái đã tỏ ra bất bình trước việc ông bà người Hàn Quốc bị sự độc quyền của những người cầm trịch đánh cho... bật bãi. Còn nhớ, đăng trên Báo Nông nghiệp Việt Nam, trả lời bạn tôi – nhà báo Thái Sinh – chị Nguyễn Thị Lý, cán bộ kiểm nghiệm của xưởng chè Suối Giàng (đóng tại trung tâm xã Suối Giàng) kể: ông bà người Hàn Quốc rất tâm huyết, họ mua chè của bà con Suối Giàng với giá cao rồi thuê những người lành nghề nhặt thật kỹ, mỗi “búp đa lông” chè shan tuyết cổ thụ họ chỉ để lại 1 tôm 2 lá. Các công đoạn chế biến rất cầu kỳ, phải qua 2 lần xao, 2 lần để nguội...; tóm lại là lúc chè xuất xưởng ai cũng mê. Ông bà mang về Hàn Quốc bán chả biết giá cả thế nào, song người Việt Nam m ua, họ bán 200.000 đồng/kg (thời điểm năm 2001).Riêng năm 2001, họ đã sản xuất được cả tấn chè theo công nghệ này. Đến lúc bị “đánh bật” một cách quá vô lý, quá “mất lịch sự”, ông bà người Hàn Quốc đã khóc chia tay những cộng sự tận tuỵ của mình ở Suối Giàng rồi đi biệt. Nghe đâu họ chuyển sang tiếp tục dồn sức cho vùng chè shan tuyết của Hà Giang. Cả Việt Nam có hai vùng chè shan tuyết có giá trị là Suối Giàng và Hà Giang. Hy vọng ông bà xứ Hàn không bị đối xử như ở Suôí Trời một lần nữa. Chắc ông bà còn phải khóc nhiều hơn, nếu như họ biết rằng bây giờ công ty chè Văn Hưng của tỉnh Yên Bái đang “độc quyền” thu mua chè đặc sản shan tuyết cổ thụ Suối Giàng; và không ai khác, chính sự ăn xổi ở thì của công ty này đã đánh lộn vàng thau để từng bước giết chết thương hiệu chè của miền đất của thượng giới đánh rơi.
Tôi xin lấy đầu mình ra để cá cược: nếu đã tâm huyết với chè shan tuyết cổ thụ đến ngần ấy, thì kiểu gì ông bà đến Hàn Quốc đó cũng phải biết chuyện. Dẫu thế nào thì việc bảo vệ và xây dựng thương hiệu chè tuyết cổ thụ Suối Giàng vẫn chưa phải là quá muộn.
Đ.D.H
VTC: http://www.vtc.vn/hoso/nhanchungsukien/14687/index.htm

Vui Tết "té nước" với người Lào!Và một... mong manh tiền sử

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28