My Opera is closing 3rd of March

Bài viết được post lên - "chiểu" theo yêu cầu của một nhà sử học nổi tiếng đang quyết tâm "đi đến cùng" vụ việc này!

Phát hiện “lá thư” gửi cụ Đề Thám “yểm” gần 1 thế kỷ trong lòng đất:

Lối nhỏ giải mã cái chết bí ẩn của "Hùm xám Yên Thế" ?

Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng
(Đã đăng 2 kỳ trên Báo An ninh Thế giới)
Một bài liên quan mà tôi (Đỗ Doãn Hoàng) cũng đã theo đuổi từ lâu, đã đăng trên An ninh thế giới (cũng 2 kỳ), xin mời đọc lại "nhân thể" : http://my.opera.com/dodoanhoang/blog/?startidx=49


Một câu chuyện sửng sốt được bắt đầu từ xã Mai Trung, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang. Tại một thôn nhỏ dày đặc những lớp lang huyền thoại liên quan đến cuộc khởi nghĩa Yên Thế, như núi Yên Ngựa, chuôm Yên Thế, đền thờ Hoàng Hoa Thám… bỗng dưng phát hiện ra một ngôi mộ với xương cốt vạm vỡ như là của một người anh hùng áo nâu. Yểm trong lòng đất sâu, cạnh mộ là một lá thư viết mực Tàu, trên giấy bản được bọc kỹ trong âu-liễn-đĩa cùng các nguyên liệu bảo quản khá kỳ khu khác. Thơ đề rõ, viết năm 1913 (năm cụ Đề Thám bị sát hại) cảm khái chính về “Thế sự Hoàng Hoa” (Thám). Lập tức chúng tôi (nhà báo), được sự giúp đỡ của Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bắc Giang, đã đích thân đem những con chữ ấy về Viện Nghiên cứu Hán Nôm nhờ các chuyên gia hàng đầu về “bút lông – mực Tàu” giải mã. Kết quả ban đầu: ở góc độ văn bản, những thông tin từ lá thư yểm là đáng tin cậy. Liệu đây có phải một lối nhỏ dẫn chúng ta cùng vén được những đám mây bí đã tồn tại gần một thế kỷ qua xung quanh cái chết của người anh hùng Đề Thám?

“Thế sự Hoàng Hoa ai rõ chăng?”


"Lá thư trăm tuổi" (?) gửi "hùm xám Yên Thế" đang được bảo vệ cẩn mật tại Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bắc Giang! (Ảnh Đỗ Doãn Hoàng)

Ông Trần Văn Lạng, Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp Bắc Giang đã trực tiếp về hiện trường thu thập hiện vật liên quan đến cuộc “khai quật chữa cháy” kể trên. Đồng chí Phó Giám đốc Sở Văn hoá Thông tin tỉnh cũng đã về tận thôn Tân Lập, xã Mai Trung tìm hiểu. Sự việc tương đối rõ ràng, hiện vật được chính quyền xã bàn giao cho Bảo tàng bằng văn bản hẳn hoi. Chuyện bắt đầu vào ngày 24/12/2005, khi ông Nguyễn Văn Sử, người thường xuyên qua lại nhang khói trong đề thờ cụ Hoàng Hoa Thám (toạ lạc trên địa bàn thôn, có ảnh thờ Đề Thám, kiến trúc tương đối kiên cố) tiến hành trồng thêm một cây đại vào khu vực đền.
Đang đào hố thì ông Sử phát hiện thấy một cái liễn sành úp ngược, trong liễn có “kết cấu hiện vật” khá kỳ khu để bảo vệ một lá thư gấp làm tư viết bằng chữ Nho, mực Tàu, trên giấy bản. Ông Sử và bà con cùng ngỡ ngàng, họ liên tưởng ngay đến lá thư liên qụan đến cụ Hoàng Hoa Thám. Bởi vì, tình cảm của dân thôn Tân Lập (cũng như cả nước) với những người anh hùng nâu vải từng làm giặc Pháp “bạc tóc vì lo”, “mất ăn mất ngủ” trong suốt 30 năm ròng của cuộc khởi nghĩa Yên Thế thì chúng ta đều đã hiểu. Nhưng, điều đáng nói hơn hơn cả, là: vùng Mai Trung, Hiệp Hoà đã có quá nhiều “sự tích” về sự lẫy lừng, hiển linh của cụ Đề Thám; mà lá thư chỉ là “giọt nước tràn ly”.
Ngay cạnh khu vực vừa đào được “lá thư” là phần mộ có xương cốt của ai đó. Theo ông Nguyễn Đức Thành, Chủ tịch UBND xã Mai Trung thì ngôi mộ đó vốn là một ngôi mộ hoang. Song, căn cứ vào hệ thống sự tích truyền miệng, với những gò đồi ao chuôm cụ thể mang tên cuộc khởi nghĩa Yên Thế (chuôm Yên Thế, gò Yên Ngựa) nên nhiều bà con có niềm tin sâu sắc rằng: phần “di cốt” kể trên đích thị là của hùm thiêng Yên Thế – Hoàng Hoa Thám. Ngôi mộ được sửa sang, lấp kín đất vào phần xương cốt thòi ra. Ngôi đền có ảnh thờ Hoàng Hoa Thám được khói nhang, kính cẩn đặc biệt. Ông Sử có một niềm tin son sắt rằng, ông Lý trưởng của làng thời Pháp thuộc (cụ Lý Loan, tên thật Lý Văn Loan, chính là ông nội ông Sử) đã giao du tri kỷ với lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Yên Thế Đề Thám.
Câu chuyện này đã được ông Sử kể, rồi ông Trần Văn Lạng viết lại trong một “thông báo” để các nhà khoa học “xem xét thêm cho tỏ tường” (từ ngữ trích nguyên văn), như sau: “… một lần cụ Lý Loan lên đồn Phồn Xương (“trụ sở” của cuộc khởi nghĩa, thăm ông Đề Thám), khi ấy vào dịp Tết. Cụ Thám ra cổng đồn cùng bà Ba Cẩn (vợ Đề Thám) và một số nghĩa quân đón cụ Lý Loan .


Hứng chí, cụ Thám ra đối:
Cờ nghĩa tung bay nhờ gió cả
Bà Ba Cẩn đối lại:
Gươm thần chờ đón ánh trăng soi
Cụ Đề Thám lại ra vế đối thứ hai:
Pháo nổ mừng xuân vang bốn cõi
Cụ Lý Loan đối lại:
Lời thơ chúc tết động Ba Kỳ


Cũng vì do quan hệ đó mà khi thất thế nên mới có truyền tích cụ Đề Thám về ẩn thân ở Mai Trung. Theo ông Sử, chuyện thế nào chắc chỉ có cụ Lý Loan mới rõ”.
Nhiều người cũng truyền khẩu rằng, sau khi “vỡ trận” bị giặc Pháp truy lùng gắt gao, cụ Đề Thám cùng với người thân tín có “cải thành người ăn mày rách rưới” về nương náu tại bản thôn với sự chăm sóc nghĩa tình của cụ Lý Loan (?). Sở dĩ cái chuôm nhỏ ở làng có tên là chuôm Yên Thế, vì “cụ hùm thiêng” thường ra đó tắm táp, nấu chí “giành lại giang sơn” mà mình đã vẫy vùng ngót ba thập kỷ. Bộ xương trong ngôi mộ hiện nay, với những “gióng xương” rất to, có thể chính là mộ của vị hùm thiêng bị sa cơ lỡ bước (?).
Với tất cả những thông tin truyền khẩu kể trên, đùng một cái, việc vô tình đào được văn bản Hán Nôm viết về Thế sự Hoàng Hoa (Thám) khiến ai nấy không còn cách hiểu nào khác: thơ viết cho Đề Thám, yểm vào gần huyệt mộ Đề Thám.
Thực hư thế nào xin nhường lời cho các nhà khoa học chuyên ngành công bố sau. Nhưng, dựa vào những chữ được viết trên văn bản Hán Nôm kể trên thì dường như khó có sự ngẫu nhiên nào lại “hợp tình hợp lý” hơn thế! “Thư” là lời ngợi ca chiến công kiêu hùng, cảm khái trước khúc bi ca vỡ trận sa cơ của Hoàng Hoa Thám. Nếu đúng đó là thủ bút của cụ Lý Loan, thì các chuyên gia Hán Nôm cũng đã phải vỗ đùi khen cho bồ chữ của cụ, tạm phiên âm (theo tài liệu của Bảo tàng Bắc Giang):


- Cờ nghĩa bao năm nay lỡ vận
Hậu thế nghìn năm ai biết không?
- Yên Ngựa nghỉ vào đây lòng đất
Thế sự Hoàng Hoa ai rõ chăng?
Một nghìn chín trăm mười ba
Tháng năm ngày mồng chín
Loan


Có một sự trùng hợp kỳ lạ. Gò Yên Ngựa nằm kia, người tên là Hoàng Hoa Thám với huyền thoại chiến trường “da ngựa bọc thây” đã “cờ nghĩa bao năm nay lỡ vận” cũng được dân thôn bản xứ truyền tụng từ nhiều năm nay! Theo lối sấm ký đó thì có thể câu thứ 3: thi hài ông Đề Thám đã được nghỉ (táng) vào lòng đất gò Yên Ngựa?! Cái ngày 9/5/1913, kia nếu đem so với lịch sử thì cũng chỉ chệch so với ngày ông Đề Thám bị sát hại ít ngày (ông bị giết ngày 10/2/1913 - sẽ nói kỹ ở phần sau). Giặc giết, rồi bêu đầu ông hay ông đã chạy giặc về Mai Trung rồi mai danh ẩn tích đến lúc xế chiều khuất núi, hay thi thể ông sau khi bị sát hại đã được người thân tín đưa về táng tại đây? Rất nhiều giả thiết. Nhưng, nếu cứ hình dung, lá thư khóc và ngợi ca Đề Thám được viết ngày 9/5/1913 rồi “yểm” gần mộ ngài thì cũng là điều không có gì khó hiểu. Còn chữ “Loan” ở bên dưới văn bản, khi ấy, sẽ được hiểu là chữ ký tên của ông Lý trưởng tên là Loan?

Khi phát hiện (theo ông Sử kể), thấy một chiếc liễn (lon) sành thời Mạc úp ngược xuống đất (xem ảnh). Tuần tự xếp đặt theo sự úp ngược liễn, như sau: Trên cùng là đáy liễn; tiếp theo là lớp lá dầu đã khô. Tiếp đến là tờ hai giấy bản (chỉ một tờ có chữ, như đã trích ở trên) được gấp lại. Hai tờ giấy này được đặt trong lòng chiếc đĩa con phượng (thời Lê) và ốp chặt vào đáy liễn. Lá chèn xung quanh. Tiếp đó là lớp cát khô, sau đó là lớp vữa (vôi + cát) chèn chặt lớp cát lại. Tiếp đến là 2 chiếc đĩa thời Nguyễn có ve lòng, một chiếc có vẽ 3 con cá chép, 1 chiếc có vẽ 4 con cá chép. Cả hai đều được trát vữa chặt để khỏi tuột. Khi phát hiện, các nhân chứng cũng có chụp ảnh hiện trường.



Đâu là sự thật ?

Chuyên gia hàng đầu về Hán Nôm ở VN, ông Nguyễn Tá Nhí, phất phơ đầu bạc dùng kính lúp cùng TS Nguyễn Xuân Diện ngồi tại Viện nghiên cứu Hán Nôm “lục vấn” từng chữ trong văn bản yểm gần mộ mà chúng tôi trưng ra. Cụ Nhí rất rành rọt: về văn bản, có người tỏ ra nghi ngờ lối viết, hay cách đề ngày tháng năm dưới văn bản (có vẻ quá hiện đại) – như nhà báo nói – thì tôi nghĩ, sự nghi ngờ đó là không có cơ sở. Vì, năm 1913, thậm chí có thể từ trước đó, lối viết này đã phổ biến. Tức là, nếu xét trong bản thân văn bản, con chữ, hay chất liệu giấy bản này, “lá thư yểm” hoàn toàn có thể được viết đúng trong thời gian “đề từ” (năm 1913). Vì là văn bản chữ Nôm, nên phiên âm rất phức tạp. Nhiều người không thể đọc được, dịch thoát ý được, hay là chê ông Lý Loan viết thơ vụng… cũng là hợp lý. Vì phân tích ra: câu đầu: Cờ nghĩa bao năm lanh lẹ (hoặc nhanh nhẹ) vần/ Hậu thế ngàn năm ai biết không. Đến câu thứ ba: “Yên Ngựa ngờ (ghi, nghi) vào nơi lòng đất” (gò Yên Ngựa, ý nói, thi hài ông Đề Thám, hoặc ai đó mang linh hồn của cuộc khởi nghĩa Yên Thế (?) được táng ở gò Yên Ngựa). Câu thứ tư: “Thế sự (của cụ) Hoàng Hoa (Thám) ai dẫu (thấu) chăng?”. Cụ Tá Nhí rất sòng phẳng: Tôi biết đến đâu, tâu đến đấy. Về mặt văn bản, chúng tôi nói thế. Còn văn bản này có ý nghĩa thế nào trong việc tìm mộ, hay kết luận về cái chết của nhân vật lịch sử Đề Thám, thì các ông đi hỏi cụ Trần Quốc Vượng (đã mất) hay đem di cốt ở ngôi mộ ông kể xuống Viện Khoa học Hình sự, Bộ Công an mà giám định.

Qua trao đổi của chúng tôi với Chủ tịch UBND xã Mai Trung, cán bộ Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, một số đại diện con cháu cụ Đề Thám… chúng tôi cũng ghi nhận ý kiến nghi ngờ về sự “trường tồn” của một tờ giấy bản (94 năm trời) ở dưới lòng đất, cũng như nhiều chi tiết thiếu “tường minh” khác. “Có điều gò mộ kia có phải là gò mộ cụ Đề Thám không thì còn phải xem xét cẩn thận và văn bản kia có thật từ 1913 không cũng phải xem xét cẩn thận” – trích thông báo của Phó Giám đốc Bảo tàng Bắc Giang về sự kiện kể trên. Khi cán bộ tỉnh Bắc Giang liên lạc với bà Hải, người nhà cụ Đề Thám ở Hà Nội, thì bà vừa tròn… dịp 49 ngày tạ thế. Các cháu của cụ Hải có lên Bắc Giang tìm hiểu, nhưng, theo ông Trịnh Hữu Xuyến, một đại tá về hưu, chồng bà Hải, thì gia đình cũng thấy có nhiều điểm chưa tỏ tường lắm. “Trước đây, bà nhà tôi có đi tìm mộ cụ Đề Thám ở khắp Nhã Nam, Chùa Lèo, Hiệp Hoà, nhưng không thấy. Vả lại, đã một thế kỷ trôi qua…”. Chúng tôi nghĩ rằng, việc trước nay tìm không thấy (mộ cụ Thám), thì điều đó không có nghĩa rằng bây giờ không thể thấy nữa. Còn nhiều ký kiến cho rằng, một thế kỷ trôi qua rồi tờ giấy bản không thể tồn tại được, thì đó là “sự nghi ngờ” thiếu khoa học. Bởi, gia phả, sắc phong người ta để trong hộc bàn, có thể để cả mấy trăm năm, văn bản chữ bé li ti cũng đọc tốt. Chuyên gia Hán Nôm ở Viện Hán Nôm xác nhận: giấy bản, chữ viết mực Nho từ thế kỷ 18 (cách đây 300 năm), đến nay vẫn đọc tốt (đằng này, lá thư, nếu đúng là của cụ Lý Loan, mới từ đầu thế kỷ 20 đến giờ). Vậy là, ý kiến nghi ngờ về sức sống của văn bản Hán Nôm trên, tôi cho rằng, sự “phản biện” này thiếu thuyết phục.

Vậy thì đâu là sự thật?
Điều dễ thấy, bao trùm lên tâm trạng của những cán bộ địa phương biết sự việc này, là mong muốn được giải mã những bí ẩn của “lá thư yểm vào dưới mộ”. Cơ quan chức năng tỉnh Bắc Giang cũng đã nóng lòng “giục” lực lượng chuyên ngành sớm đưa ra kết luận.

Tôi cho rằng, cơ sở quan trọng gây dấu hỏi chưa giải mã được mà bài viết này đang xới lên, có lẽ là cái chết quá bí ẩn của hùm thiêng Đề Thám. Vì chưa ai rõ, lịch sử (chính sử) cũng còn chưa giải mã được: thật ra cụ bị sát hại thế nào, càng chưa ai biết phần mộ cụ nơi nào, cho nên các “giả thuyết” vẫn còn lơ lửng treo đó. Giả thử, mai này ta kết luận phần mộ cụ Đề nằm ở Mai Trung, với “kim chỉ nam” là lá thư “yểm” trong lòng đất kia, thì cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Bởi lịch sử ghi rõ: Hoàng Hoa Thám quê ở Tiên Lữ, Hưng Yên, 16 tuổi tham gia cuộc khởi nghĩa của Đại Trận (1870-1875). Gần 30 năm trời, nghĩa quân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám chỉ huy đã làm cho giặc Pháp kinh hồn bạt vía, chúng treo thưởng tặng 30.000 Franc cho kẻ nào “lấy được đầu Đề Thám”. Các chí sỹ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… đã gặp gỡ Đề Thám để mưu toan nghiệp lớn. “Hùm xám” vùng Yên Thế, người đã khiến cho cả Thống sứ Bắc Kỳ, các viên công sứ vùng thượng du Bắc Bộ phải “lo sợ tới bạc đầu”. Sau khi lên tận núi rừng Yên Thế hiểm trở thăm Đề Thám, với hào luỹ, cơ nghiệp hùng mạnh một cõi, cụ Phan Bội Châu đã suy tôn ông là vị tướng quân chân chính (“Chân tướng quân”). Khi bị sát hại, Đề Thám mới 55 tuổi. Nguyên nhân là do Pháp đã cay cú huy động một lực lượng khổng lồ với 15.000 quân viễn chinh, lính khố xanh cùng 400 lính dõng tấn công nghĩa quân Yên Thế làm nghĩa quân bị tổn thất nặng nề. Thứ nữa là có kẻ làm phản, chỉ điểm cho “sát thủ” trá hàng ám hại Đề Thám. Ông bị mắc mưu ba tên đồng đảng của Lương Tam Kỳ. Chúng “trá hàng” với lời hứa sẽ bày cho nghĩa quân cách chế tạo… bom tấn. Tại một ngôi lều chạy loạn ở khu vực Hố Nấy, chúng chuốc rượu say rồi giết Đề Thám cùng hai thuộc hạ thân tín của ông. Chúng xách đầu 3 ông ra Nhã Nam giao nộp cho giặc Pháp. Đó là ngày 10/2/1913 dương lịch. Thủ cấp của Đề Thám cùng thuộc hạ bị bêu ở cả Bắc Ninh, Nhã Nam để thị uy dân chúng. (Ông Phó Giám đốc Bảo tàng tổng hợp tỉnh Bắc Giang cho biết: tài liệu của sử gia Đinh Xuân Lâm tìm được bên Pháp, rất thuyết phục. Đó là bản khẩu cung của 3 tên “giặc cỏ” đã giết chết người anh hùng Đề Thám, với nội dung tương tự). Hiện, ở khu vực Hố Nấy, vẫn có một ngôi mộ nghi là của Đề Thám. Nhưng nhiều bà con cho rằng, ngay cả cái thủ cấp đem “bêu” cũng không phải là của Đề Thám. Lý do là khi giặc Pháp yêu cầu nhận dạng, nhiều người bị ép cung tra tấn ghê quá mới nói bừa là của Đề Thám, song thực tế không phải. Ông đã kịp “biến mất trong rừng” (rồi chết ở Mai Trung?), hoặc ông đã hoá thánh (?). “Sau này, bà Hải, người giúp việc của bà Hoàng Thị Thế, con gái cụ Đề có thuê cả các nhà ngoại cảm đi tìm mộ hùm xám Yên Thế, nhưng không thấy” (theo báo Lao Động, năm 2005).

Chúng ta, lớp hậu thế, không có quyền phủ nhận giá trị như một lời sấm ký nói về nơi chôn cất, mối quan hệ, sự tích gò đồi ao chuôm liên quan đến cụ Đề Thám và nghĩa quân Yên Thế ở Mai Trung (nếu văn bản kia đã thực sự được viết và yểm dưới đất từ năm 1913). Chúng ta, không một ai không mong muốn những giả thuyết về cái chết của Đề Thám mà bài viết này đang bàn sẽ được khoa học chứng minh rành mạch rằng đó là sự thật lịch sử. Tuy nhiên, chúng ta cũng chưa nên kết luận vội vàng một điều gì. Không phải vô lý mà một số nhà khoa học nghiêm túc đã tỏ ý thắc mắc về những sự trùng khít quá đáng của câu chuyện kéo dài gần một thế kỷ kể trên?! Cuối cùng, việc giám định “tài liệu” để tìm đến chân vấn đề cũng không có gì là quá khó khăn: ngôi mộ còn xương cốt, văn bản Hán Nôm bằng giấy bản đã được bảo tàng niêm phong trong kho bảo quản chuyên nghiệp. Mong các nhà khoa học sớm vào cuộc.

Đỗ Doãn Hoàng
Điện thoại: 0989783303
Tác giả rất mong nhận được hồi âm của những người am hiểu vụ việc, để có thể theo đuổi đề tài này kỹ càng hơn. Cũng như, khi bài viết này được đăng báo, có nhiều "nhân chứng" đã đến tòa soạn kể về việc cha ông mình đã là "nghĩa sỹ", là người bí mật "thờ cúng" cụ Đề Thám, là người có hành tung bí ẩn liên quan đến "vụ" việc của Hùm thiêng Yên Thế như thế nào. Một lần nữa, xin được chân thành cảm ơn các cụ và quý độc giả nói chung.


Bài viết gồm các ảnh đã đăng báo: “Lá thư sấm ký” yểm dưới đất và các hiện vật được “táng” theo nhằm bảo quản. Lá thư này được “chôn” suốt gần 100 năm qua (theo lời ông Sử); Hùm xám Yên Thế Hoàng Hoa Thám và con cháu; “Thủ cấp của những anh hùng áo nâu trong cuộc khởi nghĩa Yên Thế bị giặc Pháp giết hại. Cụ Đề Thám cũng bị giết, bêu đầu như lịch sử viết, hay cụ đã chạy loạn về Mai Trung rồi mất ở đó?”; Đại gia đình Đề Thám, trước khi ông bị sa cơ, vỡ trận.




Viết chân dung cái người đã ám ảnh tôi (kỳ 4)Thử viết chân dung vài người mà mình vẫn hay nhớ đến (bài 5):

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28