tăm tối.
Monday, November 22, 2010 4:55:14 AM
“Số em gặp khổ”
Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng
http://www.laodong.com.vn/Tin-tuc/So-em-gap-kho/22008
Dưới chân đèo Ngườm Kim ngoằn ngoèo, xóm Lũng Mười, xã Thái Cường, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, chiều về, tiếng cưa máy từ các tán rừng thâm u cứ rít lên như đàn ong vỡ tổ. Thấy đoàn người lạ, đám “ong lâm tặc” im bặt. Giữa thung lũng nhàu nhĩ toàn gốc rạ xám xịt có một ngôi nhà tranh xiêu vẹo. Bỗng dưng, tiếng (đàn) tính tẩu ùa ra, giăng mắc trong không gian, giọng nữ trong vắt hắt lên mãi đỉnh trời. “Số näong rÆp khỏ” rồi lại chuyển sang “phiặc căn dó kha tàng”, anh phóng viên người Tày thảng thốt dịch vội: rằng, người ấy hát, “số em số khổ”, rồi thì “chia tay nhau ở giữa dở dang con đường”…
Phải nói thật là tôi đã phải rùng mình, khi đi theo tiếng hát, gặp một người đàn bà mù rách rưới, ở một mình, trong căn nhà bốn bề gió thốc, khi cái rét biên thùy đã tím tái khắp nơi nơi. Mù tối, hẩm phận, bạc mệnh, hiu quạnh và đói nghèo hết cỡ, nhưng tâm hồn chị thật sáng, thật lạ.
Cái radio làm la bàn… tìm đường về nhà
Chị tên là Hoàng Thị Hồng Miên, 50 tuổi, thơ chị viết, bài hát chị sáng tác rồi nhờ đứa cháu chép bằng chữ Việt, phiên âm cả tiếng Tày vào cuốn sổ kẻ ô ly, rồi chị còn viết bằng chữ nổi brai nữa, với “bút hiệu” khá mỹ miều: Mộc Miên. Mộc miên là tên gọi khác, tên gọi khá mơ màng của hoa gạo, loài hoa đỏ ối ấy đẹp hay không thì mỗi người mỗi cảm nhận, nhưng có một điều chắc chắn là chị Miên chưa nhìn thấy hoa gạo bao giờ. Chị bị mù từ nhỏ. Chị Miên đặc biệt thích nói chuyện với những người lạ mà quen là phóng viên Đài PTTH Cao Bằng, là bởi vì nhiều bài thơ của chị đã từng được quý đài đọc trên sóng, bằng cả tiếng Tày lẫn tiếng Việt. Chị xúc động lắm.
Bài “Số em số khổ” (số nọong rÆp khỏ) kể về một cái người bị trời già hành hạ, từ nhỏ đã không biết thế nào là ánh sáng, bố mẹ nghèo, người thì quá già, người thì đã chết; chị phải ra ở riêng một mình một túp lều hoang vắng giữa thung lũng im lìm. Mắt nhìn không thấy gì, vẫn phải đi lên rừng chặt củi về, cõng củi ra chợ bán, phải tự đi gánh nước về luộc ngô lên mà ăn quanh năm để sống. Nhà dột, mưa rét, nhưng không biết trời đổ nước vào ở góc nào, không biết trèo lên mái nhà để lợp lại. Phải làm tất cả, leo núi, bổ củi, đi bán củi… dưới sự dẫn đường của một cây gậy dò dẫm. Biết là mình mù, thế là người ta cứ thế đến lấy hết những thứ của nả rách rưới đi, đến con gà đang ấp trứng, họ cũng bế cả ổ đi lúc nào chẳng biết. Người đàn bà chỉ biết ôm đàn, và hát bài do mình tự viết thơ, tự chắp nhạc rồi tay gạt nước mắt, tay nâng tính tẩu (cây đàn được chế tạo với phần thân là quả bầu khô) mà hát “số em số khổ”.
Đổ cả tội tình lên vị thần số phận, rồi khóc, nhưng chị Miên chưa bao giờ là một người phụ nữ không lạc quan. Với mảnh tình vá víu cùng anh bộ đội đóng trên địa bàn, với đứa con gái Hoài Thơm bị não úng thủy chết từ khi mới 7 tháng tuổi, năm nay đã 50 tuổi, chị Miên chưa bao giờ là người có chồng cả. Anh Dũng qua lại nhận làm con nuôi của bố chị, rồi chị lơ ngơ sa ngã dấm dúi với anh ta, lúc mang thai, cả nhà oán thán. Lấy cớ cha mẹ dưới xuôi không đồng ý, anh ấy bỏ đi, đứa con hoang của chị cũng chẳng sống với chị bao ngày. Chị và cô chị gái Hoàng Thị Pen (sinh năm 1951, cũng mù như chị) chẳng còn cách nào khác là ăn bám bố mẹ già. Cách đây 7 năm, bố già và chết; bà mẹ 85 tuổi rồi, cũng không còn sức lao động nữa, cả nhà trông vào hạt lúa củ khoai do vợ chồng người anh trai tên là Pảo cáng đáng. Ông anh này đầu óc hơi “ngơ” (mất trí), sức yếu lẻo khẻo, lại thêm bà chị dâu ghê gớm, đấy là chưa kể họ quá nghèo, cái nghèo nó lấn át bớt thương yêu đi - thế là họ bóng gió bảo hai người mù tịt (Miên và Pen) dựng hai cái lều ra đầu bản mà ở riêng. Chị Miên nghĩ cũng phải, “mình mù như thế này, chả làm được cái gì ra hồn, không làm thì bị người ta chửi là ăn bám; thôi thì ra lều giữa đồng mà ở, không làm thì không ăn, như thế còn hơn là bị chửi”.
Hằng ngày, chị tự tin cầm gậy, khoác dao đi lên rừng chặt củi. Chặt chậm rãi, bó củi, vác củi dè dặt, bởi nhỡ một cái thì tay mình lại chém cụt tay mình, nhỡ một cái là ngã xuống vực, là chết. Nơi hoang vu này, làm gì có ai trông thấy mà cứu. Chúng tôi chứng kiến cảnh chị Miên vác bao ngô từ gậm giường ra ven đường nhựa, bắt xe ô tô khách đi mấy chục cây số xuèng tËn thị trấn Đông Khê bán, mà không tin vào mắt mình nữa. Dường như, người mù họ làm những cái việc của người sáng mắt bằng một thứ ánh sáng khác, thứ ánh sáng do các vị thiên sứ chiếu rọi vậy. Chị cười hồn nhiên: “Làm mãi rồi quen, nếu cứ ngồi ước ao mình sáng mắt như người khác, thì chỉ có nước nhảy xuống ao tự tử thôi. Phải biết rằng, mình đã mù, trọn cả đời sống trong bóng tối, phải đi chặt củi, đi gánh nước, đi bẻ ngô, làm cỏ lúa, đi bán tăm mỗi ngày cuốc bộ 20km… để mà sống. Và, nếu không muốn sống, chị đã tự tử từ năm chị sờ soạng búng dây tính tẩu lần đầu tiên, năm ấy chị 14 tuổi, chứ chẳng đợi đến bây giờ…”, chị Miên nói chậm mà rất triết lý. Hình như chị quên mất rằng ruộng ngô khô ron kia gồ ghề lắm, đi giày thể thao mà chúng tôi vẫn vấp ngã, trong khi chị mù bẩm sinh, mù tuyệt đối. Có lần nhìn chị làm cỏ lúa, tôi cứ chăm chú xem chị có tưởng lúa là cỏ mà vặt nó đi không. Ai ngờ, đôi tay chị có mắt.
Khi chúng tôi muốn tặng một món quà kỷ niệm, chị Miên bảo: nhà báo làm ở đài, hôm nào tặng chị cái đài (radio). Chị hay bị mất phương hướng, lúc chặt củi, lúc bẻ ngô, cái khó nhất là biết định hướng nhà mình ở đâu, bó củi mình để ở đâu để… tìm về. Tìm ra hướng rồi thì cây gậy sẽ dò ra lối đi được. “Lúc đầu chị nuôi hai đứa con của cô em gái (cô này bỏ chồng). Con Hoa, con Nhung (hai đứa nhỏ) cứ đứng đó gọi chị về, nhưng giờ thì chúng nó đi lấy chồng cả rồi. Chị chợt nghĩ ra, nếu có một cái đài đang đọc thơ, đang hát các bài hát, thì chị sẽ theo tiếng của nhà đài mà tìm về chỗ bó củi, chỗ nhà mình được” - chị Miên nói, ai nấy trong chúng tôi nghe xong, cùng tái mặt. Một ước mơ giản dị, một sự sáng tạo đầy lạc quan của người đàn bà mù trong căn lều hoang vắng.
Hôm nay chúng tôi đến, tặng chị chút tiền, cây đàn tính và cái radio.
Nương theo tiếng đàn để mà sống
Phóng viên Đàm Trình của Đài PTTH Cao Bằng đem quà của nhà báo Triệu Thị Mai tặng cho chị Miên cái radio xong, nhìn ngôi nhà trống huênh gió thốc, lại nhìn cảnh chị Miên đem cái đài ra ruộng, che chắn cho nó như lợp mái cho ngôi nhà của mình (đề phòng trời mưa đài sẽ hỏng), anh Trình rơm rớm nước mắt. Anh Trình cũng là người Tày, cũng ở nước non Cao Bằng này… Quay cảnh chị Miên chặt củi trên rừng, chị đi tự mù mẫm đi hái rau ngải đắng ở ven suối rồi trở về lần mò nấu nướng, ngồi một mình một mâm, lúc đầu Đàm Trình ngạc nhiên, bái phục bà chị mù tháo vát; nhưng, dần dà, càng ngẫm anh càng thấy đau. Củi giờ cũng hết, rừng giao cho từng hộ khoanh nuôi toàn bộ, suối cạn, rau ngải cũng trui theo mùa hanh hao, chị Miên đành ngồi ăn cơm nhão bỏ vài hạt muối vào. Ngày chỉ nấu một lần, ăn hãi bữa, bữa nóng, bữa nguội. Năm mươi tuổi đầu, nửa thế kỷ không trông thấy một tị ti ánh sáng, dường như cuộc sống của chị Miên trôi theo kiểu cho nó đoạn tháng qua ngày.
Nhưng không phải thế, có gắn bó thì người ta mới có thể hiểu, chị Miên sống rất lạc quan. Vừa lẩn mẩn cầm gậy dò dẫm ra vườn hái rau cỏ về nấu bữa trưa, chị Miên vừa hát. Chị nhờ hàng xóm đi xin cho một quả bầu to, phơi khô, rồi nhờ người chế tác cây đàn tính mới. Kẻo cái cây cũ hỏng rồi.
Cây đàn đó là do một anh thợ mộc đến làm nhà cho bố mẹ chị Miên tặng cho chị, lúc ấy chị mới 14 tuổi đầu. Anh ấy ở xã bên, thấy em Miên đêm nào cũng theo bố đánh đàn, hát theo chúng bạn vài lần là thuộc cả một bài, nhí nhảnh đáng yêu quá, anh mới gọt một quả bầu, chế tác cây đàn làm quà. “Không phải tình yêu đâu, chỉ thích nhau thôi”, nhớ lại ngày đó, chị Miên cười hạnh phúc. Mắt chị chưa nhìn thấy anh ấy, chưa nhìn thấy cây đàn, nhưng mấy chục năm qua, chị luôn tin là cả anh ấy và cây đàn đều rất đẹp. Sau này, yêu anh Dũng (quê ở Thái Nguyên, người đã sinh con với chị Miên), chị cũng thấy anh Dũng đẹp, đứa con gái Hoài Thơm vĩnh viễn bảy tháng tuổi với bệnh não úng thủy của chị lại càng đẹp. Khi “chồng” ra đi, con gái chết, chị Miên bắt đầu hát những bài buồn thảm. Khi ông Điện, nhà ở xã V©n Trình bên cạnh đi làm Phó chủ tịch Hội người mù huyện, về căn nhà nát của chị Miên để vận động chị sinh hoạt hội, học chữ nổi brai, chị Miên vui ruộng ngô nứt nẻ gặp mưa rào. Chị học và sáng tác bằng chữ nổi. Vừa cắp rá sang hàng xóm vay gạo, vay ngô về ăn, vừa rúc xuống gậm giường cho mưa khỏi hắt vào người giữa đêm đen miền đá tai mèo lạnh buốt, chị Miên vừa tự sưởi ấm mình bằng thơ và nhạc. Chị đem theo thơ và nhạc đi bán tăm khắp nơi, bước chân chị đến đâu, danh sách các bài thơ chữ nổi lại có cơ hội dài ra đến đó.
Tại “Liên hoan tiếng hát từ Trái tim đến Trái tim” dành cho người mù toàn tỉnh Cao Bằng năm 2004, chị Miên hát bài “Ba Bể PÐ tiên” lí lơi lắm, rồi đàn tính của chị ngọt lịm cả khán trường, ai nấy lặng đi; bỗng, chị Miên bật khóc giữa chừng, hôm ấy, bố già của chị vừa chết vài ngày. Chị đoạt giải Ba. Rồi các dịp liên hoan ca nhạc khác của người mù, như dịp tổ chức ở Hòa An vừa rồi, chị Miên lại đoạt giải quán quân. Chị thong dong “thả” tiếng đàn tính vào đêm trường hẩm phận của những người bạn mù khắp nơi, rồi hát với đủ “Bài hát của người (mù) bán tăm”; rồi cả cái bài rất thời sự “Mìa thán phua kin lảo” (vợ trách chồng nghiện ma túy hư thân). Nhiều bài trong số đó, do chị tự sáng tác. Có lần đi học nghề làm nấm (dành cho hội viên người mù), trong đoàn chị và một người đàn ông khiếm thị khác đã cảm mến nhau, cái tình nặng lắm nhưng chị không dám đi thêm một bước nào về phía ấy, bởi, rồi anh ấy cũng phải xuống xe giữa chừng để về với vợ con. Nghĩ đến đấy, chị Miên khóc, làm bài thơ rồi hát “Phiặc căn dó kha tàng” (chia tay giữa dọc đường). Bài ấy, gửi lên Đài Cao Bằng, ai ngờ được phát thanh viên đọc lên sóng toàn tỉnh, giọng cô phát thanh viên cứ trong ngần như khí trời dưới chân đèo Ngườm Kim lúc tinh sương. “Anh ấy” ở tít huyện Phục Hòa cũng nghe được, có bắn tin cảm ơn “thi sỹ Mộc Miên”.
“Phận mù như mình, cũng lắm người chạm chân đá gót lắm. Nhưng họ ghé vào căn nhà trống giữa đồng hoang này, họ toàn người lang thang, kiểu anh bán thuốc dạo, chị chả dám theo ai” - chị Miên buông cây đàn tính, thở dài. “Chị đánh đàn bây giờ chán lắm, hai bàn tay đau đớn, bị bệnh thấp khớp, cả tháng vừa rồi nằm viện mà không khỏi”, chị khóc nhiều lắm, dẫu gì thì hồng nhan như chị cũng dính phải cây đàn, thơ phú, lại đa đoan. Chứ có cam phận tàn tật như người ta đâu. Buông lời, buông tay khách, chị Miên đi ra phía cái radio đang hát giữa khung sân rậm rịt toàn cỏ dai. Rồi chị vào bếp, xòe diêm, chuẩn bị nấu cơm. Chị vẫn thắp đèn dầu, ngôi nhà ấy chưa bao giờ có bóng điện. Mà người mù cô đơn cô quả như chị, thì cần điện sáng để làm gì cơ chứ?
Đ.D.H
Kèm chùm ảnh
Chi Mien 2: Người đàn bà mù Hoàng Thị Hồng Miên coi cây đàn tính và các bài thơ của mình là “nơi nương tựa” để sống.
Chi Mien 1: Chị Miên và ngôi nhà rách nát “gượng đứng” một mình trong thung lũng vắng.
Chi Mien 4: Chị đã xin nhà báo tặng 1 chiếc radio làm “la bàn” để đi kiếm củi, làm đồng và… tìm đường về nhà.
Chi Mien 5: Chị Miên từng nhận nhiều giấy khen vì thành tích “văn nghệ” và sinh hoạt hội người mù như thế này.
Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng
http://www.laodong.com.vn/Tin-tuc/So-em-gap-kho/22008
Dưới chân đèo Ngườm Kim ngoằn ngoèo, xóm Lũng Mười, xã Thái Cường, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, chiều về, tiếng cưa máy từ các tán rừng thâm u cứ rít lên như đàn ong vỡ tổ. Thấy đoàn người lạ, đám “ong lâm tặc” im bặt. Giữa thung lũng nhàu nhĩ toàn gốc rạ xám xịt có một ngôi nhà tranh xiêu vẹo. Bỗng dưng, tiếng (đàn) tính tẩu ùa ra, giăng mắc trong không gian, giọng nữ trong vắt hắt lên mãi đỉnh trời. “Số näong rÆp khỏ” rồi lại chuyển sang “phiặc căn dó kha tàng”, anh phóng viên người Tày thảng thốt dịch vội: rằng, người ấy hát, “số em số khổ”, rồi thì “chia tay nhau ở giữa dở dang con đường”…
Phải nói thật là tôi đã phải rùng mình, khi đi theo tiếng hát, gặp một người đàn bà mù rách rưới, ở một mình, trong căn nhà bốn bề gió thốc, khi cái rét biên thùy đã tím tái khắp nơi nơi. Mù tối, hẩm phận, bạc mệnh, hiu quạnh và đói nghèo hết cỡ, nhưng tâm hồn chị thật sáng, thật lạ.
Cái radio làm la bàn… tìm đường về nhà
Chị tên là Hoàng Thị Hồng Miên, 50 tuổi, thơ chị viết, bài hát chị sáng tác rồi nhờ đứa cháu chép bằng chữ Việt, phiên âm cả tiếng Tày vào cuốn sổ kẻ ô ly, rồi chị còn viết bằng chữ nổi brai nữa, với “bút hiệu” khá mỹ miều: Mộc Miên. Mộc miên là tên gọi khác, tên gọi khá mơ màng của hoa gạo, loài hoa đỏ ối ấy đẹp hay không thì mỗi người mỗi cảm nhận, nhưng có một điều chắc chắn là chị Miên chưa nhìn thấy hoa gạo bao giờ. Chị bị mù từ nhỏ. Chị Miên đặc biệt thích nói chuyện với những người lạ mà quen là phóng viên Đài PTTH Cao Bằng, là bởi vì nhiều bài thơ của chị đã từng được quý đài đọc trên sóng, bằng cả tiếng Tày lẫn tiếng Việt. Chị xúc động lắm.
Bài “Số em số khổ” (số nọong rÆp khỏ) kể về một cái người bị trời già hành hạ, từ nhỏ đã không biết thế nào là ánh sáng, bố mẹ nghèo, người thì quá già, người thì đã chết; chị phải ra ở riêng một mình một túp lều hoang vắng giữa thung lũng im lìm. Mắt nhìn không thấy gì, vẫn phải đi lên rừng chặt củi về, cõng củi ra chợ bán, phải tự đi gánh nước về luộc ngô lên mà ăn quanh năm để sống. Nhà dột, mưa rét, nhưng không biết trời đổ nước vào ở góc nào, không biết trèo lên mái nhà để lợp lại. Phải làm tất cả, leo núi, bổ củi, đi bán củi… dưới sự dẫn đường của một cây gậy dò dẫm. Biết là mình mù, thế là người ta cứ thế đến lấy hết những thứ của nả rách rưới đi, đến con gà đang ấp trứng, họ cũng bế cả ổ đi lúc nào chẳng biết. Người đàn bà chỉ biết ôm đàn, và hát bài do mình tự viết thơ, tự chắp nhạc rồi tay gạt nước mắt, tay nâng tính tẩu (cây đàn được chế tạo với phần thân là quả bầu khô) mà hát “số em số khổ”.
Đổ cả tội tình lên vị thần số phận, rồi khóc, nhưng chị Miên chưa bao giờ là một người phụ nữ không lạc quan. Với mảnh tình vá víu cùng anh bộ đội đóng trên địa bàn, với đứa con gái Hoài Thơm bị não úng thủy chết từ khi mới 7 tháng tuổi, năm nay đã 50 tuổi, chị Miên chưa bao giờ là người có chồng cả. Anh Dũng qua lại nhận làm con nuôi của bố chị, rồi chị lơ ngơ sa ngã dấm dúi với anh ta, lúc mang thai, cả nhà oán thán. Lấy cớ cha mẹ dưới xuôi không đồng ý, anh ấy bỏ đi, đứa con hoang của chị cũng chẳng sống với chị bao ngày. Chị và cô chị gái Hoàng Thị Pen (sinh năm 1951, cũng mù như chị) chẳng còn cách nào khác là ăn bám bố mẹ già. Cách đây 7 năm, bố già và chết; bà mẹ 85 tuổi rồi, cũng không còn sức lao động nữa, cả nhà trông vào hạt lúa củ khoai do vợ chồng người anh trai tên là Pảo cáng đáng. Ông anh này đầu óc hơi “ngơ” (mất trí), sức yếu lẻo khẻo, lại thêm bà chị dâu ghê gớm, đấy là chưa kể họ quá nghèo, cái nghèo nó lấn át bớt thương yêu đi - thế là họ bóng gió bảo hai người mù tịt (Miên và Pen) dựng hai cái lều ra đầu bản mà ở riêng. Chị Miên nghĩ cũng phải, “mình mù như thế này, chả làm được cái gì ra hồn, không làm thì bị người ta chửi là ăn bám; thôi thì ra lều giữa đồng mà ở, không làm thì không ăn, như thế còn hơn là bị chửi”.
Hằng ngày, chị tự tin cầm gậy, khoác dao đi lên rừng chặt củi. Chặt chậm rãi, bó củi, vác củi dè dặt, bởi nhỡ một cái thì tay mình lại chém cụt tay mình, nhỡ một cái là ngã xuống vực, là chết. Nơi hoang vu này, làm gì có ai trông thấy mà cứu. Chúng tôi chứng kiến cảnh chị Miên vác bao ngô từ gậm giường ra ven đường nhựa, bắt xe ô tô khách đi mấy chục cây số xuèng tËn thị trấn Đông Khê bán, mà không tin vào mắt mình nữa. Dường như, người mù họ làm những cái việc của người sáng mắt bằng một thứ ánh sáng khác, thứ ánh sáng do các vị thiên sứ chiếu rọi vậy. Chị cười hồn nhiên: “Làm mãi rồi quen, nếu cứ ngồi ước ao mình sáng mắt như người khác, thì chỉ có nước nhảy xuống ao tự tử thôi. Phải biết rằng, mình đã mù, trọn cả đời sống trong bóng tối, phải đi chặt củi, đi gánh nước, đi bẻ ngô, làm cỏ lúa, đi bán tăm mỗi ngày cuốc bộ 20km… để mà sống. Và, nếu không muốn sống, chị đã tự tử từ năm chị sờ soạng búng dây tính tẩu lần đầu tiên, năm ấy chị 14 tuổi, chứ chẳng đợi đến bây giờ…”, chị Miên nói chậm mà rất triết lý. Hình như chị quên mất rằng ruộng ngô khô ron kia gồ ghề lắm, đi giày thể thao mà chúng tôi vẫn vấp ngã, trong khi chị mù bẩm sinh, mù tuyệt đối. Có lần nhìn chị làm cỏ lúa, tôi cứ chăm chú xem chị có tưởng lúa là cỏ mà vặt nó đi không. Ai ngờ, đôi tay chị có mắt.
Khi chúng tôi muốn tặng một món quà kỷ niệm, chị Miên bảo: nhà báo làm ở đài, hôm nào tặng chị cái đài (radio). Chị hay bị mất phương hướng, lúc chặt củi, lúc bẻ ngô, cái khó nhất là biết định hướng nhà mình ở đâu, bó củi mình để ở đâu để… tìm về. Tìm ra hướng rồi thì cây gậy sẽ dò ra lối đi được. “Lúc đầu chị nuôi hai đứa con của cô em gái (cô này bỏ chồng). Con Hoa, con Nhung (hai đứa nhỏ) cứ đứng đó gọi chị về, nhưng giờ thì chúng nó đi lấy chồng cả rồi. Chị chợt nghĩ ra, nếu có một cái đài đang đọc thơ, đang hát các bài hát, thì chị sẽ theo tiếng của nhà đài mà tìm về chỗ bó củi, chỗ nhà mình được” - chị Miên nói, ai nấy trong chúng tôi nghe xong, cùng tái mặt. Một ước mơ giản dị, một sự sáng tạo đầy lạc quan của người đàn bà mù trong căn lều hoang vắng.
Hôm nay chúng tôi đến, tặng chị chút tiền, cây đàn tính và cái radio.
Nương theo tiếng đàn để mà sống
Phóng viên Đàm Trình của Đài PTTH Cao Bằng đem quà của nhà báo Triệu Thị Mai tặng cho chị Miên cái radio xong, nhìn ngôi nhà trống huênh gió thốc, lại nhìn cảnh chị Miên đem cái đài ra ruộng, che chắn cho nó như lợp mái cho ngôi nhà của mình (đề phòng trời mưa đài sẽ hỏng), anh Trình rơm rớm nước mắt. Anh Trình cũng là người Tày, cũng ở nước non Cao Bằng này… Quay cảnh chị Miên chặt củi trên rừng, chị đi tự mù mẫm đi hái rau ngải đắng ở ven suối rồi trở về lần mò nấu nướng, ngồi một mình một mâm, lúc đầu Đàm Trình ngạc nhiên, bái phục bà chị mù tháo vát; nhưng, dần dà, càng ngẫm anh càng thấy đau. Củi giờ cũng hết, rừng giao cho từng hộ khoanh nuôi toàn bộ, suối cạn, rau ngải cũng trui theo mùa hanh hao, chị Miên đành ngồi ăn cơm nhão bỏ vài hạt muối vào. Ngày chỉ nấu một lần, ăn hãi bữa, bữa nóng, bữa nguội. Năm mươi tuổi đầu, nửa thế kỷ không trông thấy một tị ti ánh sáng, dường như cuộc sống của chị Miên trôi theo kiểu cho nó đoạn tháng qua ngày.
Nhưng không phải thế, có gắn bó thì người ta mới có thể hiểu, chị Miên sống rất lạc quan. Vừa lẩn mẩn cầm gậy dò dẫm ra vườn hái rau cỏ về nấu bữa trưa, chị Miên vừa hát. Chị nhờ hàng xóm đi xin cho một quả bầu to, phơi khô, rồi nhờ người chế tác cây đàn tính mới. Kẻo cái cây cũ hỏng rồi.
Cây đàn đó là do một anh thợ mộc đến làm nhà cho bố mẹ chị Miên tặng cho chị, lúc ấy chị mới 14 tuổi đầu. Anh ấy ở xã bên, thấy em Miên đêm nào cũng theo bố đánh đàn, hát theo chúng bạn vài lần là thuộc cả một bài, nhí nhảnh đáng yêu quá, anh mới gọt một quả bầu, chế tác cây đàn làm quà. “Không phải tình yêu đâu, chỉ thích nhau thôi”, nhớ lại ngày đó, chị Miên cười hạnh phúc. Mắt chị chưa nhìn thấy anh ấy, chưa nhìn thấy cây đàn, nhưng mấy chục năm qua, chị luôn tin là cả anh ấy và cây đàn đều rất đẹp. Sau này, yêu anh Dũng (quê ở Thái Nguyên, người đã sinh con với chị Miên), chị cũng thấy anh Dũng đẹp, đứa con gái Hoài Thơm vĩnh viễn bảy tháng tuổi với bệnh não úng thủy của chị lại càng đẹp. Khi “chồng” ra đi, con gái chết, chị Miên bắt đầu hát những bài buồn thảm. Khi ông Điện, nhà ở xã V©n Trình bên cạnh đi làm Phó chủ tịch Hội người mù huyện, về căn nhà nát của chị Miên để vận động chị sinh hoạt hội, học chữ nổi brai, chị Miên vui ruộng ngô nứt nẻ gặp mưa rào. Chị học và sáng tác bằng chữ nổi. Vừa cắp rá sang hàng xóm vay gạo, vay ngô về ăn, vừa rúc xuống gậm giường cho mưa khỏi hắt vào người giữa đêm đen miền đá tai mèo lạnh buốt, chị Miên vừa tự sưởi ấm mình bằng thơ và nhạc. Chị đem theo thơ và nhạc đi bán tăm khắp nơi, bước chân chị đến đâu, danh sách các bài thơ chữ nổi lại có cơ hội dài ra đến đó.
Tại “Liên hoan tiếng hát từ Trái tim đến Trái tim” dành cho người mù toàn tỉnh Cao Bằng năm 2004, chị Miên hát bài “Ba Bể PÐ tiên” lí lơi lắm, rồi đàn tính của chị ngọt lịm cả khán trường, ai nấy lặng đi; bỗng, chị Miên bật khóc giữa chừng, hôm ấy, bố già của chị vừa chết vài ngày. Chị đoạt giải Ba. Rồi các dịp liên hoan ca nhạc khác của người mù, như dịp tổ chức ở Hòa An vừa rồi, chị Miên lại đoạt giải quán quân. Chị thong dong “thả” tiếng đàn tính vào đêm trường hẩm phận của những người bạn mù khắp nơi, rồi hát với đủ “Bài hát của người (mù) bán tăm”; rồi cả cái bài rất thời sự “Mìa thán phua kin lảo” (vợ trách chồng nghiện ma túy hư thân). Nhiều bài trong số đó, do chị tự sáng tác. Có lần đi học nghề làm nấm (dành cho hội viên người mù), trong đoàn chị và một người đàn ông khiếm thị khác đã cảm mến nhau, cái tình nặng lắm nhưng chị không dám đi thêm một bước nào về phía ấy, bởi, rồi anh ấy cũng phải xuống xe giữa chừng để về với vợ con. Nghĩ đến đấy, chị Miên khóc, làm bài thơ rồi hát “Phiặc căn dó kha tàng” (chia tay giữa dọc đường). Bài ấy, gửi lên Đài Cao Bằng, ai ngờ được phát thanh viên đọc lên sóng toàn tỉnh, giọng cô phát thanh viên cứ trong ngần như khí trời dưới chân đèo Ngườm Kim lúc tinh sương. “Anh ấy” ở tít huyện Phục Hòa cũng nghe được, có bắn tin cảm ơn “thi sỹ Mộc Miên”.
“Phận mù như mình, cũng lắm người chạm chân đá gót lắm. Nhưng họ ghé vào căn nhà trống giữa đồng hoang này, họ toàn người lang thang, kiểu anh bán thuốc dạo, chị chả dám theo ai” - chị Miên buông cây đàn tính, thở dài. “Chị đánh đàn bây giờ chán lắm, hai bàn tay đau đớn, bị bệnh thấp khớp, cả tháng vừa rồi nằm viện mà không khỏi”, chị khóc nhiều lắm, dẫu gì thì hồng nhan như chị cũng dính phải cây đàn, thơ phú, lại đa đoan. Chứ có cam phận tàn tật như người ta đâu. Buông lời, buông tay khách, chị Miên đi ra phía cái radio đang hát giữa khung sân rậm rịt toàn cỏ dai. Rồi chị vào bếp, xòe diêm, chuẩn bị nấu cơm. Chị vẫn thắp đèn dầu, ngôi nhà ấy chưa bao giờ có bóng điện. Mà người mù cô đơn cô quả như chị, thì cần điện sáng để làm gì cơ chứ?
Đ.D.H
Kèm chùm ảnh
Chi Mien 2: Người đàn bà mù Hoàng Thị Hồng Miên coi cây đàn tính và các bài thơ của mình là “nơi nương tựa” để sống.
Chi Mien 1: Chị Miên và ngôi nhà rách nát “gượng đứng” một mình trong thung lũng vắng.
Chi Mien 4: Chị đã xin nhà báo tặng 1 chiếc radio làm “la bàn” để đi kiếm củi, làm đồng và… tìm đường về nhà.
Chi Mien 5: Chị Miên từng nhận nhiều giấy khen vì thành tích “văn nghệ” và sinh hoạt hội người mù như thế này.












