Thử viết chân dung vài người mà mình vẫn hay nhớ đến (bài 1):
Friday, June 27, 2008 8:55:10 AM
Vị cứu tinh của “giờ lễ mật”…
Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng
Có thể đọc bài trên Báo Lao Động:
http://www.laodong.com.vn/Home/phongsu/2008/6/94677.laodong
Năm nay 93 tuổi, mắt vẫn sáng, tai vẫn nghe rành, răng vẫn đều chằn chặn, cụ Dương Văn Thâm vẫn lặng lẽ là cây sử sống của làng. Vốn là một hương sư thời phong kiến, biết chữ Nho nhiều hơn chữ Quốc ngữ, đi dạy Bình dân học vụ, lên Bộ Giáo dục công tác, về Ty (Sở) Văn hóa làm việc đến lúc hưu - bây giờ đang sống với cái thời toàn cầu hóa của tên lửa vũ trụ năm 2008, song cụ Thâm vẫn nguyên vẹn khí chất của một nhà Nho, kẻ sỹ thời cổ. Đủng đỉnh, sương khói, tự khắc nghiệt với mình. Ít ai ngờ, cụ đồ kín tiếng ấy là người đầu tiên, từ năm 1972 đã ghi chép lại lễ hội “Linh tinh tình phộc” (nõ nường) “gai góc” nổi tiếng của Tứ Xã diễn ra vào năm 1928 (!); là người nghiên cứu công phu về cuộc đời ngọt chát bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, với những ngày làm vợ Tổng Cóc; là tác giả của cả chục công trình nghiên cứu, sưu tầm có giá trị khác.
Cái nếp nghĩ, nếp làm vừa cổ, vừa lạ và khả kính như ông, bây giờ thật hiếm!
Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng
Có thể đọc bài trên Báo Lao Động:
http://www.laodong.com.vn/Home/phongsu/2008/6/94677.laodong
Năm nay 93 tuổi, mắt vẫn sáng, tai vẫn nghe rành, răng vẫn đều chằn chặn, cụ Dương Văn Thâm vẫn lặng lẽ là cây sử sống của làng. Vốn là một hương sư thời phong kiến, biết chữ Nho nhiều hơn chữ Quốc ngữ, đi dạy Bình dân học vụ, lên Bộ Giáo dục công tác, về Ty (Sở) Văn hóa làm việc đến lúc hưu - bây giờ đang sống với cái thời toàn cầu hóa của tên lửa vũ trụ năm 2008, song cụ Thâm vẫn nguyên vẹn khí chất của một nhà Nho, kẻ sỹ thời cổ. Đủng đỉnh, sương khói, tự khắc nghiệt với mình. Ít ai ngờ, cụ đồ kín tiếng ấy là người đầu tiên, từ năm 1972 đã ghi chép lại lễ hội “Linh tinh tình phộc” (nõ nường) “gai góc” nổi tiếng của Tứ Xã diễn ra vào năm 1928 (!); là người nghiên cứu công phu về cuộc đời ngọt chát bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, với những ngày làm vợ Tổng Cóc; là tác giả của cả chục công trình nghiên cứu, sưu tầm có giá trị khác.
Cái nếp nghĩ, nếp làm vừa cổ, vừa lạ và khả kính như ông, bây giờ thật hiếm!
Lễ “Linh tinh tình phộc” của 80 năm trước!
Đồng chí Hoàng và cụ Dương Văn Thâm khi bàn về món "Linh tinh tình phộc" rất là gọi mời và ám ảnh
... Ảnh cũ, chụp năm 2004 thì phải.Cụ Thâm đang sống ở xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Nếp nhà cổ thanh bạch, hai cụ già sống lành lẽ với một vườn rau tập tàng. Có khi tôi thấy bà cụ hứng nước mưa từ giọt gianh, rửa vài cọng rau bò lan vào tận mép nhà, thế cũng thành bữa cơm xế bóng. Tôi bắt đầu giật mình về sự đắm say với nghiên cứu sưu tầm của cụ Thâm, khi mà đi tìm hiểu đến tận cùng cái gì ở vùng đất tổ Vua Hùng, cuối cùng văn bản gốc, nghiên cứu “nguồn” vẫn lại hướng cả về cụ Thâm. Có quá nhiều nhà nghiên cứu, có khi là cán bộ Sở, có khi là cán bộ Trung ương, có khi là cái người thức thời nào đó ở địa phương… đã “sử dụng” (nếu không nói là “chôm”) gia tài nghiên cứu của cụ Thâm. Hình như cụ biết cả. Cụ Thâm cũng vẫn nhỏ nhẹ, cao đạo thế. Ai công bố, công trình mang tên ai, thì phỏng có quan trọng gì? Bởi cụ là một cái kho tư liệu quý.
Sinh năm 1915, nghĩa là ở cái thời mà những 30 năm sau chế độ phong kiến Việt Nam mới chính thức bị diệt vong, anh hương sư (giáo làng) Dương Văn Thâm có cả chục năm gõ đầu trẻ bằng “Tam tự kinh” của Hán học. Năm 1945, Cáng mạng tháng Tám thành công, anh Thâm theo tiếng gọi của Đảng, tham gia diệt “giặc dốt” với phong trào Bình dân học vụ. Đi khắp nơi, anh giáo Thâm nổi tiếng trong cả vùng với việc sáng tác những bài “ca dao” nôm na cho bà con nương vào đó mà xóa mù. Lên tận Bộ Giáo dục, làm ở Nha Bình dân học vụ; rồi về Ty (Sở) Văn hóa Vĩnh Phú làm việc đến khi nghỉ hưu, trong quá trình lang thang khắp chốn, ông Thâm đã sớm nhận thấy sự tàn nhẫn của thời gian, của nhận thức ấu trĩ một thời khiến không giá trị truyền thống quý giá bị hiểu sai, bị diệt vong. Phải tìm cách lưu giữ!
Gần nửa thế kỷ qua, ông đã miệt mài, âm thầm làm việc đó. Điều đáng quý là, ngay từ trước năm 1970, khi mà lễ hội phồn thực ở Tứ Xã quê ông còn bị coi là dâm tục, là đáng phỉ báng, ông Thâm đã quyết liệt nghiên cứu, lưu giữ với suy nghĩ: đó là văn hóa.
Bìa tập tài liệu đóng bằng giấy… xi măng, ghi rõ: “Một tấn Trò Trám, trước cách mạng tháng Tám, năm 1945”, hoàn thành ngày 25/6/1972. Thế là đã 36 năm trôi qua. Chữ viết tay thanh mảnh, chuẩn mực như chữ trẻ tiểu học. Thời điểm mà công trình đề cập, là năm 1928, tức là cách đây đúng 80 năm, cái thời mà nước mình hầu như không nghĩ đến (hoặc không thể có) quay phim chụp ảnh, ghi âm để lưu giữ các tấn trò nguyên bản, cổ xưa, hớp hồn người ta như Trò Trám - thì phải làm sao để cho con cháu biết được? Để sau này nó không bị “gieo vừng ra ngô” vì không ít kẻ ấu trĩ? Ông Dương Văn Thâm khoát tay, quyết liệt: phải ghi chép lại. “Giáo Thâm” cứ lân la hỏi chuyện, rồi trà dư tửu hậu, ý nhị ghi chép. Chứ các cụ ngại kể lắm, thậm chí nhiều người còn mặc cảm vì cái sự “dâm tục” mà quê mình phải… lưu giữ lắm. Vì lễ hội Trò Trám, và cái lễ mật nguyên bản cuối cùng diễn ra vào năm 1928. Đến lúc, khoảng năm 1965, giáo Thâm quan tâm, thì đã 37 năm trôi qua, người mà mải mê “trên bộc trong dâu” kỳ “lễ mật” với người yêu trong mộng nhất, cũng đã vào tuổi ít nhất là đã tròm trèm 60. Có cụ 90 tuổi rồi. Cái nhớ, cái quên.
Công trình là lý do quan trọng, để lễ hội được phục dựng năm 2001, để chúng ta biết và trân trọng Trò Trám như hôm nay.
Khi thực hiện công trình, cụ Thâm khảo sát rất kỹ các làng của Tứ Xã, từ địa lý, phong tục, từ cái cách nói ngọng, thích nói tục; đến từ tín ngưỡng phồn thực như treo cả nõ nường (sinh thực khí của nam và nữ) ở trước cửa nhà sản phụ, ở giàn bầu giàn mướp cho nó sai quả, sinh sôi. Ông gặp các cụ già, đọc thần tích, thần phả, bia đá, sắc phong, giải thích vì sao làng tên là Cổ Lãm, vì sao gọi là xóm Trám, Trò Trám. Ông gặp từng người già trực tiếp tham gia cái lễ Trò Trám nguyên bản cuối cùng (năm 1928) để hỏi, cụ nào, tên là gì, làm vai trò gì, sau đến lượt ai, ai cầm cái nõ, ai giữ cái nường đâm vào nhau, rất cụ thể, như những thước phim tài liệu chuyên nghiệp nhất.
Lễ lấy giờ, phải đợi tiếng gà gáy canh một (tức là giờ Tý, 12h đêm); rồi từng bước đi đến… nam nữ giao hợp thoải mái, xin trích, cụ thể đến ngỡ ngàng: “Một bên là nam, cầm cái dùi gỗ hình dương vật, một bên là nữ, cầm cái mu rùa bằng gỗ hình âm vật. Nghe dứt tiếng xướng của cụ già: “Linh tinh tình phộc”, thì hai bên xích lại gần nhau, chạm cái dùi vào cái mu rùa ba lần để lấy khước. Khi toàn dân trong phường nghe tiếng chiêng chống inh ỏi báo hiệu đến giờ ở ngoài miếu trò, thì từng đôi nam nữ có quyền hoạt động sinh lý (tình dục) với nhau mà không tội vạ gì”.
Sau khi diễn tả đủ lễ rước bông lúa, rước cây lúa thần (là cây mía cắm cắm vào cái lục bình lớn), ông Thâm “dựng” lại chi tiết từng trò chơi một, ông đồ, đứa học trò, anh thợ mộc, anh đàn hát, đánh cá, nam nữ tán tỉnh cấu chí nhau, có lời rất thanh, có lời thậm tục - từng lời ca, từng người có tên tuổi cụ thể. Buổi lễ năm 1928, có những người tham gia như sau (giống như giới thiệu diễn viên thủ vai trong phim ảnh hiện nay): Cụ đồ do ông Bùi Văn Phượng đóng, học trò do Chử Văn Kính hóa trang, có người “giả làm nữ” như Dương Văn Đào, có người đóng vua Thuấn đi cày ruộng như Chử Văn Phấn…
Cụ Thâm viết rất tỉ mỉ: “Hôm ấy, ngày 12 tháng Giêng âm lịch, năm Mậu Thìn, 3/2/1928”. Đủ các loại hoạt cảnh xuất hiện: nào là anh vác đàn tranh gẩy phừng phừng, “cây đàn” rất kỳ dị. “Một cái mẹt làm bầu đàn, những khẩu lá chuối làm phím đàn, một khẩu thừng trâu làm “giây đàn”, một chiếc đũa cả làm “cây gẩy đàn”. Anh đập đũa cả vào thừng trâu phành phạch, nhưng miệng anh thì lại tấu lên những tiếng đàn ngân nga”.
Rồi lại xuất hiện anh tên Sinh cầm tấm cót dán giấy đỏ viết bốn chữ “Tứ dân chi nghiệp” nguệch ngoạc ra, hát trình trò:
“Ôi ối, ồi a
Bước sang năm mới tôi ra trình trò.
Trai thì giữ lấy nghiệp Nho
Gái thời canh cửi chớ cho hỗ hào.
Cày bừa chẳng quản công lao
Đi buôn làm thợ, nghề nào cũng hay!”.
Ngoài những cảnh nam nữ ghẹo nhau, hay cái sự tính giao phồn thực, cảnh nào cũng thú vị. Ngồi nghe thầy đồ “dữ đòn” cầm roi dạy chữ, học trò “đứa” nào cũng “quần cộc nâu, đầu chít khăn tai chó màu nâu, lưng thắt dây lưng chồi màu đỏ, đi chân đất”. Nghe đã thấy hề. Cảnh vua Thuấn đi cày, con voi của vua là hai người đàn ông làng Tứ Xã hóa trang như thật với tai to; vòi lớn bằng nan tre, đan mắt cáo, dán giấy vàng; ngà trắng muốt là hai cành cây xoan tươi tước vỏ, “voi” vừa nghe lệnh vua, vừa ghẹo gái, tiếng đàn bà rú lên chạy trốn. Hay như lời hát của “ông Nhung, hóa trang làm mộc, với râu dài tóc bạc, gánh trên vai ba cái lờ khá to, nghênh ngang như một chị hàng bồ đi qua dãy phố”:
"Ai ơi chớ bảo tôi già
Tôi còn gánh được cả ba cái lờ
Lờ này chẳng phải lời không
Có ba con bấc nằm trong cái lờ".
Tất cả cùng cười, đàn bà con gái đỏ mặt nấp sau lưng bạn. Cứ thế tiếng cười ròn vang, tích trò diễn ra mãi đến khi trời tối. Trời tối lại có cái “lễ mật” riêng của các cặp đầu mày cuối mắt.
Nửa thế kỷ dốc sức cho “mỏ quặng” quê nhà
Ông Thâm có niềm đam mê đặc biệt với từng tầng vỉa văn hóa vùng Đất Tổ, nhất là chuyện vùng Kẻ Gáp (Tứ Xã). Từ một câu chuyện dân gian, truyện danh nhân, đến những tác phẩm công phu như: “Bản anh hùng ca bất tử” viết về truyền thuyết vua Hùng; “Dân ca dân vũ Trò Trám”; “Tục đánh cá thờ”; “Nghề mộc cổ truyền làng Tứ Xã”; sưu tầm về “Danh nhân văn hóa Đinh Công Tuấn và Trạng Trình”; truyện thơ “Sức sóng”; “Lân Hổ và đền thờ Xa Lộc”’; “Phong tục Tứ Xã”, “Truyện vui, truyện lạ, truyện cười” (100 trang)…
Được dư luận chú ý, sách báo nhắc đến nhiều hơn cả, là công trình ông Thâm phối hợp điền dã với nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn tìm hiểu về bà chúa Thơ Nôm Hồ Xuân Hương và những ngày làm dâu ở Tứ Xã. Công trình của ông Thâm và ông Nhàn đã chỉ rõ: Tổng Cóc là một ông quan tài hoa, lãng tử, đã lấy Hồ Xuân Hương làm vợ thật. Khu “thủy tạ” chàng xây cho nàng, cái ao, ngôi nhà gỗ vợ chồng bà chúa thơ Nôm từng sống, tiếng xấu (đỏng đảnh, lười làm, trăng hoa…) mà Hồ Xuân Hương để lại vẫn còn lưu giữ, lưu truyền ở Tứ Xã. Công trình đã khiến GS Lê Trí Viễn và nhiều bậc thức giả phải về tận Tứ Xã khảo cứu, và ai ghi nhận sức huyết phục bất ngờ của những tư liệu người thật việc thật mà ông Thâm đã ghi chép được. Ông Thâm còn tìm thấy ngôi nhà có chữ do bà Hồ Xuân Hương viết lên vách đang được ông giáo Phú gìn giữ ở xã Sơn Dương chỉ cách Tứ Xã một cánh đồng. Đôi lục bình làm bằng gỗ có chữ Nôm (đã được đọc, dịch nghĩa, công bố), bà con đều kể là của Hồ Xuân Hương, cũng đang được anh Thắng ở Tứ Xã lưu giữ.
Cả một kho bản thảo, công trình đã xuất bản của cụ Dương Văn Thâm chất ngất trong nếp nhà cổ giản dị ấy. Ai cũng biết, nếu không có cụ, thì sẽ không có việc phục dựng được lễ hội Trò Trám sau hơn 70 năm biến mất, sẽ không có hàng đoàn học sinh, sinh viên, các nhà nghiên cứu về Tứ Xã để hiểu hơn về một Bà Chúa thơ Nôm có quãng đời làm dâu chẳng giống ai trên quê hương Tổng Cóc, nơi bà đã sáng tác những áng thơ cay xót và trác tuyệt nhất. Với rất nhiều đóng góp thầm lặng của mình, nhà Nho Dương Văn Thâm đã được trân trọng tôn xưng là nhà folklore trứ danh trong cuốn “Các nhà Folklore Việt Nam”; Huy chương vì sự nghiệp Văn nghệ Dân gian Việt Nam; huy hiệu vì Sự nghiệp văn học nghệ thuật…
Đ.D.H













Unregistered user # Friday, June 27, 2008 11:03:15 PM