Thử viết chân dung vài người mà mình vẫn hay nhớ đến (bài 2):
Friday, June 27, 2008 9:04:37 AM
Pho sử sống ở Mù Căng Chải…
Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng
(Đã đăng báo Lao Động cuối tuần, số ra ngày 26/6/2008)
Mù Căng Chải chìm khuất trong mây cao. Từ tỉnh lỵ Yên Bái, vượt đèo Khau Phạ, vượt hơn 200km mới vào đến huyện Mù Căng Chải, đoạn đường ấy còn xa hơn cả dặm dài huyện đồng rừng Yên Bái xuôi Hà Nội. Mây ở Khau Phạ (theo tiếng Thái là cái sừng núi nhô lên tận trời) quánh đặc và mịt mù tới mức, trước năm 1945, đội Du kích Khau Phạ đã nương theo mây gió, “xuất quỷ nhập thần”, làm cho giặc Pháp hãi hùng rồi chúng kiêng nể gọi là “Những chiến binh mây mù”. Đội du kích đó, giờ chẳng ai còn sống, khi mà tỉnh nhà Yên Bái đang làm hồ sơ di tích, sắp dựng đài dựng bia tưởng niệm “Đội Du kích Khau Phạ” trên đỉnh Sừng Trời.
Ông Hứ vẫn trầm mặc ngồi trước mặt tôi, như một pho sử sống quyến rũ của xứ Mù Căng. Tham gia đội Cứu quốc quân từ tháng 3 năm 1945, ông Hứ có tới 64 năm trời (!), từng đi khắp các ngõ ngách của cả Tây Bắc mênh mông, khoác súng làm quân tình nguyện ở cả Bắc Lào. Mê mẩn với xứ thần tiên hoang sơ Mù Căng Chải, ông Hứ đã học đủ tiếng Mông, tiếng Thái, tiếng Tày, Nùng, Khơ Mú… rồi lấy một mỹ nữ người Mông (đẻ tới 13 người con) từ khi huyện Mù Căng Chải chưa thành lập.
Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng
(Đã đăng báo Lao Động cuối tuần, số ra ngày 26/6/2008)
Mù Căng Chải chìm khuất trong mây cao. Từ tỉnh lỵ Yên Bái, vượt đèo Khau Phạ, vượt hơn 200km mới vào đến huyện Mù Căng Chải, đoạn đường ấy còn xa hơn cả dặm dài huyện đồng rừng Yên Bái xuôi Hà Nội. Mây ở Khau Phạ (theo tiếng Thái là cái sừng núi nhô lên tận trời) quánh đặc và mịt mù tới mức, trước năm 1945, đội Du kích Khau Phạ đã nương theo mây gió, “xuất quỷ nhập thần”, làm cho giặc Pháp hãi hùng rồi chúng kiêng nể gọi là “Những chiến binh mây mù”. Đội du kích đó, giờ chẳng ai còn sống, khi mà tỉnh nhà Yên Bái đang làm hồ sơ di tích, sắp dựng đài dựng bia tưởng niệm “Đội Du kích Khau Phạ” trên đỉnh Sừng Trời.
Ông Hứ vẫn trầm mặc ngồi trước mặt tôi, như một pho sử sống quyến rũ của xứ Mù Căng. Tham gia đội Cứu quốc quân từ tháng 3 năm 1945, ông Hứ có tới 64 năm trời (!), từng đi khắp các ngõ ngách của cả Tây Bắc mênh mông, khoác súng làm quân tình nguyện ở cả Bắc Lào. Mê mẩn với xứ thần tiên hoang sơ Mù Căng Chải, ông Hứ đã học đủ tiếng Mông, tiếng Thái, tiếng Tày, Nùng, Khơ Mú… rồi lấy một mỹ nữ người Mông (đẻ tới 13 người con) từ khi huyện Mù Căng Chải chưa thành lập.
Người chép sử trong mây
13 người con, 27 năm trong quân đội, làm đến huyện đội trưởng; sau khi về hưu, làm thêm 16 năm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện, đã già nửa thế kỷ sống với vùng đất chỉ nghe tên đã thấy mịt mù hoang rậm Mù Căng Chải – thế nên, ký ức, cảm nhận, và cả những nhận định của ông về vùng đất nồng say này đã khiến người ta phải sửng sốt...
Nước ta có hai cái huyện mà chỉ cần xướng tên địa danh lên thôi, là người ta đã coi như một tính từ chỉ sự xa xôi, kham khó, bịt bùng. Đó là Mường Tè và Mù Căng Chải. Cái tên Mù Căng Chải, xuất hiện từ thời còn Khu Tự trị Thái Mèo, bấy giờ là Châu Mù Căng Chải; còn huyện Mù Căng Chải chỉ chính thức xuất hiện cách đây hơn 50 năm. Nhà nước ta cắt ba cái khoanh khuất nẻo nhất của 3 huyện thuộc 3 tỉnh miền núi (hiện nay) là Mường La(tỉnh Sơn La); huyện Than Uyên(tỉnh Lai Châu) và huyện Văn Chấn (tỉnh Yên Bái) để ghép thành Mù Căng Chải. Cái huyện điệp trùng rừng núi này toàn là người Mông, chỉ duy nhất có một Bản Thái (của người Thái) nằm ở ngay gần thị trấn huyện lỵ, với vẻn vẹn 60 hộ dân.
Người Mông “ăn theo mây mù”, nổi danh với nghệ thuật trồng cây thuốc phiện trong mây. Vậy nên, suốt 64 năm gắn bó với miệt rừng Mù Căng Chải, ông Hứ bị ám ảnh nhiều bởi cái thời “chưa bao giờ huyện nhà lắm màu sắc thế”: hoa thuốc phiện. Huyện là cái vựa thuốc phiện lớn của Tây Bắc. Trước năm 1993, khi nhà nước còn động viên bà con trồng cây anh túc để bán cho nước ngoài làm dược liệu, Mù Căng Chải rợp trời với hàng nghìn héc-ta hoa anh túc. Hoa vàng mê mải, hoa tím não nùng, có khi hoa trắng tinh khiết trải khắp các thung lũng, như là kéo đến tận chân trời. “Ông nói thật nhé, bà con chỉ cần trồng một bãi cây thuốc phiện trước hiên nhà, sau khi hoa tàn, quả thuốc phiện cho nhựa trắng muốt. Cả một chậu đầy. Thuốc phiện ở đây “ngon” nổi tiếng. Bà con cứ bảo, có cây nào nó ma hay sao mà lắm nhựa thế chứ lị” – ông Hứ hoài niệm. Vẫn biết trồng thuốc phiện là một sai lầm, chúng ta đã sửa sai. Và bản thân ông Hứ, nhiều năm qua, nay, dẫu ngoại thất thập vẫn băng băng leo đèo lội suối dẫn đoàn cán bộ đi tiễu trừ những nương anh túc cuối cùng của Mù Căng Chải. Bởi vì ông Hứ là người đã in dấu chân khắp Tây Bắc, khắp từng lối mòn bản vắng của Mù Căng Chải, nên ông biết rất rõ rằng: ở cái huyện này, chỗ nào trồng được cây thuốc phiện ngon, cho nhiều nhựa. Ông đã dẫn “quân” đi phá, thì kiểu gì cũng trúng chỗ người ta ương bướng trồng thứ cây, hoa, quả “ăn thịt người”. Mấy cán bộ trẻ đi bộ không theo nổi sức “già Hứ”, cứ bán tín bán nghi, cụ Hứ có thể ngửi được mùi hoa anh túc tím từ khoảng cách 30km! Ông đi khắp Chế Cu Nha, La Pán Tẩn, Lao Chải, Nậm Có để phá cây thuốc phiện được kẻ xấu lén lút trồng. “Bởi vì tôi nhớ những vùng đất mà ngày xưa người ta trồng thuốc phiện rất tốt. Chứ chỗ nào quả anh túc chỉ bé bằng ngón tay, cả khoảnh nương không chích được bát con nhựa thuốc phiện, bà con hư kia, “nó” không trồng đâu”. “Nhưng có một điều mà tôi có nói ra cũng chẳng ai tin. Rằng, năm 1954, nhà nước ta có tiến hành kiểm kê toàn bộ số người nghiện ma túy trên địa bàn Mù Căng Chải, bấy giờ chả ai “cấm đoán” thế mà cả huyện chỉ có 500 người già nghiện thuốc phiện theo kiểu hút bàn đèn thôi. Các cụ nghiện thuốc phiện sạch sẽ lắm, “thơm ngon” lắm. Thế mà, giờ chúng ta thi nhau “cấm”, mọi lực lượng ra sức “chống”, Mù Căng Chải ngày mới vẫn có cả nghìn người nghiện ma túy, mà lại toàn là giới trẻ, là tương lai, là sức lao động chính. Nói thẳng ra, thanh niên bây giờ nhiều người hư lắm, chả chịu học chịu làm, cứ sề sà bắt chước nhau hút hít” - ông Hứ rủ rỉ. Phép so sánh trên của cụ già Hứ, dễ khiến người ta giật thột.
Ông Hứ đã máu thịt gần như trọn cả một đời với đất Mù Căng Chải này. Xưa, thả phanh trồng thuốc phiện, nhưng dân vẫn cứ nghèo kinh khủng. “Bây giờ, nếu so về mức sống và về sự giác ngộ của bà con đi theo lẽ sáng, dân Mù Căng Chải tiến bộ gấp 100 lần. Trước, toàn bộ phụ nữ ở cái vùng mênh mông nay, hễ cứ trông thấy đàn ông lạ là chạy trốn tiệt trong rừng. Giờ thì có khi chị em còn đi “tán giai” ấy chứ (cười)”. Quê gốc ở Hạ Hòa dưới tỉnh Phú Thọ, vượt đèo Khau Phạ, đi lùi lũi trong mây như Thác Tháp Lý Thiên Vương tuần du hạ giới, ông cùng các chiến binh trẻ tuổi vào giác ngộ bà con theo cách mạng. Bấy giờ là “phỉ toàn dân”, quá nhiều lần suýt “mất gáo” vì đấu súng giáp lá cà với bọn chúng. Nếu như tận giờ phút tôi viết những dòng này, đường quốc lộ vào Mù Căng Chải vẫn thỉnh thoảng lại tắc khi mưa lũ sạt núi, huyện nhà đôi khi vẫn bị cô lập hoàn toàn trước sự quẫy đạp của thiên nhiên khắc nghiệt; thì chẳng có gì là khó hiểu, khi mà 50 năm trước, ông Hứ cùng đồng đội (và bà con) phải đi bộ ròng rã suốt 4 ngày đêm mới vượt qua được chất ngất núi từ Mù Căng Chải ra đến thị xã Yên Bái. Bà con quá khổ: bà con ủng hộ cách mạng, nhưng vẫn phải nai lưng ra làm để… tiếp tế cho “phỉ”. “Nó đến thì tiếp tế cho nó (phỉ), ta đến thì lại tiếp tế cho ta (cách mạng) - nếu không thế thì làm sao mà sống được để tiếp tục theo cách mạng, chả cháu? Mà bấy giờ không có gạo ăn, chưa biết cấy lúa nước, chỉ làm lúa nương, không có phân bón hay kỹ thuật canh tác gì. Lúa ngắn, còm, xác xơ đến mức, con chó chạy trong ruộng còn hở cái đuôi lên. Lúc gặt, phải ngoắc liềm tịt xuống dưới mặt ruộng, cắt trọn vẹn cây lúa thì cây lúa nó mới đủ dài để bó và đập lúa được!”. Bà con ở trên Púng Luông, cái đỉnh cao tới 2.700m so với mực nước biển, heo hút gần tới cả nóc nhà toàn cõi Đông Dương rồi, bà con lại càng khổ sở.
“Tôi đã chứng kiến tận mắt hành động anh hùng của nhiều người yêu nước dân tộc Mông ở Mù Căng Chải. Như cụ Chơ, làm đến Thống lý thời Pháp, song cụ sớm được giác ngộ theo cách mạng. Cụ vận động anh em trong xã, sớm tập hợp được 50 khẩu súng lớn vào nhà mình để che mắt bọn cú vọ diều hâu ở các bốt gác. Khi du kích nổ súng, ta cứ tràn vào lấy súng, trong đánh ra, ngoài đánh vào mà giết “giặc”. Sau này cụ được Nhà nước ta thưởng Huân chương, con cụ, là anh Tỏa làm Bí thư, Chủ tịch xã mấy khóa. Từng chứng kiến cảnh thằng Pháp đến vùng đất mây mù, len lỏi, bắt bớ, giết chóc, hãm hiếp, tù đày quá nhiều, ông Hứ đau. Ông không thể quên hình ảnh cụ Lù Vảng Páo, địch bắt con trai ông hòng dụ ông về nộp tài liệu mật của tổ chức cách mạng. Biết nó treo cổ giết con mình, ông cũng đành tím ruột bầm gan rút vào rừng để bảo toàn tài liệu mật cho sự nghiệp lớn”. Có đồng chí bị địch tra tấn bằng cách bắt tuột từ trên đỉnh cái cọc tre cao xuống, dọc thân cọc, các lớp cật tre được đẽo thò lật ra, sắc như dao kiếm; tụt xuống đến mặt đất, máu me, ruột, gan của đồng chí đã lòng thòng… Tên Thào A Cố chuyên tổ chức bắt, giết rất nhiều cán bộ “ta”. Bên cạnh đó, không thể quên sự “hiện diện” của các đối tượng phản động như Thào Chủ Tu, Hờ Nủ Chúa, Xúa Dình…
Nhiều đêm, tuổi già cô quạnh ở huyện lẻ huyện cụt, sau khi bà vợ người Mông về với Giàng trước, ông Hứ ngồi ngẫm chuyện xưa, chỉ sợ con cháu giờ không sao hình dung nổi. Ông được tỉnh, huyện, thị trấn mời đi nói chuyện truyền thống. 27 năm quân đội, làm đến huyện đội trưởng, 16 năm làm Chủ tịch Cựu chiến binh, lại là người Kinh nói tiếng Mông, tiếng Tày giỏi hơn cả người bản xứ, nên chuyện gì ông Hứ chả biết. Nói cho các cháu nghe, nói cho cán bộ thế hệ sau nghe, chưa đủ - ông Hứ bèn tiếp tục hoàn thiện cuốn “binh yếu” vùng Mù Căng Chải lưu cho mai hậu. Tên họ của từng tên phỉ gian ác, kể cả những tên bị ông và đồng đội liều lĩnh xông vào tiêu diệt “dã man” cũng được viết lại. Hồi ấy địch mạnh quá, “ta” bèn rút vào hoạt động bí mật với nghê thuật chiến tranh du kích, thỉnh thoảng ra mặt tiêu diệt vài tên gian ác.
Ác nhất là tên Vàng A Chống, ở Khau Mang, nó chuyên trị chỉ điểm cho Tây tìm giết cán bộ. Sau khi ông Tiến Thanh, Tỉnh đội trưởng lập tòa án binh, xử tội vắng mặt tên Chống, ông Hứ và đồng đội được lệnh đột nhập nhà tiêu diệt tên Chống. Họ bí mật qua các vòng canh gác, khi vào, hắn đang nằm vểnh râu hút thuốc phiện, hắn tưởng đồng bọn đến, bèn vừa gạt tiêm thuốc phiện, vừa hỏi bâng quơ: “Đến đấy à?!”. Ông Tự, người ở Than Uyên đọc lệnh, cầm dao xỉa luôn vào tim hắn, phủ bản án lên trên ngực hắn, rồi rút. Những câu chuyện chi ly, những đặc điểm mọi mặt của tất cả 130 bản làng của Mù Căng Chải, ông Hứ viết lại tường tận cả trong bản thảo cuốn Binh yếu kể trên.
“Hổ dữ đã giết chết người trung đội trưởng của tôi!”
Ông bà Hứ đẻ được 13 người con, cái thời chưa ai có ý định phanh bánh xe bùng nổ dân số kia, nhiều con luôn được xem là đại phúc. Lại thêm bao nhiêu công trạng của ông Hứ, ông bà con tin yêu lắm, họ từng đề xuất lập một cái bản mang tên ông Hứ. Ông Hứ từng được nhận Huân chương chiến công Hạng nhất, Huân chương chống Pháp, 3 Huân chương chiến sỹ vẻ vang, huy chương, kỷ niệm chương cả thảy 10 lần nhận. “Tôi rất vinh dự, Huân huy chương của tôi toàn là do Hồ Chủ tịch ký, với lại hai cái là cụ Tôn Đức Thắng ký” - Ông Hứ xúc động, khi đêm Mù Căng Chải chỉ còn tiếng côn trùng rả rích. Những ngày hoạt động ở khắp vùng Tây Bắc, sau nhiều trận đấu súng khốc liệt, không giết nổi cán bộ Hứ, bọn phỉ bắt đầu treo giải: ai giết được “thằng Hứ”, sẽ được thưởng 2 tạ muối, 2 súc vải láng loại 1. “Bấy giờ đói cơm nhạt muối, lại ở giữa sơn lam chướng khí, đường về xuôi vời vợi dăm ngày đi bộ trên những sườn dốc bé bằng bụng con ngựa thồ, muối là thứ quý giá nhất. Chứ hai tạ muối, thời buổi bây giờ, có giá chỉ bằng… vài tạ thóc” – ông Hứ buồn bã rồi chợt hóm hỉnh.
Hiện nay, ở một căn phòng của UBND huyện Mù Căng Chải còn trưng bày một con tiêu bản hổ khổng lồ. Cánh nhiếp ảnh, báo chí, ai lên xứ Mù Căng cũng nằng nặc xin một lần được chiêm ngưỡng ngài hổ ở chốn nổi tiếng rừng hoang núi thẳm mà mình đã kỳ công lặn lội tới nơi. Nhưng, thật ra, theo anh Khánh, Chủ tịch huyện, thì: con hổ này được săn ở tít bên Than Uyên (huyện giáp ranh, là địa giới hành chính của tỉnh Lai Châu), bọn xấu buôn bán qua đây và bị kiểm lâm bắt giữ. Biết đâu, nó lại chẳng là con hổ đã giết chết người trung đội trưởng của ông Hứ?
Ông Hứ kể:
“Trước, hổ ở đây nhiều lắm. Người ta bắt được hổ, bắn chết hổ, cõng cả ông ba mươi đi lừng lững về Mù Căng Chải. Họ bán thịt hổ, da hổ, như bán… vải vóc. Nhiều ông hổ nặng đến hơn 2 tạ bị bắn chết ở vùng Nậm Xây, Nậm Xé (huyện Văn Bàn), về đây, người ta kỳ cạch nấu cao, họ còn biếu tôi vài lạng cơ mà. Nói vụng, hồi ấy, việc bảo vệ động vật hoang dã chưa được ai biết như bây giờ đâu. Chúng tôi đi hoạt động ở vùng này, vẫn thường trông thấy gấu, báo, khỉ, nai là chuyện bình thường. Ngày nào gấu nó cũng xuống bản bẻ ngô của bà con. Hôm ấy, chúng tôi đi hoạt động vũ trang ở Than Uyên. Đoàn gồm có tôi (Nguyễn Văn Hứ) và các ông: Các, Tự, Lò Văn Thắng. Ông Thắng là trung đội trưởng vũ trang. Mới ngoài 20 tuổi, chúng tôi đều cực kỳ khỏe mạnh, sử dụng súng thiện xạ, đi rừng không biết mệt. Chúng tôi đi dọc suối Nậm Mu. Mỗi người khoác một khẩu súng trường. Thiếu thức ăn, anh em bảo nhau dựng lều rồi tìm những gốc cây lớn có quả chín rụng ở bờ suối, nơi hoang thú thường xuống uống nước, nơi cá lớn thường tụ tập ăn quả rừng chín rụng. Chúng tôi leo lên cây rình bắn cá. Những con cá suối Nậm Mu hoang vu to như cái cột nhà, đen trũi, nó bơi ù lì như khúc gỗ mục. Chúng tôi hò nhau vác cá lên vai, khệnh khạng mỗi người cõng vài con “kình ngư” về lều nương. Đó là một cái nương của đồng bào Nhắng, ở khu vực bản Vi, bản Chát hiện nay. Tôi nhớ rất rõ.
Chú Thắng chú ấy hăng hái và thạo việc nhất. Chú ấy người ở vùng Bắc Cạn hay là vùng Đại Lịch (huyện Văn Chấn, tiếp giáp với Mù Căng Chải), tôi không hỏi kỹ. Thắng bảo: mọi người vào lều mổ cá, em đi vào phía ruộng nương của người Nhắng kiếm ít lá chanh về làm gỏi (bấy giờ chưa ai biết đến sự độc hại của việc ăn gỏi). Khi chú Thắng đi khỏi nương, trời đã nhấp nhóa tối, mặt trời vàng ửng ở cuối tán rừng, tôi không bao giờ quên được cảnh đó. Chúng tôi ngồi đợi mãi. Khi trời tối hẳn, cũng không thấy lá chanh đâu. Linh tính báo có chuyện chẳng lành, ba người chúng tôi xách súng, lên đạn, dò dẫm đi tìm. Đi chỉ khoảng 100m về phía tán rừng, đã thấy một vùng cây cỏ đổ rạp. Máu tanh loang đỏ theo ánh đèn pin. Trung đội trưởng Lò Văn Thắng nằm sõng soài trên cỏ. Hổ tát chết anh ngay lập tức, nhưng không hiểu sao hổ nó vẫn chưa ăn thịt… người. Cách đó hơn chục mét, con hổ vẫn gầm gừ tức giận, hình như nó căm phẫn “con mồi” vì một lẽ gì đó? Nếu anh Thắng bắn nó, chúng tôi phải nghe thấy tiếng súng AK. Nếu là con hổ biết sợ, khi chúng tôi dựng lều, đốt lửa, đì đùng bắn cá, nó phải bỏ đi chứ? Gặp hổ dữ cũng nhiều rồi, nhưng, chúng tôi đã thật sự sợ hãi con hổ bí ẩn kia. Người vùng cao đã dạy, cán bộ đi rừng, nếu gặp hổ dữ, cứ lấy đá ném mạnh, tự khắc nó sẽ bỏ đi. Không ai dám nổ súng. Cứ ném đá, con hổ lùi lũi bỏ “miếng mồi”. Chúng tôi hãi hùng quá. Hổ nó cắn vào chỗ độc, anh ấy chết ngay tức khắc.
Xác anh Thắng được bó trong vải ni-lông mỏng, “quan tài” là vài thanh liếp tre rỡ từ lều nương bỏ hoang của người Nhắng, chúng tôi bó thi thể, bới đất chôn anh ở bìa rừng. “Cánh” chiến sỹ làm việc ấy, giờ chỉ còn mỗi mình tôi vẫn sống. Số còn lại chết hết rồi, chết không còn một ai. Tôi đã nhiều lần báo cho huyện, cả phòng nội vụ Than Uyên, là hãy đến đó lấy xác anh Thắng về mà mai táng. Gần đây tôi vẫn nhắc lại điều đó và vẫn hy vọng người ta sẽ thay già này làm việc nghĩa ấy, kẻo tội quá. Anh vẫn bị xem là “mất tích”, là “vô danh”, gia đình có muốn tìm, cũng chẳng biết sẽ tìm ở đâu”. Nói xong, ông Hứ đưa bàn tay khô héo lên vắt túm da dăn deo trên mặt mình ra, bàn tay sũng nước mắt…
Trong hoài niệm xa xăm, ông Hứ luôn tiếc nuối về sự biến mất của những cánh rừng, những phong cảnh đẹp kỳ ảo của quê hương Mù Căng Chải. Thời gian trôi tàn nhẫn, thật khó để làm cho những pho sử sống (người già hiểu biết) không rời bỏ chúng ta. Nhưng những cánh rừng từng là tay nôi cho cha anh ta sống và cống hiến, phỏng có cơn cớ gì để chúng ta cứ tàn sát, để đến nỗi Mù Căng Chải bây giờ không còn là Mù Căng Chải nồng say của ngày cũ? Ông Hứ thí dụ về cái “cây vua” ở Hồ Bốn. Trong tâm thức của bà con miền thượng du, bao giờ cũng tồn tại những cái cây là “vua” của rừng già. Cây thông ở Hồ Bốn to đến mức 12 người lớn dang tay nối vào nhau đứng thành vòng chưa kín hết chu vi gốc. Trong tất cả các bản đồ quân sự toàn vùng, cây thông (pơ-mu) ấy luôn là một mục tiêu, một điểm mốc quan trọng. Nó cao như cột chống trời. Ông Hứ đi bộ từ Mường La của tỉnh Sơn La về Mù Căng Chải thăm vợ, sức ông đi phải ròng rã mất 3 ngày trời, thế mà từ khi xuất phát cho đến khi về với vòng tay của vợ con, chưa khi nào ông không nhìn thấy cây thông “vua”. Xung quanh gốc cây, bạt ngàn đá thạch anh trắng muốt và đỏ lòm, trông hùng thiêng và tráng lệ đến rùng mình. Có lẽ vì tọa lạc trên một mỏ đá quý, nên cây pơ-mu đại thụ đã bị sét đánh hơn chục lần (mà không chết). Khi lâm tặc ngả trộm cây vào năm 1993, ông Hứ đã khóc, đã lên tận xã để kiểm tra thực hư, rồi địa phương kiểm điểm chính quyền xã khốn khổ vì để mất một bảo tàng sinh thái “cây vua”.
Trong khi ông Hứ cứ ngồi trong mây mà tiếc nuối một tàng cây cổ thụ khổng lồ ở Hồ Bốn. Tôi sờ soạng với mây, mây đặc như vón cục, như véo được từng cụm mà tung lên trời vậy. Bất giác, tôi muốn ví cụ già Hứ như một pho sử quý, như một cái cây cổ thụ khổng lồ của xứ mây mù. Mỗi vân thớ của tàng cây ấy đều hằn in từng trang sử của vùng đất hào hùng, hào sảng, nồng say Mù Căng Chải.
Đ.D.H












