Thử viết chân dung vài người mà mình vẫn hay nhớ đến (bài 5):
Friday, July 11, 2008 4:26:36 AM
Người ta có thể khổ nhục đến mức nào?
[/B]Ghi chép của Đỗ Lãng Quân[/B]
Bài 2:
Cơn “ác mộng chăn gối” dài hơn 3.000 ngày với một hàng binh châu Phi!
Bạn cũng có thể đọc bài này theo đường dẫn sau: http://www.vietimes.com.vn/vn/tienggoisophan/5298/index.viet
Đó là cái bóng đổ buồn bã của một giai đoạn lịch sử đã hằn in trong kiếp phận không ít người đàn bà tận khổ. Có người còn sống, có người đã chết, có người ở Việt Nam, có người đã bôn tẩu xứ người, nhưng nỗi đau của họ thì trần trụi giống nhau, rất thật. Và chắc chắn, lịch sử sẽ không bao giờ “tái hồi” những cái trang sầu thảm như thế nữa: những ngày mà đàn bà Việt Nam, không xuất phát từ tình yêu, phải cắn răng kết hôn với những lính lê dương, những hàng binh to cao, hung hãn như những con gấu. Mà rất nhiều khi, sự “hợp hôn” này chỉ gá bợ đến mức: người đàn bà chỉ làm chăn chiếu, làm thứ giải khuây, nhằm giải quyết nhu cầu sinh lý cho những “con giống” có nhu cầu tình dục quá mạnh, đang không có chỗ… “đổ tháo” đi. Người ta thường “tuyển” những đối tượng lang thang, cơ nhỡ, gái điếm, gái nhảy đã “chai sạn” với liễu dập hoa vùi rồi, để “đối mặt” với “cơn ác mộng chiếu chăn” mang tên lính đánh thuê kia. Bản thân người lính đó, có thể cũng không ghét bỏ gì các chị đã làm vợ họ, bản thân các cuộc giao cấu và sinh nở kia, có thể rồi cũng nảy sinh tình yêu không cần phải biết sử dụng bất cứ thứ ngôn ngữ chung nào - nhưng… hãn hữu lắm. Sự thật là bà Mùi đã có 9 năm làm vợ người lính da đen quốc tịch Ma-rốc kia, đẻ tới 3 đứa con; sự thật là bà đã vừa nằm cho chồng làm tình, vừa chửi rủa chồng, vừa giãy giụa, khóc than; rồi kéo lên tận tổ chức đòi được ly hôn. Sự thật là bà đã có cơn ác mộng hàng nghìn ngày… chết đi sống lại trong giường ngủ của mình.
Người ta bảo: hầu hết những người phụ nữ chấp nhận làm vợ lính lê dương, những hàng binh châu Phi, đều là thành phần bất hảo, nói thẳng ra là gái điếm, gái nhảy, cán bộ quản lý bà Mùi cũng nói thế, nhưng (dĩ nhiên), bà Mùi không công nhận điều đó, dẫu bà cho biết: xung quanh bà, có nhiều vợ lính lê dương tầm tuổi bà, đúng là xuất thân gái điếm. Sự thật là thế nào, chúng ta không nên đào bới làm gì.
[/B]Ghi chép của Đỗ Lãng Quân[/B]
Bài 2:
Cơn “ác mộng chăn gối” dài hơn 3.000 ngày với một hàng binh châu Phi!
Bạn cũng có thể đọc bài này theo đường dẫn sau: http://www.vietimes.com.vn/vn/tienggoisophan/5298/index.viet
Đó là cái bóng đổ buồn bã của một giai đoạn lịch sử đã hằn in trong kiếp phận không ít người đàn bà tận khổ. Có người còn sống, có người đã chết, có người ở Việt Nam, có người đã bôn tẩu xứ người, nhưng nỗi đau của họ thì trần trụi giống nhau, rất thật. Và chắc chắn, lịch sử sẽ không bao giờ “tái hồi” những cái trang sầu thảm như thế nữa: những ngày mà đàn bà Việt Nam, không xuất phát từ tình yêu, phải cắn răng kết hôn với những lính lê dương, những hàng binh to cao, hung hãn như những con gấu. Mà rất nhiều khi, sự “hợp hôn” này chỉ gá bợ đến mức: người đàn bà chỉ làm chăn chiếu, làm thứ giải khuây, nhằm giải quyết nhu cầu sinh lý cho những “con giống” có nhu cầu tình dục quá mạnh, đang không có chỗ… “đổ tháo” đi. Người ta thường “tuyển” những đối tượng lang thang, cơ nhỡ, gái điếm, gái nhảy đã “chai sạn” với liễu dập hoa vùi rồi, để “đối mặt” với “cơn ác mộng chiếu chăn” mang tên lính đánh thuê kia. Bản thân người lính đó, có thể cũng không ghét bỏ gì các chị đã làm vợ họ, bản thân các cuộc giao cấu và sinh nở kia, có thể rồi cũng nảy sinh tình yêu không cần phải biết sử dụng bất cứ thứ ngôn ngữ chung nào - nhưng… hãn hữu lắm. Sự thật là bà Mùi đã có 9 năm làm vợ người lính da đen quốc tịch Ma-rốc kia, đẻ tới 3 đứa con; sự thật là bà đã vừa nằm cho chồng làm tình, vừa chửi rủa chồng, vừa giãy giụa, khóc than; rồi kéo lên tận tổ chức đòi được ly hôn. Sự thật là bà đã có cơn ác mộng hàng nghìn ngày… chết đi sống lại trong giường ngủ của mình.
Người ta bảo: hầu hết những người phụ nữ chấp nhận làm vợ lính lê dương, những hàng binh châu Phi, đều là thành phần bất hảo, nói thẳng ra là gái điếm, gái nhảy, cán bộ quản lý bà Mùi cũng nói thế, nhưng (dĩ nhiên), bà Mùi không công nhận điều đó, dẫu bà cho biết: xung quanh bà, có nhiều vợ lính lê dương tầm tuổi bà, đúng là xuất thân gái điếm. Sự thật là thế nào, chúng ta không nên đào bới làm gì.
Những ám ảnh sợ hãi quá khứ - Ảnh: Lãng Quân“Tôi đã phải ăn bát cơm “chan” với máu mũi máu mồm của tôi…”
Chúng ta cùng bà Mùi trở lại cái giai đoạn tăm tối làm con ở cho địa chủ mà ở kỳ trước bà đang dở chuyện:
“Sau cái trận nó cắt tai, bắt tôi ăn hết cả bát phân người, tôi đã lấy quần áo, trốn ra khỏi khu Núi Đèo. Tôi phải bò lổm ngổm qua các ruộng lúa chính vàng, chỉ sợ nó bắt lại. Tôi đi mãi, đi đến tận trưa trật ra, mà trời xui đất khiến thế nào, bước chân tôi vẫn vòng lại khu vực Núi Đèo nhà thằng địa chủ Nguyễn Văn Năm. (Bây giờ, già sắp chết, mỗi lúc nằm bị bóng đè, tôi vẫn thấy mình chết ngất, toát mồ hôi hột khi luẩn quẩn không sao thoát khỏi được cái ruộng lúa vàng nhà tên địa chủ đã bắt tôi ăn cứt ấy). Đói thì xin ăn, khát thì xin uống, hôm ấy ăn xin đến nhà một bà làm thầy phù thủy, bà ấy cho ở trong điện thờ, ăn uống tử tế. Nhưng suốt ngày thấy bà ta trùm khăn đỏ rực hò hét (lên đồng) trong nhang khói mù mịt, tôi nghĩ, cứ ở đây mình sẽ phát điên. Tôi dối bà thầy bói rồi bỏ đi biệt. Không biết bà ấy có đoán được là tôi ra đi không, nhưng khi tôi nói đi có có việc, thì bà cũng không giữ lại. Tôi đến làm con ở cho hai vợ chồng một người lính làm việc cho Pháp. Sau một thời gian, có lệnh nó đi Nam, “nó” (thực dân Pháp) không cho người ở đi cùng. Hai vợ chồng người lính còn nhận tôi là em nuôi mà “nó” vẫn không cho đi. Tôi lang thang ra bến Bính Hải Phòng vẫn làm con ở, bấy giờ đã 14 - 15 tuổi.
Lần này, rõ khổ, lại làm tôi đòi cho một nhà địa chủ. Đêm nằm ở nhà nó, mà tôi cứ nghĩ đến cái “nòi” địa chủ đã cắt tai tôi, bắt tôi phải ăn phân người ở Núi Đèo. Không bao giờ tôi quên được cái tên: Nguyễn Văn Năm, ở làng Xưa, kề cận làng nó, có các địa danh: Song Mỹ, Núi Đèo, Tảo Quan. Gã địa chủ mới của tôi, vợ nó cũng ở nhà làm ruộng, nó có mỗi một đứa con giai nhận nhiệm vụ chỉ huy người làm (con ở) cho nó. Nhà nó nhà xây, tôi còn nhớ, hồi mooc-chê (đạn pháo 81 ly của Pháp) bắn vào nhà nó, gạch ngói vỡ xoảng xoảng ra. Nhà nó, cả người ở cũng đi tản cư chạy đạn hết, nó vứt một mình tôi ở nhà trông nhà và… hứng mooc-chê. Lúc người Pháp hay người Nhật gì ấy nó kéo đến tìm bắt Việt Minh. Có người phiên dịch (giờ, nhớ lại, tôi mới hiểu cái người ấy là phiên dịch): họ chào tôi là “tí nhau”, nghĩa là cháu hay con gì đó, họ hỏi Việt Minh đâu, tôi biết chính Việt Minh ngồi ở cái chuồng trâu ấy, nó chạy hết, có 5 anh Việt Minh vừa đi qua, thấy động mới trèo hết lên chuồng trâu ngôi nhà tôi đang ở. Nó bảo có ai ở đây không, tôi nói với thông ngôn là “không có ai cả, chỉ có đạn pháo hãi lắm”. Nó rất lịch sự, bảo: “chào tí nhau”, (cháu) thế là nó đi đấy. “Lạy quan lớn, con đây bố mẹ chết đói sớm, con đi ở với người ta, không bố mẹ, con là con ở, con không biết gì đâu”.
Ở với nhà đó được hơn 1 năm trời. Nó lại bắt tôi ăn… máu mũi, máu mồm của tôi. Tôi nói, ăn máu của chính mình, sợ hơn ăn phân người khác với dòi bọ, nhà chú ạ. Hôm ấy, tôi, gái mới lớn, mới đi nhảy dây, đánh đú, đánh ô ăn quan, mải chơi quá, tối rồi, thì ở đồng rừng (nông thôn) bấy giờ khoảng bốn giờ chiều cũng đã lặn mặt trời tà tà rồi, sực nhớ ra, tôi mới luẩn quẩn đi tìm bò. Không thấy, hóa ra bò nó không đợi được tôi, nó đã đủng đỉnh về chuồng trước. Để trừng trị tôi cái bệnh mải chơi, ông địa chủ đã giấu con bò đi chỗ khác, ông ấy lấy cớ đánh mất bò mà nọc tôi ra đánh, chửi. Bà vợ của ông ấy đay đả xin cho tôi: ông ơi ông đừng đánh con nữa nó sẽ chết mất, mặc, ông ấy cứ vụt túi bụi. Ngày xưa được cái không đấm đá, chỉ đánh bằng roi mây. Đang ăn cơm thế này tôi chống đối lại một câu, con ăn một miếng sao bố cứ chửi con, trời đánh còn tránh miếng ăn, rồi tôi khóc nức nở. Ông ấy gầm lên, ông tát thế nào chảy máu mồm, máu mũi của tôi, máu đỏ ra bát cơm ăn dở. Ông bắt ăn hết bát máu, bát mũi của mình. Không ăn thì ông ấy sẽ giết, vứt ra ngoài truồng trâu. Tôi hãi quá, phải cắn răng ăn bát cơm màu đỏ tươi ấy.
Sau đó tên địa chủ bị bắt lên đồn gì đó, tôi ở nhà tôi lấy một hai bộ quần áo, tôi lại ra đi. Lần này tôi vất vưởng đi qua khỏi khu vực bến Bính (thuộc Thành phố Hải Phòng nay), tình cờ gặp gia đình chị Trang. Chị Trang giới thiệu tôi với người bạn chị ấy, bảo là một người tốt bụng đang cần người ở trông con cái, quét tước nhà cửa. Tôi đói hoa mắt, ai bảo làm gì là làm nấy, tôi đến nhà bà Trần Thị Lịch. Chồng chị Lịch là anh là Lưu Văn Phòng, em trai anh Phòng là Lưu Văn Mạc, tôi nhớ rõ tên của những người này vô cùng, vì tôi ở với họ được những dăm năm. Anh Phòng nhận tôi là em nuôi, anh đặt tên tôi là Lưu Thị Thấy, tôi mang họ của anh từ bấy (sau này tôi còn có nhiều cái tên khác nữa!).
Nói thật thì hơi xấu hổ, lẽ ra tôi ở gia đình đó đến mãn đời tôi. Anh chị ấy nuôi tôi ăn, dạy bảo tôi rất chu đáo. Nhưng, đến năm tôi 18 – 19 tuổi, tôi là con gái trong nhà lớn rồi, chị đi buôn cá biển từ 4h, anh ấy mãi 6h sáng mới đi làm. Anh ấy đã không kìm chế được ý nghĩ “dâm dục” với “em nuôi” đã tìm cách sang giường tôi đòi “vớ vẩn” với tôi. Tôi không đồng ý. Tôi thề với cháu, tôi năm nay 80 tuổi, không “mắc” cái gì giường chiếu “vớ vẩn” với anh ấy cả. Lúc anh đè lên tôi…, tôi không sợ hãi, chỉ nghĩ: đồng ý là anh Phòng không phải anh ruột của mình; nhưng anh chị đã nuôi tôi mình trưởng thành, nếu tôi có chuyện gì trai gái với anh thì chị ấy nghĩ ra sao. Anh ấy làm nghề đi trục những tàu đắm, ca nô đắm (cứu hộ trên sông biển). Sau vụ tụt quần áo tôi giữa đêm, khi tôi nằm ở ngoài nhà…, tôi và anh luôn trốn tránh mặt nhau. Trước khi đi, tôi chỉ nói một câu, em xin phép anh chị, em đi kiếm cuộc sống của em, em là con gái trong nhà lớn rồi, để em ở mãi trong nhà không có lợi.
Vẫn là cái đói. Ra khỏi nhà anh phòng rồi, tôi lại bị đói rạc đói rày, đang tuổi ăn tuổi lớn, không biết làm sao? Không buôn bán, không có gan ăn trộm ăn cướp, không biết đường đi đánh đĩ được, lấy đâu ra tiền, lấy đâu ra cái gì để sống làm người? Tôi chỉ muốn nhảy xuống sông cho chết đi, cho thoát nợ đời. Trong cơn đói, người ta luôn nghĩ những ý nghĩ quái quỷ do cơn đói nó đưa đường, những điều mà khi không đói nữa, người ta sẽ không hiểu vì sao người ta lại đã từng hành động và suy nghĩ “đâm vào bụi rậm” như thế! Nghĩ quẩn thế nào, tôi lại quay ra công an kiện anh Phòng chị Lịch. Kiện rằng tôi làm con ở cho nhà anh chị ấy bao nhiêu năm, mà lúc ra đi chả được một đồng trinh cắc bạc nào, giờ tôi đói quá chừng, sắp chết đói. Người ta “xử”, bắt anh chị ấy phải đưa ra cho tôi 4 kg gạo (công an xóm đã người ta can thiệp cho tôi). Có thế nào tôi cứ nói vậy, chỉ 4 kg gạo. Anh chị ấy tốt lắm, lúc tôi “trẻ con” như thế mà anh chị cũng không giận, anh chị cho ngời đi tìm gọi tôi về, tôi ngượng với anh chị, nên cũng chả về.
Sau đó tôi đi tuột sang Cảng Hải Phòng. Gặp một chị bán bún riêu. Chị ấy bảo, thôi thì em đi lang thang bờ bụi, đời nhục nhã thế này mãi cũng chả ra làm sao, cứ ngồi chẻ rau muống cho chị bán bún riêu, rửa bát rửa bung, nhặt rau thơm rau thủng cho chị mà kiếm cái gì bỏ vào mồm. Chị ấy có chồng tên là Bảo. Anh Bảo làm ở Cảng Hải Phòng, nghe tôi kể về cuộc đời khốn khổ của mình, anh bèn giới thiệu tôi, làm “cô nuôi” cho nhà bếp của Cảng, chuyên bóc lạc, bóc đỗ, nấu nướng, sắp xếp thực phẩm nhà bếp. Làm ở đó 3 tháng, thì bạn anh Bảo có một anh tên là Tiến, anh ấy vô cùng mê mẩn tôi. Tôi không yêu, song thấy anh ấy tốt, tôi cũng đi lại, anh giới thiệu tôi đi làm công nhân đường sắt. Từ bấy, cuộc đời đi ở của tôi chấm dứt. Tôi trở thành người công nhân xây dựng thời đại mới. Đó là quãng đời đẹp nhất trong suốt 80 năm qua của tôi!”.
Nỗi kinh hoàng của cô công nhân vác đá lấy chồng “Tây”…
Bà Mùi, dúm xương thit già nua hiện nay - Ảnh: Lãng QuânCái anh Tiến mê tôi kia, một hôm anh ấy bảo bảo: cô Thấy ơi, có đi công nhân đường sắt, đội đá rải đường cho tàu hỏa nó chạy không? Đang chán công việc ở Cảng Hải Phòng, mắt tôi sáng lên: Em thích quá, anh cho em đi. Bấy giờ anh Tiến đã nói, anh “chớm nở tình yêu” với tôi nhiều lắm rồi, anh bảo, nếu em đi công nhân thì tình cảm giữa anh và em bị xa cách, biết giải quyết thế nào? Anh định không giới thiệu em đi công nhân, nhưng mà, vì tương lai của em, anh cứ giới thiệu. Có tình thì khắc gặp. Tôi xúc động, mới bảo: anh cứ yên tâm, em sẽ viết thư về cho anh, anh sẽ chờ đợi. Nói vậy, nhưng tôi cũng biết, sẽ không bao giờ còn gặp lại nhau, mà đúng như thế thật!
Chúng tôi lên lên tập trung quân số ở Ty Lao động Hải Phòng, chuẩn bị lên đường. Họ dẫn tôi về làng Ngô ở huyện Gia Lâm, Hà Nội (bấy giờ nghe nói thế), tôi nhớ hôm đó cải cách ruộng đất hay sao ấy, người ta cho địa chủ vào chuồng trâu và nhà rác bẩn thỉu để “tố”. Tôi trông thấy, chả hiểu người ta đang làm gì, tôi buột miệng: Khổ thân cái người này bị nhốt trong chuồng trâu, rõ buồn cười; mà sao đám người kia ác độc thế. Bỗng dưng có người xưng xỉa lôi xềnh xệch tôi ra: Này cô kia. Nó là đứa bóc lột nhân dân đấy, cô ăn nói cho cẩn thận. Tội của nó đáng nhét xuống hố phân. Tôi tỏ vẻ nghiêm trọng: Thế à, thưa anh, là vì nhà em ở xa đến, em không biết.
Chỉ một ngày sau, người ta chuyển chúng tôi lên Bạch Hạc (Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) làm mấy tháng mới “đội đá vá giời” hết đống đá khổng lồ vừa mới khai thác xong. Tôi còn được chứng kiến cảnh người nước ngoài người ta xây dựng Cầu Việt Trì sắp xong, có đợt, lãnh đạo Nhà nước ta còn lên tận công trường thăm, quay phim chụp ảnh rợp trời. Tôi rất vinh dự, là người từng trực tiếp nghe Bác Hồ nói chuyện với toàn đại công trường. Có một bài thơ về anh, nếu tôi không nhầm thì tên là Trần Quốc Bình mà đến giờ tôi vẫn nhớ, anh Bình là người nước ngoài đã hy sinh khi thi công cầu Việt Trì “công nghiệp hóa”, đại thể như sau: Hoan hô anh Trần Quốc Bình/ Anh Bình dũng cảm hy sinh vô bờ/ … Vì tình quốc tế anh sang giúp mình.
Rồi cả bài hát, tôi chỉ nhớ mang máng:
Ánh đèn sáng trên cầu Việt Trì/
Trong đêm khuya vẫn còn rọi về/
Trên công trường ngày đêm hát ca…
Nước Bảo Hà/ Ma Trái Hút - nổi tiếng vùng Hoàng Liên Sơn, tôi cũng đã trải. Tôi đi làm công nhân đường sắt tứ xứ tung hoành: Cốc Lếu (Lào Cai); Bảo Hà; Hàm Rồng (Thanh Hóa); Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình; các địa danh nổi tiếng như Đò Lèn, Núi Cánh Diều… chỗ nào tôi cũng đã từng đi, từng làm việc. Tôi mà không bị bệnh dạ dày, tôi còn lên cống hiến tận trên Điên Biên nữa cơ anh ạ. Sau chuyến rải đá đường sắt ở khu vực Cầu Hàm Rồng là tôi quay về.
Tôi nói với anh, người mù chữ như tôi, người khổ cực tăm tối như tôi, nếu không đi, làm sao tôi biết được những địa danh làm đường sắt kia, nếu không vác đá, làm sao đến giờ tôi vẫn thuộc lòng các cái công việc như: vác đá tà vẹt đường ray… Tôi vác những súc gỗ 50kg, vác băng băng, áo lỗ áo, tôi vác đá ào ào trong trời rét căm căm. Sau này, trăm sự khổ của tôi, là bởi vì tôi đã lấy ông ấy nhà tôi là một hàng binh châu Phi. Nói có mồ ma ông ấy…”.
Bà Mùi không công nhận về những “sai lầm” nào đó bị đồn đại của mình, nhưng bà cũng kể nhiều về những người “cùng hội cùng thuyền” sống ở trung tâm đã đi làm đĩ điếm cho Tây, từng trượt dài trong vũng bùn bán trôn nuôi miệng ở cái giai đoạn nhộm nhoạm bậc nhất của nước ta dưới ách Pháp – Nhật. Trong hồ sơ lưu trữ của Trung tâm nơi bà Mùi và một số “cụ” đang sống, nhiều đối tượng từng có thành tích cực kỳ bất hảo. Ví như: bà Nguyễn Thị T., bản lý lịch do Trưởng ty Công an Nam Định ghi trong hồ sơ như sau: "T. vào nghề mại dâm từ năm 1921. Năm 1953, T. ra Hải Phòng làm gái nhảy cho các chủ tiệm nhà thổ để kiếm tiền... hồi địch còn, T lấy Tây lê dương rồi lại lấy lính, cứ hết người này đến người khác"… Với cái lí lịch như thế, vào Trung tâm từ những năm đầu còn xanh, bà T. là một trong những trại viên cá biệt chẳng biết sợ ai, quậy phá đủ trò. Thế rồi được sự cảm hóa của các cán bộ, bà T đã dần thức tỉnh.
Giọng bà Mùi trở nên xa vắng, đau đớn, bí hiểm. Bà ngồi gần lại phía tôi, cơ thể đỏ xạm, gầy nhoong nheo của lắt lay, giọng bà rủ rỉ như sợ có ai nghe trộm. “Cháu là nhà báo, bà cũng cứ nói…”. Sau thời gian cống hiến, chả được chế độ gì, chả được bố trí công việc mới dù đã nhiều lần lên Ty Lao động Hải Phòng xin xỏ, bà chán nản quá. Mới ngoài hai mươi tuổi, thì có một người giới thiệu lên Ba Vì (Hà Tây) làm việc. Bà, vì đói việc mà đi.
Lên đến nơi, họ đưa đến gặp một người da đen to lừng lững, lầm lỳ, nhìn bà như nuốt sống, bà Mùi sợ hãi lắm. Cả hai không nói gì. Bà mối lái mới ngỏ ý bảo bà Mùi hãy làm vợ người đàn ông ấy, thì sẽ được cái này cái nọ. Rằng, ông ta là người Ma rốc, là một hàng binh châu Phi, ông là người tốt (?) đã bị giặc Pháp “bắt cóc” đi làm lính lê dương tàn sát người Việt Nam, ông đã “giác ngộ” và ra hàng bộ đội Cụ Hồ. Ông ấy và nhiều hàng binh da đen nữa cùng sống, làm việc, chủ yếu là chăn bò sữa ở cái nông trường thuộc xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì kia. Bà Mùi, dĩ nhiên là không đồng ý. Bà mối thuyết phục mãi không được, bèn chửi bởi ầm ĩ: Chó đ. con đĩ! Cha bố con đĩ, mày không lấy “nó” thì mày lấy ai, chá bố con đĩ! “Tôi nghĩ, mình lang thang cay đắng quá, bà mối kia bà cũng đĩ điếm, cờ bạc, chơi bời đủ kiểu rồi, bà ấy hiểu đời, bà ấy khuyên mình như thế, có khi cũng… chân thành. Thế là tôi lấy ông ấy, ông tên là Mohamet Mizit” – bà Mùi ngậm ngùi. Sau này tôi mới biết, cái bà mối ấy đã “nhận tiền” của người ta, nên đành “kiên quyết đưa tôi vào làm vợ ông nhà tôi”. Trước bà Mùi, có một bà tên là Tứ, người Thanh Hóa đã có vài tháng làm vợ ông Mizit, nhưng bà này “không chịu nổi” đã bỏ trốn, khiến bà mối lo lắng quá, phải nhét bà Mùi vào để “đền đạn”.[/COLOR]
Sau 9 năm sống chung, bà Mùi và ông Mohamet Mizit sinh được 3 người con trai gồm: Lê Tuấn Bình (Mohamet Bennaly), Lê Văn Chiến (Mohamet Bennaptala) và Lê Văn Đường (Mohamet Budama). Nhưng, đời sống vợ chồng, đúng là địa ngục. Họ hầu như không tâm sự gì với nhau, tiếng của ai người đó nói. Ngày đi làm quần quật, chửa đẻ, nuôi con mọn, dù rất thương con, thương vợ, nhưng đêm nào “ông ấy” cũng làm bà phải khóc lóc van xin vì bị “mặn nồng”. Bởi đó là một con người say mê tình dục, bạo lực trong tình dục như một con hổ dữ. Đi làm ruộng nương cả ngày, về lại “làm tình” cả đêm, bà không thể chịu nổi. “Tôi khóc lóc, chỉ thiếu có ngất đi, tôi chửi bới ngay cả khi ông ấy đang “làm chuyện ấy”, tôi chỉ nhắm mắt mong cho nó xong để được… đứng dậy. Có khi, hôm sau tôi đẻ, mà đêm trước ông ấy vẫn cứ vày vò đến tận khi trời sắp sáng. Đêm nào cũng ba bốn bận giao cấu!”. Không thể tưởng tượng được, mình lại rơi vào cái địa ngục như vậy, bà Mùi chỉ biết khóc. Rồi bà chửi tục, ông ấy cũng chửi tục vì không được thỏa mãn. Họ đánh nhau, ông cứ đánh, bà cứ chửi. Có lần bà trốn về Hải Phòng, đâm đơn lên tòa án xin được ly hôn với ông, tòa dưới Thành phố Cảng không xử, họ bảo, ông bà sống ở Hà Tây, mang nhau lên Hà Tây mà kiện. Đánh chửi nhau lục đục, Trung tâm cho gọi lên hỏi lý do: bà Mùi xấu hổ không dám nói. Chả nhẽ lại nói chồng tôi đêm nào cũng hiếp dâm tôi 4 bận khiến tôi chết đi sống lại? Rồi “anh ấy” đánh tôi vì chuyện đó? “Ruột gan tôi lộn thốc lên, tôi nghĩ, mình sẽ chết trên giường ngủ. Không thỏa mãn, ông ấy bắt tôi phải khép hai cái đùi lại để ông ấy… “thỏa mãn”, “ làm việc đó” với cái khe ở kheo chân tôi”.[/ALIGN]
Tôi giãy giụa chờ được ông ấy tha, để đứng lên đi ngủ. Tôi lại nhớ lời anh Chiến, cán bộ của Trung tâm, anh ấy bảo: anh nhìn em tử tế, còn ít tuổi (ý là chưa dày dạn trường tình) thì đừng nên làm vợ những người như Mazit…, không chịu được đâu! Tôi đã không nghe lời anh, tôi đã tự khai tăng tuổi lên để được lấy chồng… ngoại quốc. Tôi lại nhớ những gì người ta kể về đám lính lê dương đi càn trong các làng quê Việt Nam, đàn bà con gái giả già giả xấu trốn tiệt, “chúng” (đôi khi) đã hiếp cả trâu bò cái. Giọng bà Mùi nói với tôi cứ rủ rỉ, không có nước mắt mà đau đớn, chua xót hơn nước mắt. Tôi (người viết bài này) từng nghe kể quá nhiều về việc cả bầy lính lê dương da đen nhoáy đã đến làng tôi hãm hiếp phụ nữ, để lại những đứa con da đen đến tận bây giờ, thậm chỉ cả chuyện chúng làm tình với trâu bò cái. Chuyện khó tin nhưng có thật ấy, giờ đây, nhiều người già vẫn sẵn sàng kể cho ai đó cần nghe. “Chúng nó phạt (chặt) bỏ cái chân sau của bò cái, chặt bỏ từ khớp gối xuống đến móng, để con bò “thấp” xuống, để lính lê dương - bò đực có thể “hãm hiếp” – bà cô tôi, hiện giờ vẫn đang sống, cũng lại mới tường thuật cho tôi nghe câu chuyện này, khi nghe tôi kể chuyện đời bà Mùi. Giọng bà cũng kinh sợ như giọng bà Mùi khi ngồi trước mặt tôi, hồi tưởng về cuộc hôn nhân kia …
(còn nữa)












