Trái tim Đan-kô của rừng già Giàng-mơ-pho!
Tuesday, October 23, 2007 1:53:14 PM
Tri ân Anh hùng - Liệt sỹ Trần Văn Thọ:
Trái tim Đan-kô của rừng già Giàng-mơ-pho!
Đỗ Doãn Hoàng
Là một cán bộ vận động quần chúng của lực lượng công an vũ trang, anh Trần Văn Thọ đã nằm lại với rừng biên cương vì căn bệnh sốt rét ác tính khi mới chưa đầy 27 tuổi. Anh trở thành một trong những anh hùng liệt sỹ đầu tiên của lực lượng công an vũ trang Việt Nam. Đã một thời truyện anh Thọ quên mình với người Hà Nhì ở vùng biên giới Mường Tè (tỉnh Lai Châu cũ) đã được trích giảng trong sách giáo khoa, truyện và kịch về anh được “diễn” khắp các đơn vị bộ đội. Câu cửa miệng của thời ra ngõ gặp anh hùng bấy giờ là: “Anh hùng như Nguyễn Văn Trỗi, dũng cảm như Nguyễn Viết Xuân, tận tuỵ với dân như Trần Văn Thọ”...
Trái tim Đan-kô của rừng già Giàng-mơ-pho!
Đỗ Doãn Hoàng
Là một cán bộ vận động quần chúng của lực lượng công an vũ trang, anh Trần Văn Thọ đã nằm lại với rừng biên cương vì căn bệnh sốt rét ác tính khi mới chưa đầy 27 tuổi. Anh trở thành một trong những anh hùng liệt sỹ đầu tiên của lực lượng công an vũ trang Việt Nam. Đã một thời truyện anh Thọ quên mình với người Hà Nhì ở vùng biên giới Mường Tè (tỉnh Lai Châu cũ) đã được trích giảng trong sách giáo khoa, truyện và kịch về anh được “diễn” khắp các đơn vị bộ đội. Câu cửa miệng của thời ra ngõ gặp anh hùng bấy giờ là: “Anh hùng như Nguyễn Văn Trỗi, dũng cảm như Nguyễn Viết Xuân, tận tuỵ với dân như Trần Văn Thọ”...
Bây giờ, TP Điện Biên Phủ của tỉnh Lai Châu mới làm một việc rất ý nghĩa ấy là đặt tên con đường chạy từ Đại Lộ vào qua Công an tỉnh, BCH Biên phòng tỉnh được mang tên đường Trần Văn Thọ. Và, ở vùng biên thuỳ xa ngái cả năm không có dấu chân người miền xuôi kia, trái tim Đan-cô của người anh hùng đã quên đời soi đường cho cộng đồng Hà Nhì vươn lên từ ăn lông ở lỗ, từ rất nhiều lầm lạc thời nổi phỉ ấy vẫn hằng toả sáng.
1. Chúng tôi có mặt ở đồn biên phòng 405 Leng Su Sìn (nơi anh Thọ đã chiến đấu và hy sinh). Hình như đây là đồn nơi duy nhất của lực lượng biên phòng Việt Nam mà anh em “phá cách” lập “bàn thờ”, nhang khói đủ sóc vọng trước anh linh liệt sỹ Trần Văn Thọ – người đồng đội từng chiến đấu và hy sinh ở chính nơi này. Tôi đã đứng trước ban thờ ấy và chiêm ngưỡng bức tượng liệt sỹ Trần Văn Thọ bằng thạch cao. Bên dòng suối Păng Pơi, có một đài tưởng niệm in hình ngôi sao năm cánh, xung quanh là bạt ngàn hoa huệ tạc danh các liệt sỹ của lực lượng vũ trang vùng ngã ba biên giới, cái tên đầu tiên ở bia liệt sỹ đó là: “Liệt sỹ Trần Văn Thọ, hy sinh năm 1961, quê ở xã Việt Thành, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái”.
Bà con người Hà Nhì trong vùng thì... còn phải nói! Họ đặt tên cả những con dốc, quả đồi, thung lũng, cánh đồng... mang tên “Ông Thọ...”. Mỗi người đi qua “Đồi Ông Thọ”, trèo tới “Dốc Ông Thọ” đều đứng lặng trước “Mộ Ông Thọ”, lặng lẽ đặt lên đó một viên đá, một hòn đất để tỏ lòng biết ơn. Những người đàn ông từng hút thuốc lào với ông Thọ lúc sinh thời thì mỗi lần đi qua vón một lọn thuốc lào đặt trên phần mộ “mời Ông”. Đã có những ngày khá “căng” (và rất cảm động), khi gia đình anh Thọ từ Yên Bái lên Leng Su Sìn xin được chuyển hài cốt “Ông Thọ” về nghĩa trang liệt sỹ huyện Mường Tè hoặc về quê Yên Bái “an nghỉ”. Song bà con người Hà Nhì kiên quyết không đồng ý, bởi Ông Thọ là người đã sống và đã chết và đã hiển thánh ở vùng ngã ba biên giới này...
Với những gì Ông Thọ đã làm cho vùng ngã ba biên giới này, tôi dám nói, nếu cho chọn lại đường đi cho cuộc đời mình, anh Trần Văn Thọ vẫn cứ chọn lối đi rạch trái tim Đan-cô của mình ra soi đường cho đồng bào đi về phía ánh sáng. Thế là anh đã tròn một lẽ sống hiến dâng!
2. Sinh ra tại vùng rốn cọ huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, giữa thờ mà đám địa chủ phong kiến còn sâu mọt, Trần Văn Thọ đã có một tuổi thơ nhục nhằn. Cuốn sách “Những đơn vị cá nhân anh hùng công an nhân dân” được NXB CAND ấn hành mới đây viết: “Đồng chí Trần Văn Thọ sinh năm 1935; quê quán: xã Nỗ Lực, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ (...); nhập ngũ năm 1952, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam”.
Theo như cuốn “Trung với Đảng, hiếu với dân” viết về liệt sỹ Trần Văn Thọ của nhà văn Trần Hữu Tòng được NXB QĐNĐ ấn hành năm 1965 (ông Tòng đã đi thực tế suốt 6 tháng trời ở ngã ba biên giới đến độ sốt rét rụng hết tóc, phải trở về bằng... cáng thương để hoàn thành cuốn sách) thì: Trần Văn Thọ sinh ra ở vùng chuối thơm dứa ngọt Cẩm Khê. Cạnh nhà có tên địa chủ tàn ác Vân Cẩn. Anh trai của bố đẻ Trần Văn Thọ vì đói khổ bệnh tật có vay nợ của tên Cẩn 20 quan tiền chưa trả được. Tên địa chủ Cẩn cho người điệu ông bác Thọ về đánh cho một trận, ông hộc máu chết luôn tại nhà hắn. Món nợ 20 đồng, một mạng người một mạng trâu vẫn chưa đủ, tên Cẩn tiếp tục bắt bố mẹ Thọ phải trả thay. Một chiều tháng 2 năm chết đói ất Dậu (1945), bố Thọ đói quá, lả đi và chết ngay trên lẫm lúa đầy ăm ắp của tên địa chủ Vân Cẩn. Thế là mẹ và bốn anh em Thọ hết đường đành bỏ xứ tha phương.
(Nhà văn Trần Hữu Tòng còn nhớ rất rõ cái ngày ông cầm di ảnh liệt sỹ Trần Văn Thọ lên xã Việt Thành, Trấn Yên, Yên Bái tìm bà mẹ già của anh Thọ, bấy giờ bà đã già và bị ốm phải nằm liệt giường. Bà ôm lấy tấm ảnh cậu con trai khóc và thều thào kể). “Không hiểu thế nào, bấy giờ tôi cứ nghĩ rằng, nước sông Thao trôi xuôi, nó trôi hết cả ấm no êm đềm về với biển rồi. Vậy là tôi nhất định phải mang con đi ngược con sông này, trên ấy có thể còn chút yên bình hơn. Đến một ngày, có người tốt bụng khuyên bà nên dừng cuộc đời tay bị tay gậy lại tại xã Việt Thành, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Tại đây, cũng lại có một tên địa chủ nữa, Thọ và những người anh cũng vẫn phải đi ở cho nó. Có những ngày mẹ con anh Thọ phải vào rừng đào củ mài nuôi nhau.
Năm 15 tuổi Thọ vào du kích, 17 tuổi tham gia quân đội. Trong kháng chiến chống Pháp, đơn vị anh Thọ chuyên hoạt động ở rẻo cao Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, hoà bình lập lại, họ tham gia tiễu phỉ. Cuối năm 1958, đơn vị của Trần Văn Thọ chuyển sang lực lượng Công an nhân dân vũ trang, anh được phân công tiếp tục công tác vận động quần chúng tại xã Xính Phình, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (cũ). Anh Thọ xách ba lô hành quân gần 1 tháng trời cắt rừng lội bộ từ tỉnh lỵ Lai Châu mới vào được đồn. Nơi ấy, bao đời nay, trong biển sương mù đỉnh núi, người Hà Nhì vẫn sống lang thang tội nghiệp, chỉ biết bóc vỏ cây che thân, lấy cây dùi nhọn dùi mái núi tra ngô, vào rừng đào củ nâu củ bấu ăn thay cơm, lấy than nứa chấm ngô ăn thay muối... Lợi dụng tình hình đó, trước khi rút khỏi Lai Châu, thực dân Pháp đã cài lại bọn đặc vụ Tưởng, hòng làm bàn đạp “quấy phá lâu dài” ở vùng ngã ba biên giới. Bọn chúng hà hiếp, lừa mị khiến cho bà con Hà Nhì chìm ngập trong khói thuốc phiện, trong nhiều tệ nạn, và cuộc sống dồn họ đến chỗ phải bỏ nhà ra rừng làm phỉ...
... Sau nhiều ngày đêm thuyết phục, một người Hà Nhì già nua đã quyết định “hy sinh” để ra gặp cán bộ Thọ, ra ngó xem anh ta sẽ giết chết người Hà Nhì bằng những chiếc răng dài như quả chuối rừng thế nào (như lời tuyên truyền của phỉ). Rồi tiếng hú gọi nhau, tiếng cây rừng nghiêng ngả, tiếng đá lăn làm hiệu, từ tứ bề, người Hà Nhì nhất tề kéo về bản cũ làm ăn. Họ đã nghe lời cán bộ Thọ. Anh đã cùng người Hà Nhì tổ chức cắt máu ăn thề: “Lên rừng hay về bản đều phải giúp đỡ nhau, sống chết có nhau! Cái miệng nói phải giống như cái bụng nghĩ!”. Được sự hỗ trợ của bà con và các đồng chí khác, anh Thọ đã gọi hàng được 5 tên phỉ rồi bắt được 6 tên Đặc vụ Tưởng nằm vùng với nhiều vũ khí tài liệu quan trọng; lập hồ sơ, bắt đi cải tạo 7 đối tượng. Đồng thời anh Thọ cũng trực tiếp giáo dục bồi dưỡng và giới thiệu lên Đảng uỷ cấp trên kết nạp được 13 người vào Đảng, giúp địa phương thành lập được chi bộ Đảng đầu tiên tại Xính Phình.
Điều đáng sợ nhất có lẽ là thuốc phiện, bản có 29 hộ dân mà có tới 62 cái bàn đèn, có nhà mỗi người một bàn đèn, lại còn có cả bàn đèn ở trên nương canh lúa để lúc lên hút cho nó tiện nữa chứ. Cuốn sách của NXB CAND đã dẫn kể trên viết: “Xính Phình là một xã hầu hết nhân dân còn mù chữ, nam giới 100% và nữ giới 60% nghiện thuốc phiện”. Những lời anh Thọ khuyên người Hà Nhì hồi cuối những năm 50 của thế kỷ trước ấy, bây giờ có lẽ vẫn còn nguyên tính thời sự:
-Hút thuốc phiện là có hại, bà con à. Người hút thuốc phiện thì cái da xanh như lá thuốc, cái chân nhỏ như cái cuống lá thuốc, người thì gió xô ngã như cây thuốc!
Bỏ ma tuý rồi mà vẫn đói nghèo. Sống với người Hà Nhì trên các đỉnh núi quá cao, Trần Văn Thọ nhận ra rằng, không thể ổn định cuộc sống ở những dốc núi chênh vênh ấy. Phải hạ sơn tụ cư bên dòng suối. Nhưng, lão thầy bói đứng lên:
-Tổ tiên người Hà Nhì từ xưa chỉ quen ở trên núi cao, mát mẻ, gần trăng gần sao, bây giờ nghe cán bộ bảo rời xuống chân núi thì chết nóng mất. Ma sẽ vật chết người đấy.
Phải vượt qua hủ tục, phải cấy cày trong các vùng đất bằng, cạnh nguồn nước, phải sử dụng sức trâu bò thay vì sức người. Anh Thọ đã trực tiếp xuống bản người Thái, “nịnh” mấy cô gái Thái cho mượn cái cày gỗ của họ về làm mẫu tập cho bà con. Anh Thọ cất công đi bộ cả nửa tháng trời ra “mậu dịch Mường Tè”, dùng toàn bộ tiền phụ cấp, tiền giắt lưng của mình ra mua dao, mua cày sắt khoác về bản. Nhưng cuối cùng thì bản vẫn chưa có đủ lưỡi cày. Trong bối cảnh ấy, anh Trần Văn Thọ đã làm một việc cảm động là đem chính cặp nhung hươu màu đỏ sậm mà anh đã giành dụm định mang về cho mẹ già ở quê ra đưa cho Pờ Pô Chừ bảo hãy đem sang bên kia biên giới đổi lấy mười mấy cái lưỡi cày. Từ năm 1954 – 1961, toàn xã Xính Phình đã xây dựng được 5 hợp tác xã đều thuộc loại khá. Riêng Phu Bì là hợp tác xã mà đồng chí Thọ trực tiếp hướng dẫ đã trở thành lá cờ đầu ở vùng cao. Vụ mùa năm 1961, Phu Bì thu hoạch mỗi người bình quân trên 1 tấn lương thực, và được Chính phủ tặng Huân chương Lao động hạng Ba.
3. Sau này, khi cuộc sống của người Hà Nhì vừa vào guồng thì anh Thọ đã ra đi sau một trận sốt rét ác tính. Anh ra đi trên giường của người Hà Nhì, cả bản người Hà Nhì đã chăm lo cho anh, cũng như lúc khoẻ anh đã từng hết lòng với họ. Anh ra đi vào lúc mà người Hà Nhì đã dần no ấm, a-tê (cha) già khóc rền rằng: cán bộ ăn củ nâu của bấu với dân mãi để lo trồng lúa cai thuốc phiện cho dân no, bây giờ dân có lúa ăn rồi thì cái miệng cán bộ lại không biết ăn nữa! Liệt sỹ Trần Văn Thọ được bà con người Hà Nhì xót thương an táng tại khu vực có hình đôi rồng ngậm ngọc của núi Giằng-mơ-pho. Đồng chí Trần Văn Thọ được các cấp tặng 6 Bằng khen, được Quốc hội tặng thưởng Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Ba, truy tặng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 1/1/1967.
Sau 9 năm liên tục hoạt động trên vùng rẻo cao biên giới, anh đã ngã xuống ở tuổi 27, anh đã xả thân âm thầm vì những thiệt thòi của người Hà Nhì ở vùng đất hoang lạnh ấy. Không cần nói quá lên, anh đã trở thành một niềm tin, một tín ngưỡng trong lòng người dân ngã ba biên giới, tên anh đã trở thành tên của núi, của đồi, của ruộng rẫy nơi này.
(Sửa soạn lại, trong một ngày nhớ Ngã ba biên giới)












