My Opera is closing 3rd of March

Và một... mong manh tiền sử

Và một... mong manh tiền sử
Đỗ Doãn Hoàng
Người ta bảo rằng, thời cổ, các nhà bác học xuất hiện lừng lững như những con chiến mã tung bờm, thả sức nghiên cứu khắp mọi ngõ ngách có thể có trên quả đất này. Trí tuệ và tâm hồn họ được thả rông trên những hoang mạc vô biên của sự sáng tạo. Bấy giờ, có cả một giới "bác học" đủ "trên thông thiên văn dưới tường địa lý"; cái gì cũng... giỏi. Sau này, lịch sử đã tạo ra những đường ray chuyên biệt khiến người ta dần dà trở nên giống cỗ máy được phân công trong xã hội hơn. Những đường ray ấy rõ ràng đã khiến trái đất có ít nhà bác học hơn.

Những người mải mê mất còn với những sợi dây mong manh đến từ thời tiền sử như Tiến sỹ Nguyễn Văn Việt, Giám đốc Trung tâm tiền sử Đông Nam á bây giờ ngày càng hiếm dần. Ông Việt đã táo bạo phẫu thuật và tổ chức phẫu thuật nhiều hiện tượng vấn đề với một tinh thần thượng tôn tri thức - khoa học khả kính.
Ông Tiến sỹ vừa ăn đất vừa ngẫm nghĩ...
Một ngày nắng nỏ, có ông tự xưng là Giám đốc Trung tâm Tiền sử Đông Nam á (TSĐNA) đến tòa soạn tìm tôi. "Anh có phải tác giả của bài báo về những người ăn đất ở vùng cao phía Bắc?". "Dạ, vâng". "Tôi hỏi câu này đầu tiên, vì tôi đang nóng lòng quá: anh có mang những mẫu đất ăn được vào miệng như sôcôla, như miếng gan gà ấy về nhà không? Trời ơi, có! Quý hóa quá, anh đúng là một người có phương pháp làm việc của một nhà dân tộc học!".
Tôi ghi nhận lời khen "tính dân tộc" của ông dành cho các mẫu đất ăn được từ Lai Châu, Lào Cai, Vĩnh Phúc của gã làm báo tò mò mải chơi ấy một cách không có gì đặc biệt. Nhưng, càng nói chuyện, càng thấy ông Tiến sỹ ngoại ngũ tuần tự lái xe hơi đi tìm mẫu đất ăn được ấy có điều gì rất lạ. Ông bảo, ông đã tìm thấy một mối dây liên hệ thú vị giữa câu chuyện "ăn đất năm 2005" của tôi và những hòn đá, mẩu đất không lý giải được "công năng" của chúng trong các hố khai quật mà ông từng đào. "Chúng tôi đào các hang ở Hòa Bình. Khi các đồng nghiệp lấy hết các mẫu vỏ sò vỏ ốc, xương người xương thú về thì tôi phát hiện những miếng đá được mài nhẵn. Bằng kinh nghiệm tôi biết đó không phải là đất lẫn vào trong vỏ ốc hến họ mang về để ăn. Càng không phải là công cụ của người tiền sử. Tôi đưa ra giả thuyết khác: hay là họ dùng các viên đá khoáng ấy để nghiền lấy màu vẽ lên da thịt mình, lên vách đá trong các lễ hội như thổ dân châu Mỹ. Không phải. Và, câu hỏi ấy cứ theo tôi mãi. Sau này, qua nghiên cứu, tôi mới hiểu người ta dùng đá khoáng và đất để ăn". Bài trả lời phỏng vấn của ông được đăng báo; rồi nhiều nhà địa chất, khoáng sản, các nhà dân tộc học, văn hóa học, dinh dưỡng học, sử học... đồng loạt có ý kiến về hiện tượng ăn đất. Ông Việt mừng lắm, giá trị khoa học nghiêm túc của câu chuyện lạ Việt Nam ngày càng sáng rõ (VTV đã thực hiện Chuyện lạ Việt Nam này, trong đó, ông Việt là... cố vấn khoa học). Càng ngày lượng tài liệu trong và ngoài nước về việc đất đá có thể ăn được như một phong tục, như một tín ngưỡng của chúng tôi càng dày thêm (hoá ra nhiều công ty nước ngoài đã chế biến rồi đóng lọ đất đá đem bán cho người ta... ăn).
Thỉnh thoảng, tại nhà ông Việt, ông lại rù rì tâm sự với cánh báo chí chúng tôi, rằng: "Con người ta có cái đồng hồ sinh thái học của mình. Cũng như con hổ, con báo, con nai, nó thiếu chất gì thì nó đi tìm và ăn chất đó. Thế mới sinh ra các mỏ nước khoáng mà muông thú nhất tề rủ nhau đến đó uống nước. Mới có những tảng đá khoáng chứa muối trong rừng mà con thú nào cũng phải lượn qua để... liếm vào đó (thợ săn thường rình chỗ đó để... hạ thủ thú hoang). Con người ta có thể ăn đất. Mỗi vùng ăn một thứ đất khác nhau; vì người ở vùng đó thiếu thứ đất đó". Sau rồi, một hội thảo lớn về vấn đề ăn đất được tổ chức tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, do Qũy Phạm Huy Thông tài trợ. Ông Việt rất xúc động trong hội thảo. Sau bao nhiêu kỳ công tìm kiếm, bao nhiêu ấp ủ. Ông tự lái xe hơi nhiều ngày theo tôi đi lấy mẫu đất đá về. Quay phim chụp ảnh. Ông đã gửi "huyết thư" tới các chuyên gia như Tiến sỹ Trần Hữu Sơn, Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Lào Cai chỉ để... xin một mẩu đất mà người Kháng thường dùng để ăn như ăn trầu.
Ông trịnh trọng trích 500.000 nghìn tiền của Hội thảo ra biếu bà Lạc, người đã được tôi và ông lên tận Vĩnh Phúc rước xuống trình diễn cảnh chế biến đất ăn và ăn đất ở Hà Nội, nói: "Bà ạ, vậy là bà và con đã kể được cho công chúng nghe một câu chuyện lạ. Để chúng con suy nghĩ và làm một cái gì đó cho cuộc sống hôm nay. Việc lý giải câu chuyện của bà là việc của chúng con". Ông Việt ngồi bần thần bên mép quả đồi đã bị người bản địa (thị trấn Lập Thạch) và người Hà Nội đẽo vạt góc để ăn ấy. Và ông ăn đất. Ông vừa ăn vừa ngẫm nghĩ. Trông ông vốn đã chậm chạp, lúc này lại càng chậm chạp hơn.
Sáng hôm sau, tất cả các tờ báo lớn đều kể về một câu chuyện ăn đất. Tôi bỗng vui lây cái niềm vui ăn đất của ông Việt.
"Đừng nói với ai là nhà chú chứa toàn... xương người nhé"
Cái cảnh ông Việt đi lơ mơ như thi sỹ khắp bạt đồi mà bà con lấy đất về ăn ấy bỗng dưng khiến tôi nhớ tới cảnh ông vừa ăn bánh ngọt nhân sầu riêng "thum thủm" vừa nặn đất đắp vào bộ xương sọ người đêm trước. Nhóm phóng viên viết mảng văn hóa ở Hà Nội, hình như ai cũng biết đến kho xương của TS Việt, nhưng ai cũng được dặn dò "bí mật". "Chú làm khoa học chân chính, làm Giám đốc Viện nghiên cứu, có con dấu, có triện hẳn hoi. Sao lại phải giấu ạ?" - một nữ phóng viên trẻ thắc mắc. Ông Việt mở cái tủ chứa tầng tầng lớp lớp tòan hộp sọ của người Đông Sơn cách đây hơn hai nghìn năm. Mùi mông mốc. Ông lại mở nốt cái tủ ướp lạnh dài hơn 2m màu xanh nhẹ. Hơi lạnh tỏa ra mù mịt. Trong đó có một bộ xương người khá hoàn chỉnh được bảo quản "xịn". Ông Việt nhỏ nhẹ: "Chú chỉ sợ xung quanh hàng xóm người ta sợ, người ta oán trách mình. Căn nhà của chú tòan đầu lâu xương sọ, nếu người xung quanh biết, người ta sợ chết khiếp!". Cô nữ phóng viên kể một câu chuyện ma: ông bố của đứa trẻ là nhà khoa học như ông Việt. Bọn trẻ sợ lắm, chúng rình và phát hiện thấy cái đầu lâu đêm đêm biết rì rầm nói chuyện với nhau, tiếng răng nghiến ken két. Tiếng nhai thịt xương người rau ráu, khồn khột. Bọn trẻ hãi quá báo cáo bố. Ông bố cũng rình và phát hiện ra tiếng lạo xạo phát ra từ miệng những con chuột vắt vẻo nắm tay nhau chui vào các hộp sọ, các hàm răng mà gặm xương!!!
Không ngờ, nghe chuyện xong, ông Việt thở dài, rất thật: "Tôi giữ gìn các bộ xương cẩn thận lắm, chuột ăn làm sao được. Đây là những người của thời kỳ Đông Sơn, cách chúng ta hơn 2000 - 3000 năm. Đó là cha ông của chúng ta. Chúng tôi đã đào mộ "tổ tiên" mình ở di chỉ Động Xá, Hưng Yên ngày nay. Thiêng lắm". Ông Việt thản nhiên ngồi ăn bánh ngọt. Tay ông vo vo một nắm sét dẻo do Đan Mạch sản xuất. Đó là thứ nguyên liệu phù hợp tới mức không thể phù hợp hơn, nó là số Một thế giới để phục vụ cho việc chế tạo khuôn dựng lại gương mặt cho người quá cố từ hộp sọ. Vừa nói, tay ông vừa cầm miếng bánh ngọt nhân sầu riêng mùi rất riêng nhưng rất... nặng; tay kia ông nắm nắm miếng chất dẻo Đan Mạch như đứa trẻ quê đang nắm chim chim viên xôi trong bữa cỗ. Tôi cứ sợ sợ ông Việt sẽ lơ đễnh nhầm miếng chất dẻo là miếng bánh ngọt. Ông không để ý điều đó. Bàn làm việc của ông có một chiếc đèn, ánh sáng đỏ và gắt, nó soi thẳng vào hộp sọ đen xám của “bà cụ” 17 tuổi đến từ gần 3000 năm trước. Đã 6 tháng nay ông Việt kỳ quạch lo việc phục hiện gương mặt bà “cụ tổ” của Việt Nam chết trẻ này.
Phục dựng gương mặt của tổ tiên người Việt Nam
Ông Việt kể: “Tôi đã nghiên cứu hàng trăm tấm phim chụp X quang các gương mặt của con người hiện nay vùng châu thổ sông Hồng. Tôi đã sang Đức và một số nước để học hỏi kinh nghiệm phục hiện khuôn mặt người từ một… hộp xương sọ. Cụ tổ mà tôi chọn xương để phục dựng khuôn mặt là một “cô gái” 17 tuổi, được chôn ở di chỉ Động Xá, tỉnh Hưng Yên ngày nay. Theo đồ tùy táng và các thông số khoa học thì: “cô” tạ thế khi mới 17 tuổi. Răng khôn có chiếc đã mọc, có chiếc chỉ mới nhú. Độ vẩu (độ dô ra của hàm) khá cao, có thể hồi đó bà con mình còn ăn nhiều thức ăn thô, nên hàm phải nhai nhiều và nhai vất vả hơn (?). Lúc đầu, tôi đã làm việc rất vất vả, nhưng đã bất lực. Cho đến khi sang Đức, được tiếp xúc với học trò của Tiến sỹ nhân chủng học quá cố Gerasimov (ông tổ của phương pháp phục dựng chân dung, ra đời từ những năm 1930 ở nước Nga ngày nay, đã được thế giới ghi nhận) – dường như một thế giới khác đã mở ra. Tôi về viết dự án, làm việc với một số bệnh viện ở Hưng Yên, Thái Bình (xung quanh khu vực Động Xá) để thu thập hằng trăm tấm phim X-quang của người dân được coi là hậu duệ của các bậc tiền nhân được chôn ở Động Xá. Có trong tay quyển “Cơ sở phương pháp phục dựng mặt người theo sọ”, tôi cảm như khát vọng đi tìm gương mặt tổ tiên người Việt trong suốt thời niên thiếu lãng mạn của mình đã đi đến đích. Tôi mở máy vi tính, quan sát những “gương mặt” bà tổ hơn 2000 tuổi mà mình đã từng phục dựng. Và, làm việc trong 2 giờ đồng hồ, “bà” đã hiện ra. Gương mặt con người, so với xương sọ hoá ra đều có công thức và có quy luật của tỷ lệ cả. Bạn cứ hình dung, nếu bạn dùng một cái kim mà chọc vào các điểm trên gương mặt một người đang sống (tôi ví dụ thế), rồi đem đo độ dày của phần thịt “ngập kim” tính từ da đến xương hộp sọ của người đó – thì sẽ tìm ra một quy luật nào đó cho vấn đề này. Điều hết sức thuyết phục là, dùng phương pháp này, qua “đi lại thân thiết” cửa sau với những nhân viên nhà xác, ông Gerasimov đã được lịch sử thế giới tạc công khi ông đã thành công trong việc phục dựng (một cách thuyết phục và khoa học) những gương mặt tưởng như xa xôi với người đang sống quá thể, xa xôi hơn cả những giấc mơ, như: gương mặt của người vượn cổ Bắc Kinh, người băng Oetzi, của bố đẻ thiên tài Alexander Đại đế, người tuyết 6000 tuổi bị vùi lấp ở vùng Italia gì đó. Và đặc biệt, ông đã đi vào huyền thoại với cuộc so tài “ba mặt một nhời” trong vụ phục dựng gương mặt. Người ta bí mật đưa cho ông một hộp sọ, bảo rằng của một người vô danh, yêu cầu Gerasimov trổ tài. Chỉ trong 1 giờ 47 phút, cái người vô danh ấy đã hiện ra với gương mặt đầy bí ẩn và khí phách. Các “trọng tài” ngồi bên cạnh ai cũng đã biết hộp sọ đó là của một thủ lĩnh người da đỏ nổi tiếng mà cho đến nay người ta vẫn còn giữ lại được bức tượng cùng nhiều tư liệu về ông. Tóm lại là, ai cũng đã biết gương mặt của ngài được tạc thành tượng, duy có người chơi Gerasimov là cặm cụi đắp đắp đo đo…Kết quả là độ nghiêng của khuôn mặt mới dựng giống bức tranh tới 80%, khi nhìn thẳng thì mức độ giống lên tới… 90%”.
Câu chuyện của ông Việt cử rủ rỉ rù rì. Nắm chất dẻo nằm ẽo uột trong tay ông, “thứ chất này không bị khô, không bị cứng, hôm nay chưa làm xong, để ngày mai cũng được” - ông tâm đắc. Tâm đắc cũng phải, GS Hà Văn Tấn, và nhiều người làm nhân chủng học ở Việt Nam đã rất biết đến niềm đam mê phục dựng gương mặt tổ tiên của ông Việt. Từ hồi còn đi học, ông đã say mê vẽ rồi nặn gương mặt của thầy cô bạn bè trong lớp, có khi còn vẽ gương mặt họ xong rồi ngẫu hứng vẽ… hộp sọ của họ (khiếp!). “Khuôn mặt của “cô gái” tuổi… bẻ gãy sừng trâu ra đời hơn 2000 năm tuổi hiện ra. Và tôi đã lặng đi vì xúc động. Tổ tiên chúng ta đây ư? (Thế giới đã công nhận phương pháp Gerasimov đã cho số liệu chính xác so với khuôn mặt thực tế đến 90%). Hôm ấy là ngày 18.6 – và tôi lấy ngày sinh nhật của bà tổ là ngày đó. Chiểu theo lịch sử, thì bà tổ này sinh ra ở khoảng có Mỵ Châu, Trọng Thủy hoặc gần gần với thời kỳ Hai Bà Trưng khởi nghĩa gì đó (số liệu lịch sử này cần được làm rõ thêm). Tôi kính cẩn chế tạo thêm chiếc khuyên đeo tai cho bà dựa vào những gì quan sát được trên gương mặt người tạc ở trống đồng cùng thời với bà. Có thể bà đã từng gõ cái trống đồng đó. Thêm cái khăn đội đầu, thêm hai bím tóc – dựa vào tư liệu khảo cổ thời Hùng Vương. Tất nhiên những “phụ kiện” ấy, tôi làm là vì lòng yêu kính với bà, dựa theo trí tưởng tượng và chút tài liệu về thời kỳ lịch sử bà đã sống mà giới nghiên cứu có được – chứ không mang tính khoa học. Nhưng gương mặt bà là một vấn đề khoa học!”.
Nhìn kỹ thì đúng là bà tổ của chúng ta trông hơi dữ tướng, nhưng khỏe khoắn; và dù khá “cổ kính” nhưng – tất cả những điều đó không giấu nổi nét quyến rũ tuổi dậy thì của bà, thưa bà. Chúng tôi đồng loạt nói lên suy nghĩ của mình, TS Việt lại rù rì sắp xếp lại hơn hai chục sọ người Đông Sơn trên giá sọ người trong phòng làm việc gác hai, thủng thẳng: “Tôi đang tái tạo tiếp gương mặt một người đàn ông hơn 50 tuổi, cũng cùng thời với bà tổ 17 tuổi đây. Tôi cứ nghĩ, một đêm nào đó, ông hiện ra, tôi lấy ngày đó làm ngày sinh nhật cho ông. Cũng có thể, ngay đêm đó, ông bà tổ của chúng ta lại nói chuyện với nhau về quê hương Động Xá của hơn 2000 năm trước. Và tôi chợt nghe được tên của bà tổ hoặc ông tổ - ông Việt mủm mỉm cười hóm hỉnh, rồi lại nghiêm túc, đều đều – Nhưng, tôi làm việc với mong muốn xây dựng bộ môn phục dựng mặt người từ hộp sọ này ở Việt Nam. Thầy Hà Văn Tấn đã khuyên tôi đi theo con đường này từ hồi tôi hai mươi tuổi…”.
Dâng vải sợi dưới mồ lên làm bảo vật quốc gia!
Câu chuyện của ông bên bàn làm việc với hộp sọ người, hay ở cánh rừng hoang ông ngồi nhâm nhi ăn đất; ở hố khai quật xác ướp từ mấy trăm năm, ông ra để thu mấy chục lần vải cuốn thây người (vải tùy táng) về nghiên cứu; hay khi ông cầm vô lăng tự nguyện làm tài xế đưa tôi đi du sơn du thủy – lúc nào cũng là câu chuyện về khát vọng làm việc. Ông không muốn sống vô tình với những bí ẩn của quả đất này – chắc thế. Tôi muốn cho công chúng “gặp” tổ tiên mình thời Mỵ Châu – Trọng Thủy, thời Hùng Vương, muốn bạn có thể chụp ảnh chung và bắt tay với những người đến từ gần 3000 năm trước. Trong phòng làm việc của ông Việt cũng có chiếc sọ khá nguyên vẹn của một người đến từ di chỉ Đú Sáng (Hòa Bình) với kỷ lục là: 9000 tuổi. Ông là người tâm huyết với khảo cổ vải sợi, nên ông muốn dựng người 9000 tuổi bằng xương bằng thịt với trang phục, vũ khí khá hòan thiện. Có người bảo ông quá hoang tưởng khi mãi đeo đẳng một thế giới còn mơ hồ thực hư, mất còn hơn cả sương khói thế, ông chỉ cười. Nụ cười kiêu hãnh.
Cũng phải, kẻ sỹ hành đạo thì chấp nhận lời “thị phi” của những người thiếu niềm tin thôi. Đạo (con đường nhỏ) thì dĩ nhiên là phải ít người đi rồi. Cuộc đời của một người đi đào khảo cổ đầy cá tính như ông, trong mắt tôi, là dấu cộng của những chuyến đi dài đơn độc. Năm 1981, “đào” ở Hòa Bình, gặp mưa lũ phải ngủ lại trong hang tối. Khi đưa một Viện sỹ Nga đi khai quật, thời bao cấp, không có gì ăn, mấy ông bèn rủ nhau đem máy ảnh ra làm một “phó nháy” dạo, chụp ảnh cho cả cái lâm trường góc núi ấy để đổi lấy cơm, lấy gà. Những ngày ông cùng GS C. bỏ Viện khảo cổ đi ròng ròng cả tháng, lúc nửa đem kéo về đến khu Lò Đúc (nơi tọa lạc của Viện Khảo cổ) thì đường xá vắng teo. Có mấy bà mất ngủ hú ầm lên như giời đánh, náo loạn cả con phố, cảnh sát khu vực tới thì hóa ra các bà tưởng ma về đày đọa người Hà Nội: bởi các “nhà khảo cổ” tay xách nách mang mấy bộ xương người lóc cóc, lóc cóc, kẽo kẹt, kẽo kẹt. Có ông nặng quá, léo lê một bộ xương trên nền đường nhựa, có ông treo cả đầu lâu trước cổ (vì người chết đã mấy nghìn nằm, còn “mùi vị” gì đâu). Giống như phù thủy đang sai khiến âm binh vậy.
Cái tinh thần khoa học tối thượng trong ông Việt thật lạ. Trung tâm TSĐNA là một tổ chức phi chính phủ, phi chính phủ thì mới làm được nhiều việc thật sự vì khoa học, ai đó đã nói thế, ông Việt có vẻ rất tâm đắc. Ông cứ lẩn mẩn cõng trên vai mình cả nghìn năm lịch sử, với góc nhìn rất riêng của mình. Ông ngồi trước hộp sọ người Đông Sơn và tìm hiểu “độ vẩu” của người Việt có bước biến động từ xưa tới giờ. Các phòng làm việc ở trung tâm bạt ngàn đất đá. Có rất nhiều bộ xương thú, xương một số loài chim hay bò sát kỳ lạ, ai đến cũng tò mò hỏi, ông Việt tủm tỉm: “Bạn không ngờ đó chính là bộ xương một con gà trống được ghép lại, đúng không? Tôi đi ăn thịt gà ngoài hàng, và giữ lại bộ xương rồi ghép lại. Hoá ra nó giống như một loài khủng long bạo chúa. Thế giới thật kỳ lạ”. Chỗ nào ông Việt cũng thả sức, thả trí tuệ của mình vào suy nghĩ. Đi ăn dọc đường, thấy người ta nhốt cả lồng gà lôi với cả kho thịt hươu nai, ông Việt đau đớn cho môi trường Việt Nam quá. Nhưng ông tỉ mẩn đòi mua lại mấy bộ xương thú rừng về “phục dựng” nghiên cứu. Tôi viết về một kho xương người ở Hà Nội đã được Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an cất giữ bao nhiêu năm mà không biết đem chôn hay trả lại cho ai; ông Việt đến đề xuất: “Mang đến nhà tôi, tôi nghiên cứu và lưu giữ luôn – một công đôi việc!”. Ông đi Tây, trên những thảo nguyên bao la, chợt thấy cái mùi phân mục ải dậy lên se sắt nỗi nhớ quê nhà; ông chợt nghĩ sao chúng ta không làm đề tài khoa học, khảo cổ về những cái mùi đã và đang ảnh hưởng tới ký ức và con người ta như thế nào nhỉ? Một mùi nước đái khai, mùi phân bò hay mùi nước cốt trầu nồng nã của người già, đủ gợi lên trong tâm trí người ta cả một miền ký ức. Và sáng tạo đôi khi ra đời từ đó. Người ta thả sức cãi nhau về chủ nhân của những “chữ viết” kỳ lạ trên hàng trăm hòn đá cổ ở Sa Pa, chủ nhân của những khoảnh ruộng bậc thang đẹp đến mức có người muốn đề nghị công nhận nó là di sản thế giới, ông Việt cùng các cộng sự tính chuyện đào một khu ruộng đặc trưng lên. Các mẫu đất đá, tro than, mộ táng sẽ được định tuổi và đồng loạt lên tiếng, có gì đâu! Đâu là ruộng của người Thái, đâu là bước thiên di của Lò Lạng Chượng, đâu là tầng canh tác của một cộng đồng đến từ phương Bắc, tất cả hiện ra theo một logic thú vị mà ông Việt và các đồng nghiệp của ông coi là niềm tin tối thượng – mặc dù nhiều người, đôi khi vẫn phủi tay cho rằng nó “hoang đường” và mong manh quá thể.
Ông Việt sang Pháp dự một số hội nghị về bảo quản chất hữu cơ, bảo quản gỗ thu được trong các cuộc khai quật khảo cổ học, ông Việt rất tâm đắc. Từ lâu, tôi đã đặt câu hỏi: rõ ràng khai quật một ngôi mộ thuyền, lâu nay chúng ta vẫn vứt bỏ hoặc để cho thời gian phá huỷ mất cái thuyền, hoặc những mảnh vải tẩm liệm xác. Làm sao để giữ được những mụn vải cũ mà lên khỏi mặt đất là nó lăm le biến thành... mùn đất ấy? Đó cũng là một cửa sổ tuyệt vời dẫn vào thế giới vi diệu của tiền nhân đấy chứ! Ta bỏ nhiều triệu đôla để khai quật các con tàu đắm dưới đáy biển, sao không bỏ một phần nhỏ số tiền trong đó để bảo quản chính con tàu và những chất hữu cơ dễ phân huỷ may mắn còn xót lại? Không ai nghe ông, ông âm thầm làm việc đó vì sự thật cần phải lên tiếng của tiền nhân, với lời an ủi của ai đó: thì tổ chức của Chính phủ người ta làm phần thu mẫu vật chính; còn mấy anh “phi Chính phủ” làm nốt phần còn lại.
Khi đào được vải hoặc các chất hữu cơ khác, chúng lập tức bị khô ngót, thậm chí bị biến thành... không khí ngay sau hằng trăm hằng nghìn năm ngủ yên dưới lòng đất. Mẫu thi được cần được ngâm tẩm, sấy đông khô lại để bảo quản. Phương thức bảo quản kiểu này vẫn được “Trung tâm ông Việt” thực hiện lâu nay với mức kinh phí rẻ bằng 1/5 lần so với các cỗ máy ngoài nước. Và, chiếc máy đông khô này đã nhận được giải thưởng Vivotek của Bộ Khoa học Công nghệ và môi trường Việt Nam.
Từ nghiên cứu vải sợi trong các hố khai quật, ông Việt quá lãng mạn bàn tới cái khố của ông tổ Chử Đồng Tử (một trong tứ bất tử của tâm thức dân gian Việt Nam). Hình như hàng nghìn năm lịch sử cứ bị ông Việt tự tin kéo lại sát gần năm 2005 này vậy. Ông đã dựng được gương mặt của người Đông Sơn kia, cũng “sêm sêm” (gần gần) với thì buổi của Mỵ Châu – Trọng Thuỷ, sớm tý nữa là tới thời ông Chử Đồng Tử với bà Tiên Dung thôi mà. “Ông Chử Đồng Tử nghèo, chắc không có khố vải đâu, có thể cái khố bố con dùng chung mà chúng ta vẫn kể, nó là một cái khối cói, khố cỏ. Tôi sẽ đem một cái khố tiền sử của Chử Đồng Tử đem tặng Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi!” - ông Việt đùa. Nhưng việc ông lưu giữ các mẫu vải như một con mắt để hiểu người xưa là rất thiết thực. Có ngôi mộ, xác được cuốn tới 14 lớp vải khác nhau, hoặc sàng sảy trong đất đá quanh quan quách, có những mụn vải rất ý nghĩa – tất cả những điều này, ông Việt muốn có trong tay. “Các nhà khoa học cần khoa học ở chỗ này, chứ bà con thì tâm lý ai cũng muốn tống khứ những thứ của ma quỷ này đi cho nhanh, họ sẽ chuyển cho mình thôi” - ông Việt nói – “Đây là mẫu vải tôi lấy được từ một ngôi mộ dưới Khoái Châu, Hưng Yên, miếng vải từ thời Lê tới giờ. Tôi đề nghị làm bảo vật quốc gia. Đó là một đòn tôi nhắc nhở mọi người về giá trị vô giá phục vụ nghiên cứu của chính những chất hữu cơ, vải sợi đó”. Hiện, ông Việt còn sưu tầm được nhiều lụa là gấm vóc cổ xưa trong căn nhà của mình. Có thứ vải, thậm chí đến từ ngôi mộ đau xót của một vị hoạn quan, ông này chết, triều đình đưa về quê chôn. Rồi cánh hám của mới đào bới xới lộn lên bỏ đó, người ta tới, thu được rất nhiều lụa là gấm vóc vua ban vẫn còn... mới nguyên trong mộ táng. Có nhiều gấm vóc táng trong mộ của vua Lê Dụ Tông, đã bị mủn. Thi hài bằng xương bằng thịt đến từ mấy trăm năm trước của ông vua này đang được lưu giữ trong điều kiện rất thiếu thốn của một bảo tàng ở Hà Nội; trong khi các mẫu lụa là gấm vóc táng theo ông cứ mủn ra từng ngày. Nếu không có ý thức ghi nhận giá trị quan trọng của chất hữu cơ đang mất đi từng ngày này, chúng sẽ tiếp tục biến mất, như chúng đã từng biến mất.
Tôi thú vị hơn cả với hình ảnh ông Việt cùng cộng sự bỏ nhiều ngày ra quay phim chụp ảnh và tìm hiểu chu trình hoạt động của hai con ốc núi. Tổ tiên con ốc ấy đã được người ta bắt về ăn trong hang động từ nhiều nghìn năm trước, các nhà khảo cổ đào hang và thu được chủ yếu là... vỏ ốc. Ông Việt tin rằng, các nét sọc mơ hồ nào đó trên miệng con ốc là dấu vết các ngày tuổi của đời chúng. Tuỳ theo mùa vụ và tuỳ theo lượng thức ăn kiếm được mà các vòng đếm tuổi trên miệng ốc dày mỏng mờ đậm khác nhau. Ông thuê chuyên gia phóng các vệt tuổi của ốc lên và tỷ mẩn ngồi so so đếm đếm. Ông hy vọng, mình sẽ tìm ra mùa vụ, đặc điểm thức ăn, thổ nhưỡng, tập quán sinh học; tìm ra những bí ẩn từ thời tiền sử thông qua những đường nét này nọ trên đường đi kiếm ăn lầm lũi của loài sinh vật cổ xưa ấy. Một cô nhà báo tỏ vẻ thương cảm, bảo: ông và những người như ông có một niềm tin khủng khiếp vào những điều quá ư mơ hồ. Mặc, chiếc camera của ông vẫn dõi theo chu trình kiếm ăn của chú ốc núi.
Ai đó ghé tai ông Việt: ốc núi giờ là một món đặc sản sành điệu lắm đấy. Ông Việt cười hồn nhiên và lại tỷ mẩn chăm chút những đụn vải từ thời Lê sơ mà ông dâng lên Nhà nước đề nghị công nhận là Bảo vật quốc gia...
Đ.D.H

Suối Giàng - của Thượng giới đánh rơiBày bán thịt thú rừng công khai ven quốc lộ 3

Comments

jack_tuan Thursday, May 17, 2007 4:27:28 AM

Gửi nhà báo Đỗ Doãn Hoàng
N đã tìm thấy nhà báo trên mạng intenet và đưa vào weblog của mình.
Chúc bạn viết khỏe, viết hay.
Nguyễn Anh Nông
Điện ảnh quân đội- 17- Lý Nam Đế- HN
mail:nguyenanhnong@yahoo.com.vn
http://kimdieuhuong.vnweblogs.com/post/1117/16057#Comments
February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28