Viết trong những ngày mỏi mòn đau ốm:
Wednesday, April 2, 2008 2:54:57 PM
Lời cảm ơn bệnh tật
Tản mạn của Đỗ Doãn Hoàng
Bệnh tật, nó làm ta thay đổi, nó cũng làm mình phanh lại cái lối thẳng tiến không thèm ngoái lại phía sau mấy thập niên qua. Nó làm tôi lang thang ký ức, lang thang quê mùa, đôi khi lẩn thẩn như một người già đã đến cõi, đã sờ thấy được “chân lý”: sự đời như gió thoảng ngoài hiên!
Tản mạn của Đỗ Doãn Hoàng
Bệnh tật, nó làm ta thay đổi, nó cũng làm mình phanh lại cái lối thẳng tiến không thèm ngoái lại phía sau mấy thập niên qua. Nó làm tôi lang thang ký ức, lang thang quê mùa, đôi khi lẩn thẩn như một người già đã đến cõi, đã sờ thấy được “chân lý”: sự đời như gió thoảng ngoài hiên!
1. Tự dưng đang khoẻ hoá ra ốm mòn ốm mỏi. Rừng thiêng nước độc nó “vật”, đá cũng có lúc phải đổ mồ hôi. Lại có người tặc lưỡi thảm sầu: không ốm không đau thì giàu mấy chốc. Mình thấy câu này chỉ đúng ở cái giác độ rằn là mấy cô nhà thuốc bệnh viện thường ném cho bạn mấy viên “kẹo độc” rồi thả phanh hét giá trăm trăm triệu triệu, không biết đâu mà lần. Xùy tiền ra cho bà… chém. Việc quản lý với lại kiềm chế giá thuốc, với lại tránh thuốc giả thuốc kém chất lượng hình như chỉ có ở trên tivi. “Này em, em nói bao nhiêu tiền anh phải giả bấy nhiêu, chứ có giá cả gì đâu, phỏng?”. Thắc mắc vậy thôi chứ cấm có bớt được xu sứt trinh mẻ nào. Bác sỹ kê đơn xong ném toẹt trước mặt người đau yếu, không thấy khuyên mua thuốc ở chợ trời hay mua ở cổng Bộ Y tế, uống xong thì kiêng trứng trâu hay gan giời. Cô bán thuốc thì khá khẩm hơn tí, bắt người ta xỉa tiền mới coóng ra xong, vẫn tươi cười kiểu “vui lòng khách đến vừa lòng khách đi” thật đấy; nhưng hỏi cái gì cũng chả biết. Thôi cứ liều, nã thuốc như nã đại bác vào lòng mình. Rồi đúc kết: đúng là bệnh tật là con đường nhanh nhất để một người Việt Nam tiến tới tán gia bại sản. Thuốc thang là thứ úm ba la, bi hài đệ nhất.
Ốm một tháng, thấy mình “người lớn” hẳn lên. Chị bạn tủm tỉm: từ lâu lắm, tớ vẫn ước có ngày cậu điềm đạm như thế này, thôi thì tái ông thất mã. Sụt cân, trông cậu thon thả ra, rất bảnh với một vẻ hao khuyết xa xôi nào đó. Lá lá rơi, nằm bệnh mấy tuần mưa, thơ trong vở học trò của tôi có câu chép thế. Hoá ra nó vận vào mình? Chữ treo trên tường, cái “bút hiệu” treo trong sách, ngẫm ra nay nó cũng lại vận vào mình? Bao nhiêu lần lang thang bất phóng bất phú, điều tra những vụ đào mồ cuốc mả, vào với sơn lam chướng khí ma trò; ra với ma chài, ma ngũ hải - hay là: ngộ mỗ đây có điều gì báng mổ chư vị thần linh, mạo phạm vào cõi của chư vị… quỷ sứ. Nghĩ lắm hoá lẩn thẩn, thôi thì ôm ngực đau hồi hương một chuyến. Cáo chết dăm năm lại quay đầu về núi. Vả lại, chứ cái phố thị mặt lạnh như tiền… xu này nó chưa bao giờ nó thân thiện với tôi cả. Với tôi, nó như một khối u, nó là cục bệnh dữ dằn buồn thảm nhưng mà mình phải chung sống với nó, đụng dao kéo vào là “Trạng chết chúa cũng băng hà/ Dưa gang đỏ đít thì cà đỏ chôn”. Một cái thành phố bao năm vẫn lổn nhổn, bát nháo như một đại công trường không có thợ cả. Người thợ cả đẽo bánh xe không chóng không chầy.
2. Rẽ vào quê vợ trước, cái miền cọ xanh ấy lành lẽ, thân thiện với mình hơn cả chốn chôn nhau cắt rốn. Ông hàng xóm vẫn thù tạc với mình, không dưng vướng vào tiểu đường, chả kiêng, lả lướt rượu, hai tháng đã về trời, xanh cỏ. Bá vợ đỡ đẻ cho hàng nghìn người trong xã cũng thốt nhiên nổ bệnh ung thư. Nằm thoi thóp thở, một tuần trời không ăn uống, chỉ một mực đòi uống nước lã ở đáy giếng nhà mình. Nước vàng nước bạc gì bá cũng bảo là nó rất tanh. Mà cái xóm này cũng lạ, trước khi “hoá”, ai cũng đòi uống nước lã ngoài giếng, uống từng bát ôtô, cứ kêu mát ruột quá mát ruột quá rồi “đi”. Bá chỉ ước có một ngày những đứa trẻ mà bá đã đỡ đẻ, từng chăm bẵm, cả đứa đầu bạc lẫn đứa đầu xanh ở khắp mấy xã xung quanh này, chúng nó xếp hàng đi qua mặt bá mỉm cười một chuyến. Bà bảo mẹ vợ tôi: con cháu của em nó phương trưởng thế, nhìn là chị nhắm mắt được rồi. Trong ấy, có công của chị đấy nhé. Bá mỉm cười, tất cả cùng oà khóc. Những đứa ở Hà Nội nghe lại câu chuyện cũng oà khóc tức tưởi. Bởi bốn đứa con của mẹ vợ tôi đều lớn lên trên tay bá, từ cái lúc quê trung du còn tăm tối, đói rạc cơ. Bá Nhượng mất ngày 24/11/2007, lịch dương. Tôi trở về, chỉ có thân cọ gầy vẫn già nua, xương xẩu, vẫn đều đặn đâm những đọt lá non nhọn như thanh báu kiếm lên trời xanh. Như là cọ không biết đến các bước nhảy tàn độc của thời gian thế thế. Quê em (vẫn) miền trung du, ngày (vẫn) hai bữa sắn rù.
Không biết thiên nhiên trung du xanh mướt này có biết rằng bá tôi vừa lành lẽ ra đi. Bá dặn cậu em tóc bạc của bá, chị đi, cậu bó liệm chị cho chặt chẽ, rồi tranh thủ về Hà Nội mà làm việc kẻo nhà nước người ta mắng, nhé. À, con mẹ Vân, nhớ bỏ cho chị mấy đồng vào túi áo, ngộ nhỡ dọc đường chị đi có việc gì cần chi tiêu chăng? Cho đến khi phát bệnh ung thư, bá tôi mới biết thế nào là phố thị, bá ngao du bát phố đi bằng xe cấp cứu ú còi. Cả đời bá chẳng có đi đâu bao giờ, bá đỡ đẻ, lấy lá lẩu chữa trị cho các con bệnh trong cả khu vực, bá có không biết bao nhiêu là con nuôi. Bá coi cả thế gian là ruột rà của mình. Không biết, lần này bá giắt tiền lẻ, dặn cậu em nai nịt gọn gàng cho mình để bá đi đâu nhỉ? Cõi ấy câm lặng vĩnh quyết hay là nó sáng láng với sự bao dung của thánh Pi-e, của Tiên, Phật và chư vị thần linh rực rỡ an lạc nhỉ? Bạn hỏi tôi thì tôi biết hỏi ai? Hỏi hàng vạn thân cọ già bách niên hay là hỏi những triền đồi tràn ngập hoa lạc tiên của miền suối gấm hoa (huyện Cẩm Khê) kia nhỉ? Thôi, bá đi.
3. Quê tôi. Anh hàng xóm cao ngỏng, đen trũi, vững chãi như Thạch Sanh vừa nhò ra đầu ngõ đã bị xe cán chết. Có bác lực điền bị xe tải húc, phải lấy bay sây xúc từng mớ thịt với da tim óc dính liền vào quan tài. Trăm sự thê thảm chỉ tại cái đường cao tốc qua làng, hiện đại quá là hại điện.
Làng có một cái thẻo đất hình vút nhọn nếu đứng từ cửa đình nhìn ra, từng được coi là chi tiết của hiểm địa, địa linh, phong thuỷ kiểu gì cũng đem lại những mẻ hiển đạt cho các con dân. Cái hình nhọn uyển chuyển ấy, thật ra nó là do hai cái rộc thửa men theo hai cái con đường đất đỏ gặp nhau mà tạc thành. Đúng là rất đẹp, lạ, gợi cảm. Khi còn khoa cử phong kiến, các cụ đưa lớp lớp khoá sinh lai kinh ứng thí, rồi mơ mộng nhòm và phán: thế đất nhọn nọ nó mang hình cái bút lông thẫm mực Tàu văn hay chữ tốt, cái phất trần đượm màu quan viên hiển đạt. Đến khi các cụ nhà tôi lại phất cờ làm võ quan của triều đình, cha anh lại bảo đó là hình cái mũi của ngọn giáo bách chiến bách thắng đem chí trai đi “báo quốc an dân”. Nay, xe cộ đi hỗn hào giết chết nhiều người chưa bao giờ được tuyên truyền luật giao thông quá, các bô lão lại thõng thượt thở dài: chỗ ấy là cái thế đất hình mũi dùi giết chóc. Còn chết nữa, chết nữa. Lúc báo chí viết thống thiết quá, mấy vị vô cảm ở ngành an toàn giao thông gì đó, các đồng chí về cắm vài cái biển cảnh báo rồi bổ gờ giảm tốc, y rằng tai nạn cũng giảm đến mức trong “Hội nghị Diên Hồng” ở đình làng, các vị thâm nho cũng quên hẳn chuyện mũi dùi phong thuỷ (đồn rằng do ông Cao Biền yểm rất ác!).
Bác Hình cũng lại vừa xuôi thiên cổ, khi mà bức ảnh tôi chụp Tết năm vừa rồi vẫn chưa có thời gian vượt sông Đà sang Đồng Luận gửi tặng bác. Bác gọi bà tôi bằng cô, nhưng được bà nuôi từ nhỏ, coi như con. Bác nuôi tôi khi tôi còn mũi dãi xanh lè, hơn chục năm tôi xa khuất đô thành, chả một lần ngoái lại với quãng đời lam lũ cùng bác. Bác thì vẫn vẫy, anh Long, con trai bác, mặt vẫn rỗ băm rỗ bằm, rỗ đến mức “rửa mặt bằng tăm” như hai thập niên trước. Bà ngoại chết, năm năm sau bác mới vượt hơn hai chục cây số ra thăm mộ bà. Cái quãng đường mà kể cả cuốc bộ cũng chỉ mất vài tiếng ấy mà nó cách biệt âm dương, cách biệt tình máu mủ đến thế được ư?
Bác Hình khóc thốc mãi lên, khóc giật cục thảng thốt khi nhìn nấm mộ bà đã xi măng lạnh lẽo (sau cải cát). Bác lút chân dưới cái gò ngợp cây khoai lang lá to bản, mập mạp. Dây lá khoai lang lan dài miên man như muốn trùm lấp mất cả nắm xương bà, trùm lấp cả mái tóc bạc phơ của bác Hình tôi. Tiếng khóc ối cô ơi cứ nấc lên làm tôi phải khóc. Tôi khóc vì ân hận, vì cả nỗi ân hận nào đó của bác. Cái nghèo, sự thu vén tội nghiệp của mỗi kiếp đời đã làm hai mươi cây số kia thành vời vợi muôn trùng? Hay người ta vốn vẫn tử tế và vô cảm với nhau như vậy?
Xưa, tôi ở với bác. Đàn gà mấy chục con thi nhau chết vì bệnh rù (quê tôi gọi là dây); hay vì H5N1 mà hồi đó Việt Nam chưa biết thế gian có "Hát năm" thì chả biết nữa; chỉ biết mỗi khi gà cứ tím mào, đứng cù rù trong gió lạnh, hoa xoan rơi tím tái cùng mưa rây là tôi rất mừng. Đánh chén. Không có dịch thì có mà Tết đến tôi cũng chả được ăn thịt gà. Tôi thích ăn thịt con mái hoa mơ hơn cả, vì nó từng bỗ (mổ) tôi một nhát chảy máu cổ tay, khi tôi bắt lũ con của nó chơi đồ hàng với em Huyền (em gái tôi). Có lần, gà chết, bác Hình đã ngồi bần thần rầu rĩ như… xót thương bè bạn. Bác xót xa cho bà ngoại tôi, chăm bẵm mãi, ky cóp mãi, những tưởng đàn gà là cái ruột tượng tiền chăm bẵm cho vụ Tết năm ấy. Ai dè . Tôi để ý, buồn thì buồn vậy, bác cũng ăn thịt gà nấu đông cho thật nhiều lá chanh với tôi suốt cả mùa dịch.
Bác Hình tính sạch sẽ vô cùng, có lần, quấy cám lợn xong, tôi đã nghịch dại, cay mắt quẳng cái que khuấy cám ướt nhẹp, đen nhẻm tro rơm rạ và cám bã trúng cái áo đang phơi trên cây sào sặt buộc ngang giữa hai gốc cau của bác. Độ ấy, quê tôi, ai cũng vậy, quần áo giặt xong bao giờ cũng vắt thẳng lên sào hay trùm xanh đỏ suốt các tán cây bờ rào. Nên, tôi chưa biết trên đời lại có lối giặt rồi treo áo trên một cái mắc, móc mắc áo vào sào ngang khiến cho phom áo cứ lấp loá trắng, đung đưa như anh bù nhìn đứng ngúng nguẩy thế bao giờ. Tôi ném que khuấy cám ra phía tấm áo “mồi” trắng tinh của bác, chỉ vì trông nó giống anh bù nhìn quá sinh động. Vai áo rất thẳng, tay áo lõng thõng trong nắng đứng như trêu ngươi. Nó đung đứa lấp loá như một cánh cò giăng ngang cái đường chân trời xanh mơ của núi Ba Vì. Bác là người ăn mặc tinh tươm, chải chuốt nhất mà tôi từng biết, tính từ nhỏ cho đến lúc đó.
Từ độ ấy, hơn hai mươi năm, bác Hình chỉ một lần vượt qua được hai mươi cây số đường đất ra nhà tôi. Tôi cũng chỉ hai lần gặp lại bác. Lần nào bác cũng ôm lấy tôi, cũng hà hít và kể chuyện cũ say sưa. Tôi là niềm tự hào lớn của bác, bất kể đời coi tôi là gì gì đi nữa. Bác chỉ có xóm nhỏ của mình bên bến đò Đồng Luận khuất nẻo, chỉ có tôi và vài mối quan hệ nhỏ bé ven Đà giang. Tôi tung mình tứ xứ, chuyện đời chồng chất, đôi khi sự xô bồ nó che khuất gần hết quãng đời tôi sống trong sự chăm bẵm của bác. Thế là bác biến thành miền ký ức của tôi, bác giữ ký ức cho tôi. Tôi được sống với tôi ngày ấy, khi gặp bác. Bác càng kể, tôi càng kinh sợ bởi tại làm sao mà tôi có thể quên được những kỷ niệm như thế, như thế và như thế. Trí nhớ con người ta rất kỳ diệu nhưng cái sự quên của người ta mới thật sự là quái quỷ. Đôi khi, người ta có thể quên, có thể vô cảm hơn cả cỏ cây.
4. Về nhà, lại nghe tin cô Nhạn tôi vừa mất. Cô là con bà vợ hai của ông nội tôi. Được tin cô mất, bố tôi ngồi lặng lẽ một xíu, rồi quay ra bàn tính “đi” phong bì bao nhiêu, thủ tục hành lễ ma trong nhà mấy vái, ma ngoài đồng mấy vái với mẹ tôi. Phải làm thế kẻo làng nó nhìn vào nó bảo mình ngu. Tôi cố tìm một sự đau đớn của bố khi người em cùng cha khác mẹ với bố vừa mới chết đi, nhưng tuyệt nhiên không thấy. Bố ngồi như một pho tượng đồng trong đêm: “Cái tuổi này, đi và ở, ở hay đi, cũng vậy vậy mà thôi. Khóc khiếc làm gì”.
Chợt lại nhớ lời ông bác sỹ khám bệnh cho tôi, cậu tưởng chết dễ à? Gớm, chết dễ thế thì chả có thằng nào nó còn sợ chết nữa. Tớ là chuyên gia hàng đầu ở cái bệnh viện lớn nhất nhì Việt Nam này, các cụ thấy anh nào giỏi trai lanh lẹ muốn gọi về pha trà thuốc, quét tước nhà cửa cho các cụ thì có giời chữa. Nhưng, lắm anh, chết đi sống lại mãi mà cũng chả được chết. Lộc giời không nên từ, cũng chả nên tham. Cứ để tớ khám xem nào. Nói xong, anh ấy cứ nghĩ tôi là một chiếc xe máy cần đại tu, thò ống khoan vào miệng, thọc dây dợ với máy soi vào bụng, hút máu ra cái bát như bát hứng tiết lợn đặt ở mép tôi. Anh bắt phanh trần phanh truồng, giơ tay lên đỉnh đầu quỳ lạy lia chia. Xong, bảo: chả chết ngay được. Về nghĩ đi, bệnh tật sẽ giúp cậu thay đổi rất nhiều, thay đổi tức là lớn lên đấy. Nhiều thằng bị sét đánh đùng một phát, bỗng nhiên tài năng phát lộ, cả họ… phát mả.
Gớm, bác sỹ gì mà nói năng như phù thuỷ.
Mỗi lần nghĩ đến chuyện một ngày giời gọi bố mẹ tôi về cõi, tôi cứ lạnh sống lưng, nghe ơn ớn dọc thân mình. Thì cả ông hoàng bà chúa, cả muôn đời ai chả thế, sống mãi cũng phải hết cõi chứ. Nhưng vẫn không tưởng tượng được, vẫn ơn ớn sợ sệt. Bèn bảo anh chị em: bố mẹ đã già, tranh thủ mà chăm sóc đi. Sau một trận bị tử thần sờ gáy, bố hoàn hồn, lẩm bẩm: tao bảo lão Diêm Vương là cứ từ từ, tao có chạy đi đâu mà sợ. Mà có chạy cũng chả thoát được. Nhưng lão ấy hãy bắt cái bọn la cà, vô công rồi nghề, suốt ngày ỉ eo xin tao chén rượu ở cái làng này đi đã; bắt cái bọn bán sức lao động ngồi ở đầu cầu nhà mày dưới Hà Nội trước đi đã, tao còn bao nhiêu việc phải làm. “Tôi là thầy thuốc, tôi đang xin vào Hội Nhà văn” – tao bảo lão thế. Mà tao cũng chả sợ lão Diêm Vương, tao chửi lão đấy. Vào Hội Nhà văn thì phải nịnh khối thằng, chứ về chầu trời thì chả ai phải chạy chọt bọn quỷ sứ hay cánh thiên thần bao giờ. Mẹ mày bắt tao đi cúng bà cô, gớm mẫu số chung của cái thời đói khát “hữu sinh vô dưỡng” ấy là nhà ai chả có người chết trẻ. Bọn thầy bói nó cứ nói bừa. Gớm, cái bà cô chết lúc 6 tuổi, đi ỉa chưa biết tìm đường về, thì phù hộ thế nào được cho tao. Lễ cô Đống, mả cô đống, gớm quan bà quan ông, tẩm liệm vàng bạc châu báu quách sa mộc bê tông còn chả thiêng nữa là cái bà chết đường chết chợ. Chết kiểu ấy có mà vét đĩa, tao chả tin.
Ốm là con đường ngắn nhất để bạn đi đến chỗ phải xin thẻ người nghèo. Mọi con đường của ốm đau sầu khổ đều dẫn đến tán gia bại sản. Nhưng, bệnh tật, nó làm ta thay đổi, nó cũng làm mình phanh lại cái lối thẳng tiến không thèm ngoái lại phía sau mấy thập niên qua. Nó làm tôi lang thang ký ức, lang thang quê mùa, đôi khi lẩn thẩn như một người già đã đến cõi, đã sờ thấy được “chân lý”: sự đời như gió thoảng ngoài hiên. Cái cô bán hàng rong 15 năm chưa một lần dậy sau 1h sáng, thuê nhà cạnh nhà tôi, hoá ra còn hiểu đời hơn rất rất nhiều người tự coi mình là thức giả mà tôi từng biết. Dẫu ngày ngày cô vẫn 1h sáng dậy ra chợ Long Biên chọn hoa quả Tàu, rồi từ rạng sáng đến lúc gà lên chuồng, tòng teng gánh hoa quả đi khắp ngõ ngách của thủ đô kiếm hai ba chục nghìn. Bá tôi, bố tôi đều là những triết nhân chân còn vương lấm bùn đồng ruộng. Bá đã yên nghỉ ngoài cánh đồng êm ả, bá khiến tôi nghĩ đến những kiếp cỏ cây âm thầm sinh sôi, lành lẽ nở hoa rồi lặng lẽ úa tàn vĩnh viễn ngoài gò đồi bán sơn địa. Không nặng nề, không long trọng, thô mộc đến quên ái ố hỉ nộ của kiếp giá áo túi cơm như thói đời, bá như cây hoa lạc tiên hoang dại. Hoa cứ nở, cứ cười trong nắng, dẫu biết rằng không ai ngắm nghía, không ai biết mình đang nở ngoài ông mặt trời xa tít. Dẫu biết rằng, chỉ vài hôm nữa thôi mình sẽ lại về với đất mẹ.
Bá tôi uống từng bát nước lã cất lên ở đáy giếng nhà mình trước khi mất, bao nhiêu cao lương mỹ vị, uống vào bá đều kêu nó tanh lợm và buồn nôn. Thêm một lần, bá lại dặn dò cậu em tóc bạc của bá, rằng hãy bó chị thật gọn chặt rồi bỏ cho chị ít tiền lẻ vào túi cái áo cánh nâu, rồi bá đi. Như là đi chợ ấy. Có những người coi đời như giấc mộng kê vàng, họ chỉ biết đến hưởng thụ, thích đốt mình như nến trong những thú vui ích kỷ hại mình và hại người. Cuộc hành lạc vui bao là lãi bấy/ Nếu không chơi thiệt nấy ai bù. Có người lại thu vén áo cơm đến tận khi hai tay chắp bụng. Họ cứ như vậy ngay cả khi ngã ngựa hoặc ngã bệnh. Còn bá tôi, hình như từ lúc sinh ra cùng với cây cỏ vườn đồi, bá đã ngộ ra tất cả. Cỏ cây đã giúp bá ngộ ra tất cả?
5. Sự ra đi của bá, của bác Hình, cô Nhạn nhà tôi, sự già nua lỡm cả Diêm Vương của bố và cả cái ổ bệnh đang đeo bám tôi, nó có nhắc nhở tôi điều gì không nhỉ? Anh bác sỹ nói như phù thuỷ, rằng bệnh làm bạn thay đổi, hiểu mình và hiểu kiếp đời như gió thoảng đầu hiên này hơn? Bạn từ đâu đến, đến đây để làm gì, và bạn sẽ ra đi như thế nào nhỉ? Hay là bèn hỏi như tất cả những con yêu quái từng bắt nạt thầy trò Đường Tăng nó đã hỏi: các ngươi từ đâu đến và sẽ đi về đâu? Đám kẻ cướp, kẻ ăn thịt người trong Tây Du Ký nó có cách hạch sách con mồi chu đáo hơn tất cả những tên kẻ cướp mà tôi từng gặp, từng đọc, từng xem trên cõi thế, nó hỏi người ta sẽ đi về đâu để làm gì, trong khi nó ăn thịt người ta ở đúng cái chỗ mà người ta bị nó đem hoặc dán, hoặc hấp, hoặc ướp muối ăn dần khi mưa dầm gió bấc? Chả biết ta đến trái đất để làm gì và sẽ đi về đâu. Nhưng có lẽ chúng ta đều phải có trách nhiệm trước hai câu hỏi trên, dẫu không muốn trả lời hay là không thể trả lời được (thì cũng thế!), như tôi, lúc này.
Nghĩ về điều đó, nó thôi thúc người ta tử tế hơn thì phải. Đôi khi người ta cũng phải cay đắng nói lời cảm ơn bệnh tật thì phải.
Nhân ngày bá Nhượng mất
Đỗ Doãn Hoàng













Unregistered user # Thursday, April 3, 2008 4:07:44 AM