Subscribe to RSS feed

Posts tagged with "PHAN THANH MINH"

Abel (1)

Núi rừng vang vọng trống chiêng
Gái dịu dàng nhịp da dá
Trai khoẻ khoắn điệu tung tung (2)
Già làng say sưa kể chuyện
Abel thánh thót
Abel thầm thì
Trai-gái trao duyên .



Nói lời yêu đâu dễ
Mượn lời chim hót
Nhờ ngọn gió đưa
Abel ray rứt
Abel khẽ khàng
Rót mật vào tim !


A Vương nhớ
A Vương thương
A Vương dùng dằng
Ngỏ lời yêu , anh nhờ tiếng Abel !

Phan Thanh Minh K9


(1)Abel :Loại nhạc cụ của đồng bào Cơtu .
(2):Kiểu múa đăc trưng của đồng bào Cơtu ; con gái múa gọi là da dá,con trai múa gọi là tung tung


PHAN KHÔI VÀ TIẾNG VIỆT


Nói đến hoạt động báo chí, Phan Khôi là nhà báo tài năng tích cực áp dụng tư tưởng duy lý phương Tây. Trước năm 1945, ông mang danh “Ngự sử văn đàn”.Nói đến dịch thuật, ông đã dịch các tác phẩm kinh điển: Kinh Thánh cho đạo Tin Lành, Chủ nghĩa Macngôn ngữ của Stalin, Tạp văn của Lỗ Tấn…Nói đến thi ca, trong Thi tù tùng thoại, Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng có viết: “… mấy bài tứ tuyệt của ông tú Phan Khôi là xuất sắc hơn”. Ấy là nói theo cách làm thơ cũ. Còn nói về thơ mới, khi bài “Tình già” của ông được công bố trên Phụ nữ tân văn ngày 10-3-1932 được xem như cuộc cách mạng về thơ ca. Nói như Hoài Thanh – Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam (1932 – 1941): “… Lần đầu tiên trong thành trì thơ cũ hiện ra một lỗ thủng, ông Phan Khôi hăng hái như một vị tướng quân, dõng dạc bước ra trận”.

Với tư cách là nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan nhận xét: “Phan Khôi là một trong những nhà văn xuất sắc nhất trong trường phái Nho học. Ở một nhà cựu học như ông, người ta thấy nhiều cái rất mới, nhiều cái mà đến nhiều nhà tân học cũng phải cho là ‘mới quá’ ”.

Trên lĩnh vực học thuật, Phan Khôi đã tranh luận với Trần Trọng Kim về Nho giáo; với Phạm Quỳnh về lý luận Truyện Kiều và mạnh dạn công kích ông Phạm là “học phiệt”; với Lê Dư luận về Quốc học, thẳng thừng đặt câu hỏi: “Nước ta có quốc học không? Cái học của nước ta từ trước có thể gọi là quốc học được không? và khẳng định là “không”; với Tản Đà và Nguyễn Tiến Lãng về vấn đề luân lý, đạo đức của người Việt; với Hải Triều về Duy tâm/ Duy vật; và hầu hết các cuộc tranh luận trên văn đàn nửa đầu thế kỷ XX đều có mặt của Phan Khôi như: Nghệ thuật vị nghệ thuật/ Nghệ thuật vị nhân sinh, Thơ mới/ Thơ cũ, Dâm hay không dâm…”

Read more...

THƠ 3 CHỮ ( bài số 5 )

(Bài số 5)

Ai nổi tiếng
mà đa tình
thiên hạ khen
“Người tài hoa”.

Kẻ bình thường
lỡ yêu nhiều
mọi người chê
“Đồ mất nết”.


Chuyện ở đời
quá bất công
không thể ít
Cả chuyện tình!

PHAN THANH MINH –K9

THƠ 3 CHỮ ( Bài số 4 )


THƠ 3 CHỮ
Bài số 4

Người thông minh
vướng chuyện yêu
cũng khổ đau
và đần độn.


Kẻ ngu dại
gặp tình yêu
có khi thành
Nhà thông thái.


sướng và khổ
tự nhiên thôi
như cây, cỏ
Phải không em?

Phan Thanh Minh K9

THỜI SỰ THƠ

Thời sự thơ

Thời nay lắm người làm thơ và đông vô kể
Thơ tụng ca, thơ đánh bóng, cả giả thơ thiền
Bạn luận rằng, chúng là lũ nhà thơ mộng tưởng
Nhưng thật tình, có lắm kẻ rất tiếng tăm.


Có những lời lặp đi lặp lại trở thành quen thuộc
Như nhạc hiệu ở Đài, hay lời hô “một, hai…” thể dục sáng
Nhưng những lời là khẩu hiệu suông, bánh vẽ
Nói thiệt nhé, nghe hoài,… chán lắm!



Sáng nay đàn cò về nghịch nước ở quãng trường
Quán cóc cà phê rân ran thời sự
Kẻ bảo rằng, thành phố ta… đất lành
Người khác cãi… chẳng lẽ nhà quê không còn chỗ ở.

Phan Thanh Minh – k9

THƠ 3 CHỮ ( Bài số 3 )


Thơ ba chữ
Bài số 3

Ví tình yêu
như là gió
Gom tất cả
chưa chắc bão.


Và nhiều khi
chỉ một thôi
thành lốc xoáy
chết điếng người!


Thế gian này
chỉ đôi ta
thì em ơi
buồn hay vui?

Phan Thanh Minh K9

THƠ 3 CHỮ ( Bài số 2 )

Thơ 3 chữ
(Bài số 2)

Đừng, em ạ
thờ ơ thơ
Mà có lẽ
thơ ơ thờ!



Đời lắm kẻ
ăn văn vờ
Và không thiếu
vờ ăn văn!



Có kẻ mách
tiền là Tiên…
Đừng, nhé em
Tiên làm tiền!

Phan Thanh Minh K9


THƠ 3 CHỮ

Thơ 3 chữ
(Bài số 1)

Tựa mạn thuyền
hát vu vơ
bay theo gió
Em hững hờ.


Thêm ly nữa
tôi uống tôi
tôi uống em
Mây uống mưa.


Say đằm thắm
tỉnh ngu ngơ
điên bất tận
Yêu mù mờ!

PHAN THANH MINH K9


THÊM MỘT ĐỊNH NGHĨA VỀ TÌNH YÊU

Thêm một định nghĩa về tình yêu

Hình như
từ lúc đưa nôi
Sóng vỗ bờ
Để
Đất – Trời
gặp nhau.



Miếng trầu
quyện
với miếng cau
Gái – Trai
tìm
kiếm
bắt cầu qua sông.



Yêu nhau
thuở
trái đất tròn
Đến khi
méo đất
vẫn còn yêu nhau!

PHAN THANH MINH K9

CHUYỆN TRÙNG NGỮ...tiếp theo



 

 

Chuyện trùng ngữ…(tt)

(Chuyện chữ nghĩa)

Báo Lao Động Cuối Tuần các số 8 (từ 02 – 04/3/2012), 9 (từ 09 – 11/3/2012),11 (từ 23 – 25/3/2012)đã đăng tải các bài viết liên quan đến các trường hợp “trùng ngữ”. ĐG-HHT giới thiệu lần lượt hai bài viết của PTM – k9:

Tiếng Việt: có hay không chuyện trùng ngữ?

(LĐCT số 11)

LĐCT số 8 có đăng bài viết Đã “cặp” có nên thêm “đôi”? của tôi, sau đó trên số 9 có hai bài viết của Hoàng Kỳ và Đỗ Thành Dương cho rằng, cụm từ “cặp đôi” không phải là hiện tượng trùng ngữ (?).

Xin được trao đổi thêm với các tác giả đã viết bài phản hồi:

- Tại bài viết Gọi “cặp đôi hoàn hảo” là đúng, Hoàng Kỳ cho rằng: Trong tiếng Việt việc dùng từ trùng lặp, không phải như các trường hợp đã nêu trên đây (tức là cụm từ “cặp đôi”)là buộc phải dùng, có những trường hợp có thể bỏ bớt song người ta vẫn quen dùng như: núi Thái Sơn, núi Hồng Lĩnh, sông Hồng Hà, ngày sinh nhật, đêm dạ hội v.v...”.

Cách lập luận như trên, tác giả vô hình trung lẫn lộn danh từ và danh pháp trong các trường hợp “núi Thái Sơn, núi Hồng Lĩnh, sông Hồng Hà…”. Nói như nhà ngữ học Hoàng Thị Châu: “ Địa danh thường đi kèm với danh pháp, tức là danh từ chung chỉ đối tượng địa hình (…).Những địa danh thời cổ đại thường là chỉ danh từ chung. Ví dụ: Ở châu Âu sông Đanuýp chảy qua Đức, Áogọi là Đônau (Donau),  qua Nga là Đunai với thượng nguồn là sông Đông,  có nghĩa là “nước (lã)”. Cũng giống như vậy, ở châu Á, ngay tại nước ta, “Kông” trong tên sông Mêkông chính là từ “sông” (sông mẹ) và tên sông Trường Giang theo từ điển Từ Hải thời cổ, chỉ đơn giản là Giang được ghi cách đọc bằng chữ công. Như vậy cả hai con sông lớn nhất ôm lấy cả vùng Đông Nam Á đều có tên gọi ban đầu là sông nước, không khác gì cách đặt tên sông Đanuýp ở Trung Âu” (*).

Vì vậy, “Sơn” và “Hà” của Thái Sơn và Hồng Hà ban đầu là danh từ chung chỉ “núi” và “sông”, sau trở thành danh từ riêng, nên cách nói và viết núi Thái Sơn, sông Hồng Hà không phải là hiện tượng trùng ngữ. Tương tự:núi Lam Sơn, núi Sơn Trà, sông Mêkông, đảo Côn Lôn… là cách nói (viết) cụ thể về địa hình. Các trường hợp: ngày sinh nhật, đêm dạ hội v.v...,  rõ ràng là mắc lỗi thừa từ.

-  Bài viết “Cặp đôi” không phải là “cặp”, “đôi”, Đỗ Thành Dương  có nêu nhận định của nhà ngữ học Trần Ngọc Thêm, “ngôn ngữ tiếng Việt thuộc loại hình “ngôn ngữ đơn tiết, song nó chứa một khối lượng lớn các từ song tiết,  cho nên trong thực tế ngôn từ Việt thì cấu trúc song tiết là chủ đạo …”  và đưa ra các ví dụ như: : áo quần, nhà cửa, bàn ghế…; kêu gọi, tìm kiếm, phân chia, to lớn, nhỏ bé, đau ốm, gầy ốm, tiền bạc, đùa giỡn, sợ hãi, hình ảnh, ca hát...

 Thực ra, các từ trên không phải là từ song tiết, bản chất của nó là từ ghép và cách ghép các từ này không dính dáng gì với kiểu “cặp” + “đôi”. Còn nói tiếng Việt có vốn từ vựng là từ song tiết xin được dẫn chứng:  (con) thằn lằn (thạch sùng), tắc kè …; (chim) bồ câu, bồ nông…;  (bánh) su sê; lục lạc, cà rá…

Nhân nói đến lỗi trùng ngữ, còn nhớ hơn năm năm về trước, lúc nhà ngữ học và cũng là dịch giả tiếng tăm Cao Xuân Hạo còn sống, ngay  chuyên mục “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” của LĐCT đã nêu trường hợp đầu đề của một cuốn sách có tên từ tiếng Latin là “Utopia” của Thomas More được Trịnh Lữ  dịch sang tên tiếng Việt là “Địa đàng trần gian”(?). Và theo ông, “địa đàng chẳng qua là một kiểu cấu tạo từ Việt Nam thuần túy, do người Việt bày ra để dịch chữ Eden - tên gọi khu vườn mà Jehovah (Thượng đế của người Do Thái) dành cho Ađam và Eva trú ngụ trước khi hai người này phạm tội tổ tông vì bị Satan dụ dỗ mà ăn phải quả cấm (quả Tri thức), nên bị trục xuất vĩnh viễn ra khỏi vườn Eden. Cho nên cách nói (viết) “Địa đàng trần gian” cũng là lỗi trùng ngữ, và đầu đề của một của một cuốn sách như thế là câu chuyện “có vấn đề” (?) như lời kết luận của GS. Cao Xuân Hạo.

  Đôi lời được nói thêm và mong các nhà ngữ học nước nhà cũng như những ai quan tâm vì “sự trong sáng của tiếng Việt” tiếp tục trao đổi.

Ghi chú:

(*): Hoàng Thị Châu – Địa danh nước ngoài trên bản đồ thế giới: khái niệm, thuật ngữ và phương thức nhập nội danh, hhtp://ngonngu.net

 

PHAN THANH MINH K9