|
Chuyện trùng ngữ…(tt)
(Chuyện chữ nghĩa)
Báo Lao Động Cuối Tuần các số 8 (từ 02 – 04/3/2012), 9 (từ 09 – 11/3/2012),11 (từ 23 – 25/3/2012)đã đăng tải các bài viết liên quan đến các trường hợp “trùng ngữ”. ĐG-HHT giới thiệu lần lượt hai bài viết của PTM – k9:
Tiếng Việt: có hay không chuyện trùng ngữ?
(LĐCT số 11)
LĐCT số 8 có đăng bài viết Đã “cặp” có nên thêm “đôi”? của tôi, sau đó trên số 9 có hai bài viết của Hoàng Kỳ và Đỗ Thành Dương cho rằng, cụm từ “cặp đôi” không phải là hiện tượng trùng ngữ (?).
Xin được trao đổi thêm với các tác giả đã viết bài phản hồi:
- Tại bài viết Gọi “cặp đôi hoàn hảo” là đúng, Hoàng Kỳ cho rằng: “Trong tiếng Việt việc dùng từ trùng lặp, không phải như các trường hợp đã nêu trên đây (tức là cụm từ “cặp đôi”)là buộc phải dùng, có những trường hợp có thể bỏ bớt song người ta vẫn quen dùng như: núi Thái Sơn, núi Hồng Lĩnh, sông Hồng Hà, ngày sinh nhật, đêm dạ hội v.v...”.
Cách lập luận như trên, tác giả vô hình trung lẫn lộn danh từ và danh pháp trong các trường hợp “núi Thái Sơn, núi Hồng Lĩnh, sông Hồng Hà…”. Nói như nhà ngữ học Hoàng Thị Châu: “ Địa danh thường đi kèm với danh pháp, tức là danh từ chung chỉ đối tượng địa hình (…).Những địa danh thời cổ đại thường là chỉ danh từ chung. Ví dụ: Ở châu Âu sông Đanuýp chảy qua Đức, Áogọi là Đônau (Donau), qua Nga là Đunai với thượng nguồn là sông Đông, có nghĩa là “nước (lã)”. Cũng giống như vậy, ở châu Á, ngay tại nước ta, “Kông” trong tên sông Mêkông chính là từ “sông” (sông mẹ) và tên sông Trường Giang theo từ điển Từ Hải thời cổ, chỉ đơn giản là Giang được ghi cách đọc bằng chữ công. Như vậy cả hai con sông lớn nhất ôm lấy cả vùng Đông Nam Á đều có tên gọi ban đầu là sông nước, không khác gì cách đặt tên sông Đanuýp ở Trung Âu” (*).
Vì vậy, “Sơn” và “Hà” của Thái Sơn và Hồng Hà ban đầu là danh từ chung chỉ “núi” và “sông”, sau trở thành danh từ riêng, nên cách nói và viết núi Thái Sơn, sông Hồng Hà không phải là hiện tượng trùng ngữ. Tương tự:núi Lam Sơn, núi Sơn Trà, sông Mêkông, đảo Côn Lôn… là cách nói (viết) cụ thể về địa hình. Các trường hợp: ngày sinh nhật, đêm dạ hội v.v..., rõ ràng là mắc lỗi thừa từ.
- Bài viết “Cặp đôi” không phải là “cặp”, “đôi”, Đỗ Thành Dương có nêu nhận định của nhà ngữ học Trần Ngọc Thêm, “ngôn ngữ tiếng Việt thuộc loại hình “ngôn ngữ đơn tiết, song nó chứa một khối lượng lớn các từ song tiết, cho nên trong thực tế ngôn từ Việt thì cấu trúc song tiết là chủ đạo …” và đưa ra các ví dụ như: : áo quần, nhà cửa, bàn ghế…; kêu gọi, tìm kiếm, phân chia, to lớn, nhỏ bé, đau ốm, gầy ốm, tiền bạc, đùa giỡn, sợ hãi, hình ảnh, ca hát...
Thực ra, các từ trên không phải là từ song tiết, bản chất của nó là từ ghép và cách ghép các từ này không dính dáng gì với kiểu “cặp” + “đôi”. Còn nói tiếng Việt có vốn từ vựng là từ song tiết xin được dẫn chứng: (con) thằn lằn (thạch sùng), tắc kè …; (chim) bồ câu, bồ nông…; (bánh) su sê; lục lạc, cà rá…
Nhân nói đến lỗi trùng ngữ, còn nhớ hơn năm năm về trước, lúc nhà ngữ học và cũng là dịch giả tiếng tăm Cao Xuân Hạo còn sống, ngay chuyên mục “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” của LĐCT đã nêu trường hợp đầu đề của một cuốn sách có tên từ tiếng Latin là “Utopia” của Thomas More được Trịnh Lữ dịch sang tên tiếng Việt là “Địa đàng trần gian”(?). Và theo ông, “địa đàng chẳng qua là một kiểu cấu tạo từ Việt Nam thuần túy, do người Việt bày ra để dịch chữ Eden - tên gọi khu vườn mà Jehovah (Thượng đế của người Do Thái) dành cho Ađam và Eva trú ngụ trước khi hai người này phạm tội tổ tông vì bị Satan dụ dỗ mà ăn phải quả cấm (quả Tri thức), nên bị trục xuất vĩnh viễn ra khỏi vườn Eden. Cho nên cách nói (viết) “Địa đàng trần gian” cũng là lỗi trùng ngữ, và đầu đề của một của một cuốn sách như thế là câu chuyện “có vấn đề” (?) như lời kết luận của GS. Cao Xuân Hạo.
Đôi lời được nói thêm và mong các nhà ngữ học nước nhà cũng như những ai quan tâm vì “sự trong sáng của tiếng Việt” tiếp tục trao đổi.
Ghi chú:
(*): Hoàng Thị Châu – Địa danh nước ngoài trên bản đồ thế giới: khái niệm, thuật ngữ và phương thức nhập nội danh, hhtp://ngonngu.net
PHAN THANH MINH K9
|