Skip navigation.

Log in | Sign up

Ghi chép của Joe

rất đơn giản và đời thường...

Cách diễn tiến ý tưởng (tt)



Phần II: Hình phẳng
Ở phần II x.Hiển xin gửi tới các bạn những khái niệm về ” Hình phẳng” các ý chính của phần này bao gồm:

Khái niệm.
Hình dạng thị giác.
Nhận biết hình phẳng.
Sự phân bố lực thị giác.
Nào các bạn đã sẵn sàng chưa?.


1- Khái niệm hình phẳng:


Hình hai chiều: Hình phẳng bị hạn chế về khả năng biểu đạt. Nhận thức hình phẳng thông qua kí hiệu – ngữ nghĩa. Hình phẳng được tổ chức trên một cấu trúc có thiên hướng đơn giản.
VD: Ở hình này các bạn rất dễ liên tương thấy hình vuông từ 4 điểm cho trước.

Hình phẳng bao gồm các loại hình cơ bản. Những hình cơ bản thường có trạng thái: đều, đối xứng rất dễ nhận ra chúng ta có thể gọi “Độ rõ thị giác“
Hình phẳng được tạo ra bởi các nét, đường bao chú ý: những nét có sự lập lờ dễ bị nhận thức sai điều này dẫn đến khái niệm “ Phông- hình” trong hình phẳng.


Hình phẳng được giới hạn bởi các đường bao: ở đây chúng ta thấy được “tính mập mờ “của đường bao
VD:
Mời các bạn coi hình phía dưới này:

Chúng ta rất dễ nhận ra đây là 3 hình vuông ( xin lỗi các bạn vì trong hình Hiển chú thích nhầm ). Do tỉ lệ và hình dạng của hình vuông quá quen thuộc với chúng ta nên khiến thị giác của ta dễ liên tướng tới nó như vậy “độ rõ thị giác” của hình vuông lớn hơn.
Tiếp tục chúng ta cùng quan sát hình sau, các bạn sẽ nhận thấy điều gì ngay khi nhìn thấy nó:

Chắc chắn các bạn sẽ dễ nhìn ra đây là hai hình tam giác sau đó mới là một hình vuông và một đường chéo. Bởi độ đều của hai hình tam giác lớn hơn độ đều của một hình vuông và một đường chéo.


Xuân Hiển Blogkientruc.com
Bài viết Hiển có tham khảo tư liệu NguyenLuan design consure.

Bảy nguyên tắc cơ bản không thể bỏ qua nếu muốn thành công khi nói trước công chúng.

Nhìn thấy người này diễn thuyết một cách tự tin, người kia trả lời câu hỏi của các nhà báo một cách lưu loát trên truyền hình, chắc hẳn có lúc bạn đã tự hỏi họ có năng khiếu bẩm sinh hay phải luyện tập để làm được như vậy?

Câu trả lời của Richard Zeoli, một chuyên gia trong lĩnh vực này, là: “Năng khiếu, nếu có chỉ là một phần, tất cả đều do khổ luyện mà thành!”.

Trong một bài viết mới đây đăng trên trang web của Forbes, Richard Zeoli đã chỉ ra bảy nguyên tắc cơ bản cần phải tuân thủ nếu muốn thành công khi nói trước công chúng.

1. Nguyên tắc thứ nhất: Đừng cố gắng trở thành nhà diễn thuyết đại tài

Trong giao tiếp hàng ngày bạn thường nói năng thoải mái, nhẹ nhàng, nhưng khi nói trước đám đông, hình như mọi chuyện trở thành ngược lại. Quá chú ý đến công chúng sẽ làm hại đến khả năng diễn thuyết. Để trở thành một diễn giả thu hút thì hãy chú ý đến những điều bạn nói. Dù cử tọa của bạn là vài ba người hay cả ngàn người, dù bạn đang nói về công việc của mình hay về một bước đột phá trong y khoa thì hãy luôn là chính mình, và thiết lập sự kết nối với cử tọa. Hãy nhớ cử tọa chỉ muốn nghe người nào nói chuyện nhẹ nhàng, cuốn hút. Thế thôi.

2. Nguyên tắc thứ hai: Đừng cố gắng trở nên hoàn hảo

Khi bạn mắc lỗi, đừng lo lắng vì chẳng ai để ý nhiều đến việc đó, ngoại trừ bạn.

Ngay cả đến những nhà hùng biện tài danh cũng sẽ mắc lỗi. Sự chú ý của con người thường bị phân tán. Trên thực tế, người ta chỉ thực sự nghe khoảng 20% những gì diễn giả nói, còn lại 80% họ tiếp thu qua hình ảnh. Khi bạn mắc lỗi, hiếm khi cử tọa để ý đến việc đó, vì vậy điều quan trọng bạn có thể làm là cứ tiếp tục. Đừng ngừng lại, và đừng xin lỗi, chỉ trừ khi đó là một lỗi quá nghiêm trọng.

Hãy nhớ, ai cũng có thể mắc lỗi. Đó là một phần của con người, và chính phần con người này làm cho chúng ta kết nối được với cử tọa, giúp ta trở thành những nhà hùng biện.

Cử tọa không muốn nghe ở một người quá hoàn hảo, họ chỉ muốn nghe một diễn giả đời thường.

Người ta chỉ thực sự nghe khoảng 20% những gì diễn giả nói, còn lại 80% họ tiếp thu qua hình ảnh. Khi bạn mắc lỗi, hiếm khi cử tọa để ý đến việc đó, vì vậy điều quan trọng bạn có thể làm là cứ tiếp tục. Đừng ngừng lại, và đừng xin lỗi, chỉ trừ khi đó là một lỗi quá nghiêm trọng.

Nguyên tắc thứ ba: Hãy hình dung mình đang diễn thuyết

Bạn có biết là những người thành công rực rỡ trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, đều phải sử dụng đến sức mạnh của việc tưởng tượng. Các nhân viên bán hàng hình dung ra việc mình ký được hợp đồng, các nhà quản lý hình dung ra viễn cảnh phát triển những dự án đầu tư mới, các vận động viên nhắm mắt lại và hình dung ra cảnh họ đã về đích... Trong nghệ thuật nói trước đám đông, cách tốt nhất để chống lại sự lo lắng và trở nên thư thái là hãy tưởng tượng trong đầu về buổi nói chuyện của mình.

Nếu bạn có đề tài phải trình bày trước nhiều người, hãy dành ra 30 phút mỗi ngày để hình dung việc mình đang làm, hình dung càng chi tiết càng tốt. Hãy hình dung bạn đang ở trên diễn đàn với cảm giác thư thái và dễ chịu, diễn đạt tốt và kết nối được với cử tọa. Nếu bạn thực hành điều này mỗi ngày, thì đến lúc trình bày trước đám đông, trí óc của bạn sẽ trở nên quen thuộc với tình huống đó. Bạn sẽ không còn cảm giác lo lắng, sợ hãi, thay vào đó là sự thư thái và tự tin hơn nhiều trước cử tọa.

Nguyên tắc thứ tư: Giữ kỷ luật

Mục tiêu của chúng ta không phải là trở thành một diễn giả hoàn hảo, bởi vì không có một diễn giả như vậy, chúng ta chỉ có thể trở thành một diễn giả thuyết phục. Và diễn thuyết cũng cần phải thực tập. Giao tiếp là chuyện đương nhiên, bởi chúng ta sống để nói với người khác. Nhưng khi vốn liếng, thế mạnh của mình được gắn trực tiếp với việc chúng ta có thuyết phục được đám đông hay không, chúng ta cần phải chú ý đến công việc này một cách nghiêm túc.

Cách thực hành tốt nhất là trình bày bài diễn văn một cách thoải mái tại nhà hay trong văn phòng của mình.Càng thực hành nhiều, bạn sẽ càng sẵn sàng, điều đó dẫn đến sự tự tin. Nếu bạn có bài diễn văn phải trình bày trong một tuần lễ nữa, hãy thực tập nó mỗi ngày. Đọc lớn lên ngay khi bạn thức dậy mỗi buổi sáng, ít nhất một lần vào buổi trưa và hai lần trước khi đi ngủ. Thực hành đều đặn như thế, đến khi chính thức thực hiện, bạn sẽ cảm thấy được chuẩn bị sẵn sàng vì đã biết rõ tất cả.

Cùng với nguyên tắc thứ ba ở trên, đây là cách tốt nhất để vượt qua sự lo lắng và có được sự tự tin trước cử tọa.

Nguyên tắc thứ năm: Hãy làm cho câu chuyện trở nên gần gũi

Đối với bất kỳ đề tài nào, cử tọa chỉ phản hồi tốt nhất khi diễn giả làm cho sự giao tiếp có tính gắn bó với con người. Hãy sử dụng mọi cơ hội để biến thông tin trở nên gần gũi với người nghe. Người ta thích nghe về những người khác, những bi kịch, những chiến thắng, những câu chuyện vui xảy ra hàng ngày trong chính cuộc sống của họ… Bất kỳ lúc nào có thể, bạn hãy đem chính mình vào bài diễn thuyết. Điều này không chỉ giúp cử tọa gần gũi với bạn hơn mà còn giúp bạn nói năng tự nhiên trước đám đông. Còn gì quen thuộc hơn là chủ đề về chính bản thân bạn?

Nguyên tắc thứ sáu: Cảm nhận được người nghe

Nói về bạn, nhưng trọng tâm không phải về cá nhân bạn mà về cử tọa. Bởi mục tiêu chính của một bài diễn thuyết không phải là làm lợi cho diễn giả mà là phục vụ cử tọa. Vì thế trong tất cả các giai đoạn chuẩn bị, và trình bày, bạn hãy luôn nghĩ bằng cách nào bạn có thể giúp cử tọa đạt được những gì họ mong muốn từ diễn giả. Khi thực hiện điều này, vai trò diễn giả của bạn sẽ trở thành vai trò thỏa mãn yêu cầu của cử tọa, điều này chắc chắn sẽ làm giảm bớt sự e dè trong việc diễn thuyết trước đám đông.

Nguyên tắc thứ bảy: Làm cho cử tọa mong đợi nhiều hơn

Một trong những bài học giá trị nhất trong nghệ thuật diễn thuyết trước đám đông là “ít hơn lại có nghĩa là nhiều hơn”. Hiếm khi chúng ta rời khỏi một buổi diễn thuyết và nghe người ta nói rằng: “Tôi mong rằng diễn giả đó nói dài hơn!”. Ngược lại, không biết bao nhiêu lần chúng ta nghe mãi câu: “Thật là mừng vì bài diễn thuyết đã kết thúc!”.

Hãy làm cho cử tọa ngạc nhiên. Luôn luôn làm cho phần trình bày của mình ngắn hơn một chút so với những gì mà cử tọa nghĩ. Nếu bạn tuân thủ sáu nguyên tắc trên, thì bạn đã chiếm được sự chú ý và sự quan tâm của cử tọa. Vì thế cách tốt nhất là làm cho cử tọa trông đợi bạn tiếp tục thêm vài phút nữa hơn là khiến họ ngọ nguậy trong ghế để đợi bạn kết thúc bài diễn thuyết.

Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn

Cách diễn tiến í tưởng

Ở đây có một bài viết nói về cách diến tiến ý tưởng, các bạn cùng xem nhé !
Phần I: Những vấn đề cơ bản về cảm thụ thị giác.
Trong 5 giác quan của con người” thị giác, khứu giác, xúc giác, thính giác, vị giác, có thể nói cảm thụ thị giác chiếm tới 80% tỷ trọng của sự cảm thụ không gian đô thị. Chính vì vậy việc hiểu rõ những khía cạnh của cảm thụ thị giác là cơ sở rất quan trọng để đánh giá và thiết lập các không gian.

I. Những yếu tố vật lý thị giác

Khả năng nhận thức của mắt trong không gian đô thị.

Mắt người chỉ có thể nhìn thấy một phạm vi nhất định theo một hướng. Ranh giới của nó không hòan tòan là ranh giới cứng, vì vậy ta có thể gọi phạm vi nhìn thấy của mắt là trường nhìn

-Trường nhìn: Là phạm vi nhìn thấy của mắt theo một hướng nhất định.

Trường nhìn theo phương ngang: Mắt người nhìn sang hai bên được một góc là 130o (mỗi bên 65o), không kể việc quay đầu.

Trường nhìn theo phương đứng: So với đường nằm ngang, mắt người nhìn lên được một góc là 30o, nhìn xuống một góc là 45o.

Trường nhìn tập trung: Là phạm vi nhìn trong một hình nón có góc ở đỉnh là 30o, thẳng với hướng nhìn.

Vì trường nhìn không có ranh giới cứng nên có thể có nhiều ý kiến về phạm vi chính xác này. Những xê dịch một vài độ vẫn có thể được chấp nhận.

-Ngưỡng nhìn xa , khả năng phân biệt của mắt: Mắt người có khả năng nhận biết, phân biệt các vật thể ở các khoảng cách khác nhau tùy thuộc kích thước, độ chi tiết của các vật thể. Làm kim hòan hay thêu ren đương nhiên khỏang cách nhìn là phải rất gần, nhưng đối với các vật thể trong đô thị như công trình và các chi tiết kiến trúc, những khoảng cách sau được coi là những ngưỡng nhìn thấy theo các cấp độ:

+ Khoảng cách 3 m: Nhận biết được những chi tiết nhỏ của công trình (hoa sắt, phù điêu…)

+ Khoảng cách 25 m: Nhận biết được những chi tiết lớn cuả công trình (cửa sổ, lan can)

+ Khoảng cách 140m: Phân biệt những mảng khối của công trình.

+ Khoảng cách 140-1200m: Bóng dáng, hình khối cơ bản của công trình.

+ Ngoài 1200 m, công trình trở thành phông, nền cho các vật thể đứng trước. Với sự ảnh hưởng của khí hậu, ánh sáng, mắt người chỉ nhìn thấy được những bóng dáng mờ của các công trình lớn, bóng dáng núi đồi . Vì vậy có thể coi đó là giới hạn nhìn,

Mắt người có khả năng phân biệt được 3500 lần kích thước của vật thể. Chúng ta nhận biết được hoạt động của một người ở khoảng cách tối đa là 130m, nhận ra một khuôn mặt ở khoảng cách tối đa 24 m và những cử động của nét mặt tối đa ở khoảng cách 12m (1).

Đây là những giới hạn sinh học rất cơ bản của con người, qua 2 yếu tố này chúng ta cần lưu ý:

+ Những vật thể đặt trên cao không nên thiết kế nhỏ hoặc nhiều chi tiết bởi góc quan sát phải từ rất xa và như vậy không thể cảm thụ được tác phẩm có kích thước nhỏ.

+ Sự cảm thụ của phần lớn con người trong đô thị là cảm nhận “vô thức” tức không có chủ định nhìn ngắm một vật thể nào. Vì thế công trình chủ đạo phải được đặt trong trường nhìn chính, là những hướng nhìn thẳng theo các trục giao thông, tuyến đi lại chính trong đô thị. Những công trình nằm ngoài trường nhìn chính do bị che lấp bới vật thể khác thường bị thiệt thòi bởi khó nhận biết và cảm thụ.

Thời gian cảm thụ – Cảm thụ không gian trong sự chuyển động

Mắt người cần có một khoảng thời gian nhất định để có thể quan sát và cảm thụ được vật thể. Thời gian để cảm thụ vật thể phụ thuộc vào mức độ đơn giản hay phức tạp của vật thể, khối lượng thông tin mà vật thể đó muốn biểu đạt. Càng những công trình quan trọng trong không gian càng cần nhìêu thời gian để có thể quan sát, nhìn rõ và cảm thụ chúng.

Tuy nhiên con người cảm thụ không gian đô thị hầu hết là trong quá trình chuyển động: Đi bộ, xe đạp, xe máy, ô tô…Như vậy thời gian để cảm thụ vật thể trong đô thị nhìn chung là có giới hạn. Thời gian đó được tính bằng

Qũang đường nhìn rõ vật thể (trong trường nhìn )

T cảm thụ = —————————————————————–

Tốc độ chuyển động

Cần chú ý đặc tính này khi thiết kế các công trình cạnh các tuyến đường giao thông có tốc độ khác nhau. Các vật thể cạnh đường cao tốc nên sử dụng hình khối đơn giản, kích thước lớn. Còn với các tuyến đi bộ do thời gian ngắm nhìn được lâu hơn lại rất cần quan tâm đến chi tiết của các công trình, nền đường.

Tượng đài hoặc các công trình quan trọng nhất thiết phải được đặt ở vị trí có thời gian cảm thụ lớn, tức là quãng đường quan sát dài hoặc có tốc độ chuyển động của người quan sát chậm.

Tính liên kết thị giác- lực thị giác

Những vật thể đặt gần nhau tạo nên một lực liên kết chúng về mặt thị giác. Đặc tính này tạo nên khả năng dẫn hướng của các vật thể với hoạt động của con người. Ví dụ những dãy cột xếp theo đường cong sẽ làm mắt ta hướng theo đường cong đó.

Vật thể càng đặt gần nhau lực thị giác càng mạnh và ngược lại. Khái niệm gần hay xa này không phụ thuộc vào khoảng cách thật mà tuỳ theo vị trí ta quan sát các vật thể. Một hàng cây bên đường nếu chúng ta đứng ở vị trí vuông góc với đường sẽ không cho chúng ta cảm giác về một dải cây xanh mạnh bằng nếu ta nhìn chúng ở góc phối cảnh, những cái cây đặt gần nhau, thậm chí che lấp nhau một phần sẽ tạo nên một tuyến cây xanh với sự dẫn hướng rõ rệt.

Tính liên kết thị giác hay lực thị giác là đặc tính quan trọng để chúng ta vận dụng trong việc tổ hợp các không gian dẫn dắt, không gian liên kết, không gian đóng mở .

Những yếu tố tác động đến sự cảm thụ thị giác

Các vật thể tạo hướng nhìn : Do đặc tính liên kết của lực thị giác mà trong không gian mắt người bị dẫn hướng bởi các vật thể. Những vật thể này có thể tạo sự tập trung tia nhìn hoặc cũng có thể làm phân tán tia nhìn đối với một hướng nhìn chính hoặc một công trình chủ đạo.

Quan hệ phông hình: Độ tương phản phông hình do ánh sáng, màu sắc, cao độ, khối hoặc chất liệu tạo ra cho chúng ta khả năng phân biệt nhận biết vật thể khác nhau. Độ tương phản càng lớn chúng ta càng dễ nhận biết và cảm thụ được vật thể.

Đường viền (sky line, xiluyet): Là ranh giới giữa công trình, quần thể công trình hoặc toàn đô thị với bầu trời. Cảm thụ thị giác về ranh giới này rất rõ do tương phản giữa công trình và bầu trời mạnh. Nhất là khi nhìn toàn cảnh hoặc khi quan sát không gian vào lúc chiều muộn. Cảm giác xa- gần giữa các công trình nhoè đi và chỉ còn bóng dáng của các công trình, hoặc nét viền phần giáp với bầu trời sẫm in trên nền trời.

Rất cần lưu ý đến yếu tố này khi thiết kế các công trình cao tầng, hình thức mái của công trình phải quan tâm đến siluyet toàn cảnh vì nó là thành phần quan trọng tạo nên những ấn tượng về không gian chung của đô thị.

Chuỗi phối cảnh : Hình ảnh đô thị là một chuỗi nhận thức về các cảnh, hình ảnh, chúng đựoc liên kết và sử lý qua bộ não để tạo nên một ấn tượng, một sự cảm thụ chung về không gian. Vì vậy cần chú ý tới không gian đô thị trên các chuỗi phối cảnh, theo tuyến các điểm nhìn kế tiếp.

Các cảnh trên tuyến cần có sự tương đồng, liên kết, chuyển hoá mới tạo được những hình ảnh thống nhất về đô thị

Ví dụ : Một đường phố toàn hoa phượng; Một đường phố có nhiều công trình với phong cách kiến trúc Pháp ; Phố cổ Hà Nội với những mái ngói lô xô, buôn bán, sản xuất tấp nập…ấn tượng này có được là do sự cảm thụ của chuỗi của các hình ảnh mang tính đặc trưng trên tuyến.

Những tuyến phố lộn xộn là những tuyến không có có những chuỗi hình ảnh, chuỗi phối cảnh đẹp. Có thể chỉ có những bức ảnh đẹp riêng lẻ.

PhầnII. Những yếu tố tâm lý thị giác

Ngoài những yếu tố vật lý thị giác mang tính phổ biến với mọi người, yếu tố tâm lý thị giác với từng cá nhân cũng là yếu tố tác động đến việc thụ cảm không gian. Thể hiện qua các khía cạnh

- Tâm lý của người cảm thụ: Trạng thái tâm lý vui, buồn cho sự cảm nhận về không gian khác nhau.

- Trình độ, văn hoá, tập quán, tín ngưỡng của người nhận thức: Ví dụ khách du lịch quốc tế Tây Âu coi trọng vẻ đẹp tự nhiên, hoang sơ, thích được tiếp xúc với tự nhiên. Tâm lý thích nhiều màu sắc (đỏ, vàng) trong trang trí của người Trung Quốc.

- Tâm lý theo lứa tuổi, giới: Thanh niên, thiếu niên ưa thích các không gian vui nhộn, sống động sẽ có cảm nhận tích cực với các không gian công cộng đông đúc hơn người có tuổi. Phụ nữ thích những

không gian có cảm giác an tòan. Yếu tố tâm lý này cần được quan tâm khi thiết kế các không gian cho các đối tượng, lứa tuổi khác nhau.

- Cảm giác về thời gian, dấu ấn nơi chốn (kỷ niệm, tình cảm) cũng tác động lên sự cảm thụ thị giác khác nhau.

Phần III. Một số phân tích không gian trên cơ sở cảm thụ thị giác

Công trình trọng tâm trong không gian đô thị:

Phối kết các cơ sở về thị giác trên ta thấy để một công trình trở thành trọng tâm trong không gian đô thị cần thiết phải có các điều kiện:

+Công trình nằm trong trường nhìn tập trung (của một hoặc nhiều hướng). Khoảng cách nhìn hợp lý để quan sát và cảm thụ vật thể.

+Có đủ thời gian cảm thụ vật thể cho người quan sát với tốc độ di chuyển của số đông.

+Công trình chính được các vật thể khác dẫn hướng tập trung tia nhìn.

+Công trình có phông, hình rõ ràng, không bị lẫn.

Cảm nhận về không gian đóng: Đây là những không gian cho cảm nhận về sự kín đáo, gần gũi , ấm cúng với những ranh giới không gian được xác định rõ ràng.

Trên mặt bằng: Các hướng nhìn bị giới hạn, khép kín trong không gian (do lực thị giác chi phối), khả năng nhìn ra các hướng khác nhỏ.

Trên mặt cắt: Vật thể có chiều cao giới hạn tia nhìn trên.

Góc tia nhìn đỉnh của vật thể với đường nằm ngang:

+ Tạo góc 14 o: Bắt đầu có cảm giác có vật thể chắn trước mặt

+ Tạo góc 18 o: Cảm giác có vật thể chắn phía trước

+ Tạo góc 30o: Giới hạn trên của tia nhìn, ranh giới giữa cảm giác đóng và mở.

+ Tạo góc 40o : Cảm giác đóng hòan tòan.

Cần lưu ý về vị trí nhìn phổ biến trong không gian để xác định chiêu cao cho không gian đóng. Vị trí nhìn phổ biến ở trung tâm không gian hay từ mép biên không gian sẽ cho yêu cầu về chiều cao không gian đóng khác nhau.

Cảm nhận về không gian mở

Trên mặt bằng các tia nhìn được hướng ra ngòai không gian theo một hoặc vài hướng. Trên mặt cắt, tia nhìn cũng không bị các vật thể che chắn hòan tòan (tia nhìn trên nhỏ hơn góc 14-30o). Không gian mở có thể là những không gian xanh, bờ biển với tầm nhìn về mọi phía là không giới hạn. Cũng có thể là những không gian có hướng mở chỉ về một hoặc hai phía và được liên kết với không gian khác.

Không gian có tỷ lệ đẹp

Thực tế cho thấy trong không gian có các tia nhìn trên với góc từ 14o – 40o mang lại những cảm giác dễ chịu, không gian không đóng kín quá cũng không quá mở, trống trải. Chính vì vậy những không gian có tỷ lệ chiều cao/chiều rộng từ 1/2 đến 1/4 là những không gian được coi là có tỷ lệ đẹp. Kết hợp với tỷ lệ của con người, không gian cho cảm giác ấm cúng, thân mật thường mỗi chiều không quá 25m. Một không gian đô thị không nên rộng quá 130m mỗi chiều.

Những bố cục tạo nhịp điệu, sự cân xứng, đối xứng, hài hòa, tương phản… trong không gian kết hợp với tỷ lệ cũng là yếu tố tạo nên vẻ đẹp của hình thái không gian.

Các không gian liên kết

Đây là những không gian thuờng gặp trong đô thị, tạo nên sự phong phú trong chức năng, hình thái của tuyến hoạt động.

+Trước hết phải tồn tại các không gian với những sắc thái riêng, không gian được mở về hướng liên kết.

+Có khu vực không gian chuyển tiếp, khu vực mà thị giác cảm thụ được cả 2 không gian, hay người quan sát cảm thấy vừa thuộc về không gian này vừa thuộc về không gian khác.

Hướng liên kết được quyết định bởi các vật thể dẫn hướng

Tương đồng hướng không gian và hướng giao thông:

Xu thế hoạt động về mặt thị giác do hướng không gian quyết định. Tuy nhiên hoạt động về mặt cơ học lại theo hướng của đường giao thông quyết định. Vì vậy cần có sự tương đồng giữa 2 yếu tố này, hết sức tránh việc định hướng không gian theo một phía nhưng tuyến giao thông lại đi theo phía khác, dễ tạo lên sự lẫn hướng, khả năng lạc lối cao.

Tổ hợp trục không gian: Là sự tổ hợp các không gian kế tiếp theo một tuyến, các không gian này được liên kết với nhau có thể đi kèm liên kết giao thông hoặc có thể chỉ liên kết bằng lực thị giác. Đây là thủ pháp thường sử dụng trong phạm vi tổ chức không gian tòan cảnh đô thị. Ví dụ tạo trục không gian liên kết các công trình cao tầng, điểm nhấn đặt trên các ngọn núi và với các không gian trong đô thị.

Trên đây chỉ là một số phân tích trong những khía cạnh khá phức tạp của vấn đê cảm thụ thị giác. Qua đó cũng cho thấy sự cần thiết phải nắm vững và vận dụng được những đặc tính của cảm thụ thị giác trong tổ chức không gian mới có thể tạo được những không gian đô thị thành công.

Ghi chú: (1) Tham khảo tài liệu “ Urban design in America” của AIA journal. No 1962- 1964.

Blogkientruc sử dụng tài liệu của
PGS.TS.Phạm Hùng Cường trường Đại học Xây Dựng

TỶ LỆ VÀNG TRONG KIẾN TRÚC - GOLDEN RATIO

..Đèn bàn học hôm nay hư, quyết định lên mạng tìm đọc về "tỷ lệ vàng", thấy hay nên chia sẻ nó ở đây với mọi người. Rất mong sự quan tâm và đóng góp í kiến của mọi người về vấn đề này.

vậy Tỷ lệ vàng là gì?...



TỶ LỆ VÀNG:

Là tỷ lệ cân đối nhất, với đặc điểm độc đáo là tương quan giữa thành phần nhỏ đối với thành phần lớn cũng bằng tương quan giữa thành phần lớn đối với thành phần tổng cộng, lớn và nhỏ– tức toàn thể và tất cả chỉ có một giá trị tương quan duy nhất: 0,6180389 hay 61,8% .

Nói một cách khác ,thành phần thứ 1 tỷ lệ với thành phần thứ 2, thành phần thứ 2 tỷ lệ với thành phần thứ 3 là tổng của hai thành phần 1&2 , và cứ thế ta có một chuỗi thành phần vô tận mà tất cả đều tuân theo một tỷ số 61,8%

PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH của LE CORBUSIER:
Vẽ một hình vuông rồi chia đôi hình vuông đó ra, rồi lấy trung điểm của cạnh vuông làm tâm vẽ một cung tròn có bán kính bằng đường chéo của hình chữ nhật nửa hình vuông, sẽ giúp ta kéo dài cạnh vuông ra thành một chiều dài cân đối Tỷ Lệ Vàng với cạnh vuông. Ngoài ra ta còn có diện tích của hình vuông Tỷ Lệ Vàng với diện tích của hình chữ nhật mới hình thành bởi cạnh kéo dài.

Phương pháp LE CORBUSIER xem như có tính tổng hợp các phương pháp có trước đó, cho nên khá phong phú, toàn diện: một chiều dài hoặc một diện tích có sẵn, ta có thể tìm ra các thành phần lớn hơn và nhỏ hơn mà cân đối với nhau.

NGUỒN GỐC TỶ LỆ VÀNG:
Người ta đã phát hiện các di bút về Tỷ Lệ Vàng xuất hiện khá sớm trong các kim tự tháp ở Memphis- AI CẬP cách đây gần 300 năm.

Từ đó về sau như ta đã biết đã có khá nhiều phát hiện về sự tồn tại của Tỷ Lệ Vàng trong các hình kỹ hà tự nhiên như hình ngôi sao 5 cánh ,hình đa giác 10 cạnh… trong chuỗi số nguyên Fibonacci (người Ý) (:1,2,3,5,8,13,21,34,… thì 13/21 = 61,9% 21/34=61,76%… ngày càng tiến gần đến Tỷ Lệ Vàng với đặc điểm 8 + 13 =21 , 13+21=34…

Trong các công trình kỳ quan về kiến trúc như : quần thể kim tự tháp Cheops 233/146 + 233 = 61,48% trong đó 233m= cạnh đáy 146m= chiều cao, kim tự tháp Mikerinos: 66/180= 61,11%, trong đó 108 m= cạnh đáy, 66 m= chiều cao, dù những kích thước có bị sai lệch qua thời gian , song ta thấy chúng rất gần với Tỷ Lệ Vàng, Tháp Eiffel [184,8/300,5= 61,5% trong đó 184,8 m = chiều cao phần thân chính 300,5 m= chiều cao tháp]… và ngay trong kích thước của cơ thể con người [chiều cao rốn, chiều cao toàn thân, chiều dài cẳng tay, chiều dài cánh tay …].

Do đó tất nhiên “thước tầm” của Việt Nam với những số đo xuất phát từ kích thước của con người đều rơi vào quy luật của Tỷ Lệ Vàng: 416/266 + 416= 60,99% trong đó 416= khoảng nằm, 216= khoảng đứng (ta thấy tỷ lệ ở đây chưa chuẩn chính xác Tỷ Lệ Vàng chẳng qua cũng vì có sự chênh lệch kích thước khác nhau giữa những người thợ cả ở những vùng phường thợ khác nhau)… song tất cả chỉ có một Tỷ Lệ Vàng chuẩn mực, tuyệt diệu.



Như thế,Tỷ Lệ Vàng đã tồn tại như là một quy luật tự nhiên gắn liền với tâm lý thị giác thẫm mỹ tự nhiên của con người, con người đã phát hiện giá trị cụ thể của nó bằng toán học, hình học và cho đến ngày nay cũng chưa xác định được rõ ràng Tỷ Lệ Vàng đã xuất hiện từ lúc nào! Song có một điều mà chúng ta thấy rõ ràng, đó là: Tỷ Lệ Vàng– cây đũa thần của người kiến trúc.
KTS. NGUYỄN HỮU TRÍ- KIẾN TRÚC NHẬP MÔN, trang 33-trường ĐHKT TP.HCM- 1994


TỶ LỆ VÀNG – cách giải thích thứ 2


Bí mật của thiên nhiên




Nếu ai đã đọc tiểu thuyết ” Mật mã Davinci” chắc sẽ có sự hình dung về sự gây ngạc nhiên của tỉ lệ vàng. Tỷ lệ vàng là tỷ lệ thể hiện trực quan của số Phi: 1.618033988749895, hoặc là một dãy số liên tục gọi là chuỗi Fibonacci.



Đây là hình ảnh mô tả tỷ lệ vàng. Hình chữ nhật có tỉ lệ Chiều Rộng: Chiều Dài= TỶ SỐ VÀNG.
Tỷ lệ a/b được gọi là tỷ lệ vàng nếu nó thoả mãn: a+b/a = a/b




Tỷ Lệ Vàng xuất hiện khắp mọi nơi trong tự nhiên như một điều kì bí ẩn chứa sau cái đẹp. Mọi cái gì hài hoà cân đối, khiển đôi mắt chúng ta cảm thấy nó cân xứng và đẹp thì ít nhiều đều có liên quan đến Tỷ Lệ Vàng.


Hãy quan sát thử một bông hoa Hướng Dương, phần trung tâm của Hoa ở nhị và nhuỵ sẽ thấy các đường xoắn ốc đi theo đúng với Tỷ Lệ Vàng.

Và các nhà sinh học nhận thấy rằng, bất cứ loài hoa nào được nhân loại gọi là ĐẸP thì đều có một bố cục liên quan đến Tỷ Lệ Vàng.


Ngay cả cơ thể con người cũng được phân chia theo tỉ lệ này, ví dụ chiều dài từ khuỷu tay đến cổ tay bằng chiều dài bàn tay nhân 1,618.

Hay bạn có thể đo chiều cao từ RỐN lên đến đỉnh đầu gọi là x , sau đó đo chiều cao của bạn từ rốn xuống đến chân gọi là y.

Dang 2 tay ra là đo chiều dài đó gọi là a. Nếu x/y = TỶ SỐ VÀNG và a/(x+y) cũng bằng TỶ SỐ VÀNG , đó là bạn đã có 1 thân hình của các siêu mãu.

Điều này hoàn toàn là sự thật vì các hãng thời trang đều tuân thủ nghiêm ngặt quy định này khi tuyển người mẫu.

Vì thế nếu gương mặt hay cơ thể của bạn hoàn toàn theo tỷ lệ vàng thì có thể bạn sẽ là hoa hậu đấy.


Các tỷ lệ này từng được danh họa thời phục hưng Leonardo DaVinci miêu tả trong bức ”Divine proportion” (tỷ lệ thần thánh).

Ông là người đầu tiên chứng minh rằng cơ thể con người, nói một cách chính xác theo nghĩa đen, được làm bằng các khối mà tỷ lệ giữa chúng luôn luôn là Phi.



Tỷ lệ vàng trong nghệ thuật


Tỷ lệ vàng đã được áp dụng trong các kích thước kiến trúc của các công trình nổi tiếng như đền Parthenon Hi Lạp, các kim tự tháp Ai Cập và thậm chí của cả toà nhà trụ sở Liên hợp quốc tại New York. Một số kiến trúc Việt Nam cũng thể hiện tỷ lệ này.


Tỷ lệ này còn được tìm thấy trong vô số những kiệt tác mỹ thuật và thậm chí còn xuất hiện trong cả âm nhạc của Bethoven.


Nguồn: web ohha.vn


Ngoài lề: ( mình tổng hợp từ các diễn đàn )


-Công trình đơn giản cực kỳ với những quy luật về tỷ lệ nghiêm ngặt cùng một số yếu tố khác đã tạo nên phong cách kiến trúc "khỏang lặng" rất tuyệt vời! Thế nhưng không phải lúc nào cũng thiết kế theo "tỷ lệ vàng"!!! Thực chất mắt con người và "cảm giác" của con người đã vô tình tạo thành tỉ lệ vàng mỗi khi ta viết hay vẽ một cái gì đó, chỉ là "chuẩn" hay "chưa chuẩn" và phải luyện tập để đạt được độ "chuẩn" đó


-Tỷ lệ vàng trong nghệ thuật và kiến trúc phương Tây và khái niệm tỷ lệ “Tường minh” trong phong thuỷ Đông phương.

Trong các ngành nghệ thuật tạo hình nói chung và trong nghệ thuật Kiến trúc nói riêng tồn tại những con số, những tỷ lệ được coi là chuẩn mực. Con số và tỷ lệ này được tìm thấy qua quá trình lao động và đúc kết bằng kinh nghiệm khi quan sát và chọn lọc từ giới tự nhiên. Khi đem các con số, các tỷ lệ này vào ứng dụng trong các tác phẩm về nghệ thuật, các công trình kiến trúc thì luôn tạo được hiệu quả thẩm mỹ tuyệt vời. Tỷ lệ vàng ra đời từ đó.
1,6180339887....
Nhà số học của thời Trung Cổ là Leonardo da Pisa (1175-1250) thường được biết đến với tên gọi là Fibonacci tình cờ đã tìm ra một dãy số như sau:
0, 1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34, 55, 89, 144...
Quy luật của dãy số này bắt đầu bởi hai số 0 và 1, rồi kể từ số hạng thứ ba trở đi, mỗi số hạng lại bằng tổng số của hai số hạng đứng trước.
Một sự trùng hợp tự nhiên là nếu ta lấy ba số liên tiếp trong số liệt số Fibonacci rồi lấy tích số của hai số đầu và cuối rồi trừ đi bình phương của số ở giữa thì sẽ được +1 hay -1. Tỷ dụ theo số liệt đã viết ở trên, ta thấy :
2.5 - 32 = 1
3.8 - 52 = -1
5.13 - 82 = 1
8.21 - 132 = -1
13.34 - 212 = 1
Ðiều huyền diệu trong dãy số Fibonacci là nếu gọi Fn là một số hạng trong dãy số thì tỷ số hai số hạng liên tiếp, tức là tỷ số Fn+1/Fn sẽ dẫn đến một số PHI (Ký hiệu là Ф). Con số này chính là tỷ số vàng mà các nhà toán học qua các thời đại đã nghiên cứu đặt tên.
3/2 = 1.500000
5/3 = 1.666667
...
Fn+1/Fn = 1.618033989... = Ф
Một trong những điểm thú vị nữa là tỷ lệ nghịch của nó: 1/1.618 = 0.618. Lạ lùng thay một trị số và nghịch đảo của nó có những con số lẻ giống nhau. Thực ra, ta chưa thể tìm được một con số nào khác có đặc tính ấy. Điều này làm cho tỷ lệ vàng càng thêm huyền bí.
Trong tự nhiên, nhiều nhà thảo mộc học đã tìm ra rằng các cây hay nụ hoa nở trên một cành thường nẩy mầm theo số liệt Fibonacci. Muốn dễ hiểu, ta lấy những số Fibonacci 3, 5, 8, 13 thì sẽ thấy là nhiều giống hoa đã chọn những số này là số các cánh hoa. Một thí dụ đặc sắc nhất là sự bố trí các hạt trên mặt hoa hướng dương, hay còn gọi là hoa quỳ (Tournesol)

Những hạt trên mặt hoa được xếp theo những hình xoắn ốc rất đặc biệt trong toán học gọi là những hình xoắn ốc Logarit. Như trên hình có những đường xoắn theo chiều kim đồng hồ và những đường xoắn theo chiều ngược lại. Ðiều kỳ lạ là số đường xoắn thuận và số đường xoắn nghịch không bằng nhau mà lại theo như số liệt Fibonacci. Chẳng hạn hoa nhỏ có 13 đường xoắn theo chiều thuận và 21 đường xoắn theo chiều nghịch. Hoa lớn có thể theo những số (34, 55) và ngươì ta cũng đã tìm được những hoa thật lớn có số vòng thuận và nghịch theo liệt số Fibonacci (89, 144).

Những hình chữ nhật có tỷ số chiều dài / chiều rộng = PHI được gọi là hình chữ nhật vàng
Nhiều nhà tâm lý học đã làm những cuộc thử nghiệm và thấy rằng hình chữ nhật có cạnh theo tỷ số vàng là một hình được ưa chuộng nhất. Cũng vì thế mà những hoạ sĩ khi lựa chọn kích thước cho những thẻ tín dụng đã chọn tỷ lệ vào khoảng 1,59, nghĩa là cũng gần bằng tỷ số vàng.


Một thí dụ đặc biệt là điện Parthenon một công trình vĩ đại ở Hy Lạp, được kiến trúc 5 thế kỷ trước công nguyên, mặt tiền được lọt vào đúng khuôn khổ một hình chữ nhật mà tỷ số chiều dài chia cho chiều cao lại đúng bằng số vàng Ф = 1,618...



Trong nghệ thuật hội họa, tỷ lệ vàng cũng được các danh họa sử dụng một cách triệt để. Nó xuất hiện trong hầu hết các bức tranh nổi tiếng của Leonardo Da Vinci ví dụ như bức tranh "The Last Supper" - Bữa tiệc cuối cùng và "Mona Lisa" - Nàng Mona Lisa.
Trong bức tranh "The Last Supper", tất cả các chiều cơ bản của căn phòng và cái bàn ăn được vẽ với cơ sở của tỷ lệ vàng. Bức tranh được biết đến trong thời kỳ phục hưng như là một tác phẩm nghệ thuật kinh điển về cách bài trí tương quan giữa các đồ vật.

Bức tranh nàng Mona Lisa được vẽ với tỷ lệ chính xác là 1.62;


-Trong toán học và nghệ thuật, hai đại lượng được gọi là có tỷ số vàng hay tỷ lệ vàng nếu tỷ số giữa tổng của các đại lượng đó với đại lượng lớn hơn bằng tỷ số giữa đại lượng lớn hơn với đại lượng nhỏ hơn. Tỷ lệ vàng thường được chỉ định bằng ký tự φ (phi) trong bảng chữ cái Hy Lạp nhằm tưởng nhớ đến Phidias, một nhà điêu khắc và kiến trúc sư của đền Parthenon. Tỷ lệ vàng là một số vô tỷ:

\varphi = \frac{1 + \sqrt{5}}{2} \simeq 1,618033988749894848204586834365... .


-Nói là tỉ lệ, vì nó chỉ mối tương quan giữa 2 độ dài khác nhau

-Tỷ lệ vàng với tôi là cách chia không gian theo các khoảng đoạn phù hợp với các qui chuẩn của nó: Đặt để đồ vật, mục đích sử dụng, kiểu dáng thẩm mĩ, nhu cầu cụ thể (khí, gió, sáng)

Việc vận dụng nó lại rất nhiều biến hóa và đa dạng, người đẹp, người xấu, nhưng trong phép chia tỷ lệ vàng thì người ta có thể thấy rõ được ý đồ của nhà thiết kế, và cả... trình độ, thẩm mĩ nữa

-Nói sơ sơ là tỷ lệ vàng là con số của vũ trụ, nó không phải do con người tạo ra, mà có mặt trong tất cả các quy luật tự nhiên như vòng xoắn của thân vỏ ốc, nhịp đâp trái tim, quy luật tẻ nhánh của thân cây từ thấp lên cao, quy luật về khoảng cách giữa các màu đơn sắc trong dải quang phổ!




Và những câu hỏi đc đặt ra:

-1. sẽ dễ dàng ra đời những phần mềm tự động thiết kế kiến trúc, sáng tác tranh, thiết kế đồ họa, thiết kế nội thất... với giá trị nghệ thuật rất cao, phong phú đa dạng và đương nhiên là các nghệ sỹ sẽ phải kiếm việc khác mà làm??
2. rất có thể các tác phẩm áp dụng tỷ lệ này sẽ đẹp (với điều kiện là áp dụng đúng). Vậy điều đó hoàn toàn có nghĩa rằng: tất cả các tác phẩm đẹp đẽ đều phải áp dụng tỷ lệ này??
3. nếu tỷ lệ này thật sự được chính thức công nhận là "thần kỳ" thì có lẽ chúng ta chỉ việc học mỗi một môn là TỶ LỆ VÀNG??


Tài liệu tham khảo: (để tiện cho việc tra cứu tài liệu, tên tiếng Anh của "tỷ lệ vàng" là "golden ratio")

-"Tỉ lệ vàng" của Nguyễn Minh Hoàng biên dịch theo bản gốc "The Golden Ratio" của Mario Livio.

-"VITRUVIUS - Mười cuốn sách về kiến trúc" của nhà xuất bản xây dựng.

-"Kiến trúc - không gian, hình thể và trật tự" của FRANCIS . D . K . CHING.

-các quyển sách về nguyên lý thiết kế kiến trúc của Đặng Thái Hoàng.

-KT: "TIÊU CHUẨN VÀ CÁI ĐẸP" của A.A Chix, nhà xb xây dựng.


clip có các slide nói về Tỷ lệ vàng


December 2009
M T W T F S S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31