Skip navigation.

Du Lịch Mũi Né

Cảm thụ cuộc sống theo từng chuyến du lịch

Lễ hội cầu ngư của ngư dân Bình Thuận


Đối với ngư dân làm nghề biển ở nước ta, Cầu ngư là một loại lễ thức quan trọng ảnh hưởng và tác động đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Do phong tục tập quán và cách quan niệm khác nhau nên mỗi nơi có một cách thức tổ chức lễ khác nhau dựa trên một điểm chung mang tính phổ quát. Ở các tỉnh miền Trung, nhìn một cách tổng thể thì loại hình lễ nghi này gắn bó chặt chẽ hơn, biểu hiện cụ thể trên nhiều mặt của văn hóa cộng đồng. Trong văn hóa vật thể biểu hiện bằng sự hiện diện của hàng trăm làng vạn, đền thờ, khu mộ để bảo quản, lưu giữ xương cốt Ông (cá Voi) và song hành với văn hóa vật thể là phong tục tập quán, tang chế, lễ nghi và các loại hình văn hóa dân gian khác đi cùng để làm phong phú hơn nội dung và hình thức lễ hội Cầu ngư.


Bình Thuận, từ lâu ai cũng biết đến với nền kinh tế biển chủ đạo và một loại hình văn hóa dân gian đặc sắc, đó là lễ hội Cầu ngư có từ lâu đời với nhiều nét riêng biệt của ngư dân người Việt định cư ven biển và hải đảo. Ngoài những yếu tố giống nhau như những nơi khác ở miền Trung, lễ hội Cầu Ngư ở Bình Thuận mang những nét đặc trưng riêng biệt. Tất cả các làng chài ven biển đều có các lăng vạn thờ cá Voi, ngư dân tôn trọng và coi lễ hội Cầu ngư là lễ nghi chung của cộng đồng.

Lễ hội Cầu ngư của ngư dân Bình Thuận qua một số lễ nghi ở Vạn Thủy Tú để thấy được mối liên hệ gắn bó mật thiết giữa ngư nghiệp với tập tục thờ cúng cá Voi, niềm tin và lòng tôn kính của những người lao động biển với Ông Nam Hải. Đồng thời qua đó làm nổi bật được mục đích, ý nghĩa của từng nghi thức trong lễ hội, thể hiện những nét đẹp mang đậm sắc thái văn hóa biển của ngư dân Bình Thuận.



Trong dân gian người Việt cũng như người Chăm và người Hoa đều cho rằng: Cá Voi không phải là loài cá bình thường mà là một loài cá thần. Biểu hiện ở đây không phải là sức vóc to lớn và sức chịu đựng khác thường, mà là loài cá có suy nghĩ, có tình cảm và đặc biệt là sự cảm nhận và tâm linh như con người. Không phải ngày xưa mà ngay cả bây giờ nhiều người vẫn nghĩ thế. Do đó, việc tôn thờ và thờ phụng rất tôn nghiêm.




Trong sự chuyển hóa từ một loài vật nơi biển cả thành một vị Thần của cư dân sống bằng nghề biển, có vai trò của vương triều nhà Nguyễn. Nhiều đời vua nhà Nguyễn đã ban sắc phong tặng cá Voi là “Nam Hải cự tộc Ngọc Lân tôn Thần”. Cũng như ngư dân các tỉnh miền Trung và Tây Nam bộ, ngư dân Bình Thuận có một niềm tin tưởng mãnh liệt vào sự linh thiêng của cá Ông và coi đây là vị Thần cứu trợ luôn ở bên cạnh họ trong những chuyến biển đầy nguy hiểm.

Từ các làng chài ven biển trong đất liền cho đén vùng hải đảo hiện nay còn bảo lưu hàng chục ngôi vạn thờ cá Voi. Hầu hết các vạn được xây dựng vào thế kỷ XVIII – XIX gắn với quá trình tụ cư và hình thành các làng chài. Vạn Thủy Tú (Phan Thiết) được xây dựng vào năm Nhâm Ngọ (1762) và Vạn An Thạnh (Phú Quý) xây dựng vào năm Tân Sửu (1781) được coi là những ngôi vạn được xây dựng sớm và có quy mô, bề thế. Đặc biệt ở Vạn Thủy Tú có thờ Thủy tổ nghề biển, ở đây còn bảo lưu trên 100 bộ xương cốt Ông và các loài cá lạ, trong đó có nhiều bộ xương lớn có niên đại trên 150 năm.

Cũng như ngư dân các tỉnh ven biển miền Trung và Nam Bộ, tập tục thờ cá Voi của ngư dân Bình Thuận bao hàm nhiều nghi thức lễ, hội hè liên quan đến Ông cũng như chu kỳ mùa màng làm ăn của ngư dân. Ngoài lễ hội Cầu ngư chính mùa được coi là nghi thức chính trong năm, một số nghi thức lễ khác cũng thường xuyên được tổ chức tại vạn hàng năm, tập hợp lại thành hệ thống như: lễ mai táng xác Ông, lễ Thượng ngọc cốt Ông, Lễ Cầu ngư đầu năm (hay goi là lễ tế Xuân) diễn ra trong tháng Hai âm lịch, lễ Hạ nghệ xuống vụ cá Nam (lễ Cầu ngư đầu mùa) diễn ra trong tháng Tư âm lịch, lễ Cầu ngư chính mùa diễn ra trong tháng Sáu âm lịch, Lễ Mãn mùa diễn ra vào tháng Tám âm lịch.

Lễ hội Cầu ngư là nơi lưu giữ trong mình về tín ngưỡng dân gian, phong tục tập quán cùng mối quan hệ mật thiết với tín ngưỡng tâm linh. Tất cả những mối quan hệ ấy gắn bó chặt chẽ với nhau, hòa quyện vào nhau, có tác động qua lại ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình tồn tại cho đến ngày nay vẫn mang đậm những đặc trưng văn hóa biển.

Du Lịch Mũi Né


Nằm cách thành phố Phan Thiết 22km về hướng Đông Bắc. Mũi Né là tên của một làng chài và cũng là một điểm du lịch quen thuộc của Bình Thuận. Dọc theo quốc lộ 706 từ thành phố Phan Thiết đến Mũi Né là một dãy đồi cát thoai thoải và bãi cát ven biển rộng, thoáng mát với những rặng dừa tuyệt đẹp. Bãi biển rộng, thoải, nước sạnh và trong, nắng ấm quanh năm, không có bão là nơi tắm biển, nghỉ ngơi lý tưởng dành cho du khách.


Mũi Né có nhiều bãi biển hoang sơ, nguyên thủy, chưa có sự khai thác của con người, cảnh quan hùng vĩ, môi trường thiên nhiên trong lành như bãi Ông Địa, Bãi Trước và Bãi Sau. Đến Mũi Né, các bạn có thể tắm biển, nghỉ dưỡng, chơi thể thao, du thuyền trên biển, dã ngoại kết hợp săn bắt, câu cá, chơi golf... Tại Mũi Né, còn có Đồi Cát, nơi mà bao năm qua trở thành đề tài sáng tác của nhiều nghệ sĩ nhiếp ảnh. Ngoài các bãi biển, cồn cát, khu vực này còn có nhiều cảnh đẹp như Suối Tiên, Lầu Ông Hoàng, Tháp Chăm PôSaNư. Dọc bãi cát ven biển là các làng du lịch, khách sạn, biệt thự và nhiều công trình thể thao giải trí.

Hầu hết các du khách đến Mũi Né đều bị lôi cuốn bởi mùi thơm của đặc sản rất riêng của Phan Thiết đó là mùi hương của nước mắm trong quá trình chế biến. Đây là qui trình chế biến rất công phu qua nhiều giai đoạn khép kín từ việc đánh bắt cá, rửa sạch cá và muối cá trong những thùng lều cao lớn. Toàn bộ qui trình chế biến nước mắm qua việc muối cá trong thùng lều với thời hạn từ 8 tháng đến một năm trước khi thành phẩm. Khi xuất hiện nước trong màu hơi đỏ chảy ra từ thùng lều, người ta gọi đó là nước mắm nhỉ, nước mắm nhỉ rất ngon và thơm. Sau đó người ta làm loãng đi rồi đóng chai.

Nước mắm chế biến từ Phan Thiết xuất hiện trên khắp miền đất nước. Ngày nay, sản xuất hàng năm của nước mắm Phan Thiết từ 16-17 triệu lít. Muối được dùng để làm nước mắm cũng là một trong những sản phẩm của Bình Thuận.

Mặc dầu ngư trường là ngành công nghiệp lớn tại Phan Thiết, xong nó vẫn là một nghề kinh tế gia đình của nhiều ngư dân ở vùng biển Mũi Né. Khi những người đàn ông ra biển đánh cá ngoài khơi thì ở nhà những người phụ nữ quán xuyến việc nhà, bán buôn, đan lưới, là trụ cột cho gia đình.


Hầu hết địa hình của Mũi Né bao gồm đồi núi và cát nên ngành nông nghiệp rất ít phát triển, chỉ một vài vụ mùa của một số cây trồng chịu sống được trên đất khô

Chỉ đi theo hướng Đông của Phan Thiết độ một vài kilômét là các bạn sẽ gặp một dãi bãi tắm chạy dọc theo bờ biển và có rất nhiều cảnh đẹp thuộc trong số những bãi biển đẹp nhất Việt Nam đó chính là Đồi Cát - Mũi Né.

Một hàng dừa thẳng tắp dọc hai bên đường như nghiêng mình chào đón những du khách đến đây, và còn có những đồi cát rộng mênh mông với màu vàng, trắng hay đỏ tạo nên khung cảnh rất hùng vĩ và đẹp mắt mà tạo hóa đã ban cho mảnh đất Mũi Né.

Vào khoảng giữa tháng 7 đến tháng 10 là mùa cá, đây cũng là giai đoạn đỉnh điểm của những ngư dân vùng biển Phan Thiết ra khơi đánh bắt cá. Vào đêm tối, ánh sáng phát ra từ những chiếc thuyền của những ngư dân đang đánh bắt xa bờ hiện lên phía chân trời ngoài biển khơi một màu lấp lánh trông rất đẹp và quyến rũ. Từ đất liền nhìn những ánh đèn đó tập trung với nhau trông giống như một thành phố nổi đang lênh đênh trên biển.