Sticky post
Tuesday, March 25, 2008 5:35:13 AM
0. TRANG CHỦ
Khi bạn hay người thân không may bị bệnh Tai Mũi Họng & Khối u vùng Đầu Cổ mà bạn băn khoăn không biết bệnh đó là gì? có nguy hiểm không? cách chữa trị bệnh đó ra sao? sẽ phải tham khảo ý kiến của bác sỹ những gì?...
Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với các anh chị và các bạn một số bệnh về chuyên khoa sâu thuộc lĩnh vực này trên blog's giúp bạn và người thân có một cái nhìn tổng quan và biết được diễn biến cũng như biến chứng tiềm ân đằng sau những bệnh đó...
Các bài viết được sắp xếp theo Tags từng chủ đề để có thể tìm nhanh đến bài cần có mà không mất nhiều thời gian...
I - TRANG CHỦ
II - BỆNH TAI MŨI HỌNG & ĐẦU CỔ
1. Bệnh tai & nghe kém
2. Bệnh mũi & xoang
3. Bệnh họng & thanh quản
4. Ung thư & phẫu thuật đầu cổ
5. Ngủ ngáy & Rối loạn thở khi ngủ
6. Phãu thuật tạo hình & thẩm mỹ
7. Thông tin Khác
III - CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ
A. ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH
1. Mũi xoang :
Các bệnh gây nghẹt mũi, sổ mũi, mất hoặc giảm mùi, nhức đầu. Viêm xoang cấp, mạn. Chảy máu mũi. U vùng mũi xoang. Chấn thương mũi, xoang. Viêm V.A.
2. Họng - thanh quản :
Đau họng, nuốt vướng, khàn tiếng, khó thở, khó nói, ho kéo dài, Viêm họng cấp, mạn. Viêm thanh quản cấp, mạn. Viêm Amidan cấp, mạn. Hạt xơ dây thanh, polyp dây thanh.
3. Tai :
Đau tai, chảy mủ tai, ù tai, nghe kém, chóng mặt ...Viêm tai ngoài. Nhọt ống tai, Nút ráy tai, Viêm tai giữa cấp, mạn. Viêm tai xương chũm cấp, mạn và (hoặc không) biến chứng.
4. Các khối u lành, ác tính vùng đầu - cổ. ( u tuyến giáp, u tuyến nước bọt...)
5. Các dị tật bẩm sinh vùng tai, họng, mũi.
B. CÁC THỦ THUẬT ĐIỀU TRỊ
1. Mũi xoang.
Chọc xoang. Khí dung mũi. Chăm sóc mũi sau mổ. Lấy dị vật mũi. Nội soi mũi xoang chức năng (FESS), Chỉnh hình vách ngăn, Chỉnh hình cuốn dưới, Chỉnh hình cuốn giữa, can thiệp Amidan, Nạo V.A qua nội soi...
2. Tai.
Thông vòi nhĩ. Mổ lấy dò luân nhĩ. Chỉnh hình vành tai đơn giản. Chăm sóc tai sau mổ. Làm thuốc tai. Lấy dị vật tai. Chữa ù tai, chóng mặt, bệnh tiền đình, phẫu thuật các bệnh tai xưong chũm, thay màng nhĩ mới bằng máy nội soi.........
3. Họng, Thanh quản.
Khí dung họng. Cắt hạt xơ, polyp dây thanh qua nội soi....
4. Khối u lành tính hoặc ung thư.
Phát hiện sớm các bệnh ung thư vùng tai mũi họng, phẫu thuật khối u tuyến giáp, khối u tuyến nước bọt, khối u lành và ác tính vùng đầu cổ. Phát hiện và xử lí các bệnh bẩm sinh vùng đầu cổ....
5. Bệnh lý khác.
- Chữa ngủ ngáy và ngừng thở khi ngủ
- Thẩm mỹ vùng mặt....
- Can thiệp điều trị sứt môi, hở hàm ếch....
Liên hệ:
PHÒNG KHÁM NỘI SOI TAI MŨI HỌNG MY - ANH
Số 16 Ngõ 183 - Đặng Tiến Đông - Q. Đống Đa - Hà Nội
(Nằm trong trung tâm y tế Lao Động - Bộ NN&PTNT)
Điện thoại: 04.39 96 36 68 hoặc 0912.37.47.48
CHÚNG TÔI ĐỒNG HÀNH CÙNG QUÍ VỊ ĐỂ ĐIỀU TRỊ TẬN GỐC
Xin chúc tất cả quí vị luôn luôn mạnh khỏe và hạnh phúc.
Tuesday, December 1, 2009 2:33:23 AM
Khi bạn được bác sĩ chẩn đoán bị trào ngược dạ dày thực quản (GERD) và kê đơn thuốc cho bạn, ngoài việc dùng thuốc ra thì bạn nên lưu ý đến những chế độ kiêng khem sau đây:
1. Gối đầu cao lên khoảng 15 – 20cm (có thể kê cao đầu giường lên.)
2. Không nên ăn trước khi đi ngủ khoảng 4 giờ đồng hồ.
3. Uống thuốc đầy đủ theo đơn của bác sỹ
4. Tránh các thức ăn sau đây:
Đồ rán/nhiều mỡ
Chất kích thích(Cà phê, chè, sô cô la…)
Gia vị cay (bạc hà, hành, tỏi, quế, rau húng…)
Rượu, bia
Thức ăn chứa axit
Nước có ga
5. Tránh mặc quần áo quá chật.
6. Tránh hút thuốc.
7. Nếu quá béo, phải giảm cân.
8. Nếu có thể phải tránh những loại thuốc sau đây:
Anticholinergics
Aspirin
Benzo diazepams
Prostaglandins
Theophylline
Tricyclic Antidepressants
Chẹn kênh Calcium
* Hỏi ý kiến bác sỹ của bạn về những loại thuốc bạn đang dùng và có dùng được tiếp tục.
Monday, November 16, 2009 5:05:33 AM
1. BỆNH TAI & NGHE KÉM
A- CHỈ ĐỊNH ĐẶT OTK
1. Viêm tai giữa cấp nặng
2. Viêm tai giữa ứ dịch kèm giảm nghe >30db và > 3 tháng

3. Viêm tai giữa đáp ứng kém với kháng sinh điều trị.
4. Viêm tai giữa đe dọa biến chứng viêm xương chũm, nội sọ
5. Giai đoạn tái phát của vtg(>3lần/6tháng hoặc >4lần/12tháng)
6. Co kéo màng nhĩ mãn tính (tạo túi co kéo - > Cholesteatoma)

7. Chấn thương áp lực
8. Hiện tương Autophony (tự nghe tiếng minh như thở do loa vòi mở rộng).
9. Dị dạng sọ mặt (mà có thể gây rối loạn chức năng vòi như hở hàm ếch)
10.Viêm tai giữa do tia xạ vùng đầu cổ.
Để OTK trong tai bao lâu?
Hầu hết OTK được lưu lại từ 3 đến 18 tháng, trung bình là 9 tháng, tuy nhiên, OTK có thể để lâu hơn hoặc lấy ra sớm hơn tùy thuộc từng bệnh nhân. khi OTK tự tụt ra thì màng nhĩ sẽ tự liền lại.
Dấu hiệu tụt OTK đầu tiên là cảm giác đầy, tức trong tai, cảm giác này xuầt hiện là do màng nhĩ nơi được đặt OTK liền lại và làm cho OTK dần dần bị đẩy ra ngoài
Nếu OTK bị tụt ra ngoài thì có cần phải đặt lại???
Tỷ lệ đặt lại OTK từ 15.9 % (tuổi trên 18 tháng) đến 26.3 % (tuổi 18 tháng trở xuống) Nguy cơ lớn nhất khi đặt lại OTK là độ tuổi dưới 18 tháng. Điều rất quan trọng là trẻ phải được kiểm tra định kỳ 3 – 6 tháng sau đặt OTK để xác định OTK vẫn hoạt động.
B-Biến chứng đặt OTK
1. Chảy ít máu
Thường xuất hiện khi OTK bị tuột hoặc gỡ ra. Dùng thuốc nhỏ tai sẽ hết chảy máu trong vài ngày.
Nếu OTK để kéo dài 3 năm thì bác sỹ có thể phải gỡ ra bằng cách đư trẻ trở lại phòng mổ.
2. Tắc OTK

3. Lỗ nhỏ ở màng nhĩ khi OTK tụt hoặc tháo ra. hiếm gặp (chỉ 1%)

Lỗ thủng này đóng vai trò như OTK, nhưng ở khía cạnh nào đó phải đưa đứa trẻ trở lại phòng mổ để vá lỗ thủng đó. Viếc vá lỗ thủng này có thể trì hoãn cho đến lúc trẻ 6 – 8 tuổi.
4. Tụt OTK vào hòm tai

Để có thêm thông tin chi tiết xin vui lòng liên hệ cho chúng tôi
Sunday, April 27, 2008 2:03:48 PM
3. BỆNH HỌNG & THANH QUẢN
VIÊM THANH QUẢN CẤP
Thường gặp ở trẻ em, do hiện tượng thanh quản bị viêm và sưng lên.
Thanh quản là bộ phận có cấu tạo phức tạp của cơ thể, có chức năng phát âm, gồm một hệ thống cơ của các dây thanh âm, các mảnh sụn khớp với nhau tạo thành một số xoang có tác dụng cộng hưởng âm thanh. Phía trên các dây thanh âm là nắp thanh môn, phía dưới là thanh môn. Phủ lên tất cả hệ thống này là những tuyến nhầy.
Thanh quản bị viêm nhiễm có thể sưng nề bịt lấy khí quản khiến bệnh nhân bị nghẹt thở. Một số trường hợp phù thanh quản do dị ứng cũng có hậu quả tương tự.
Triệu chứng bệnh
Sau khi bị viêm mũi, viêm xoang, bệnh nhân bỗng mất tiếng, hoặc giọng khàn, nói khó khăn kèm theo hiện tượng ho, sốt, nhiều đờm.
Cần phải làm gì?
Cần đưa ngay tới bác sĩ:
- Khi thấy bệnh nhân khó thở, hít vào có tiếng rít. Trong khi bác sĩ chưa tới, để bệnh nhân ngồi hơi ngả về phía trước, như vậy bệnh nhân sẽ dễ thở hơn.
- Khi thấy tiếng ho khàn, bệnh nhân mệt nhiều và gần như không nói được.
- Hiện tượng khàn tiếng kéo dài lâu ngày không thấy đỡ có thể là biểu hiện của chứng ung thư các dây thanh âm.
Chẩn đoán và điều trị
Khi thấy đứa trẻ bị nghẹt thở hoặc thở khó khăn, có tiếng rít, bác sĩ sẽ khám họng để xem đứa trẻ có nuốt phải một vật gì và bị hóc hay không. Đứa trẻ cũng được giữ lại bệnh viện để được theo dõi thường xuyên.
Nguyên nhân có thể do các cơ ở phần trên các dây thanh âm bị nhiễm trùng (haemophilus, streptocoque…) Cần phải cho trẻ thở bằng bình oxy - đôi khi phải đặt ống thở qua khí quản - và chữa trị bằng corticoide. Đối với các trẻ sơ sinh, đây là một ca bệnh rất trầm trọng.
Trường hợp các cơ bên dưới các dây thanh âm bị viêm nhiễm cũng được điều trị như trên.
Viêm thanh quản còn có thể có những nguyên nhân sau: do bị nấm, bị tổn thương vì nói to, hút thuốc, chiếu X-quang, do có khối u, có những hạt nhỏ, có những tế bào bị viêm, nhiễm.
Thursday, April 24, 2008 12:29:22 PM
7. THÔNG TIN KHÁC
U TUYẾN YÊNVị Trí Tuyến Yên
Dấu hiệu:
Do tuyến yên là cơ quan điều chỉnh chế tiết hóc môn toàn bộ cơ thể, Khi tuyến yên bị ảnh hưởng thì các hệ thống nội tiết khác cũng ảnh hưởng theo vì thế gây ra hàng loạt các dấu hiệu, triệu chứng khác nhau. Các triệu chứng tùy thuộc vào loại và vị trí của khối u mà gây ra bài tiết hoóc môn quá nhiều hoặc quá ít hoặc gây chèn ép não hay thần kinh trung ương.
Một số loại khối u gây tăng tiết hoóc môn quá nhiều, số khác lại gây giảm tiết hoóc môn do đó triệu chứng vô cùng khác nhau (ví dụ: 1 loại khối u gây mọc lông, tóc nhiều, ngược lại có loại khối u gây rụng tóc…).
Cùng 1 loại khối u lành tính có thể gây ra tăng tiết quá nhiều hoóc môn nhưng ở giai đoạn sau lại gây bài tiết quá ít hoóc môn ấy, đây là quá trình điều chỉnh bình thường của tế bào tuyến yên. Cho nên cùng 1 loại khôi u nhưng giai đoạn sơm thì thế này nhưng giai đoạn muôn hoàn toàn ngược lại.
Một số trong vô số dấu hiệu đi kèm u tuyến yên như sau:
1. Đau đầu
2. Thay đổi trường nhìn
- Nhìn đôi
- Sụp mi mắt
3. Thay đôi tính cách
- Giảm hứng thú tình dục
- Tính cáu kỉnh
4. Tai biến mạch máu não
5. Chảy mũi
6. Da thay đổi
- Da dầy lên
- Phì đại nang lông
7. Thay đổi khuôn mặt
- Mặt tròn trịa, mắt sưng
- Xương hàm và mặt bạnh to ra
8. Thay đổi lông, tóc
- Rụng lông
- Tóc rễ tre, thưa tóc
- Rụng lông mày
9. Suy yếu
10. Lờ đờ
11. Thay đổi nhiệt độ
- Không chịu được lạnh
- Không chịu được nóng
12. Táo bón
13. Nôn và buồn nôn
14. Giảm huyết áp
15. Giảm cảm giác khứu giác
16. Thay đổi cân nặng
- Giảm cân (không chủ định)
- Tăng cân ( không chủ định)
Ở phụ nữ giới:
- Mất kinh nguyệt
- Tiết sữa bất thường
- Mọc nhiều lông trên người, chân, tay…
Ở nam giới:- Vú to ra
- Bất lực
Triệu chứng và xét nghiệmBác sỹ sẽ yêu cầu bạn kiểm tra để xác định bạn có bị nhìn đôi, giảm trường nhìn…
Xét nghiệm giúp xác định chẩn đoán bao gồm:- Cộng hưởng từ sọ não
- Cắt lớp vi tính não
- Kiểm tra trường nhìn
Xét nghiệm chức năng nội tiết bao gồm:
- Nồng độ Cortisol
- Xét nghiệm Urine cortisol
- Nồng độ tiêu thụ Dexamethasone suppression huyết thanh
- Nồng độ Insulin tăng trưởng
- Hoóc môn tuyến giáp
TSH
T4 tự do
Nồng độ FSH…
Monday, April 21, 2008 2:27:54 PM
2. BỆNH MŨI & XOANG
CHỈNH HÌNH VÁCH NGĂN LÀ GÌ?
Vách ngăn mũi là tấm vách được cấu tạo bằng sụn ở phía trước và phần xương ở phía sau chiều dài xấp xỉ ngón tay chỏ của bạn. Nếu bạn dùng ngón chỏ và ngón cái thò sâu vào 2 lỗ mũi thì phần bạn cảm thấy giữa 2 ngón tay đó chính là phần sụn của vách ngăn. Vách ngăn có thể bị cong, vẹo, mào, gai, thủng...do chấn thương vào mũi hoặc do sự phát triển không đều giữa vách ngăn và khung xương của nó: nghĩa là vòm mũi và đáy hốc mũi, chúng ta hình dung vách ngăn bức tranh còn khung xuống là khung bức tranh nếu bức tranh lớn hơn khung tranh thì sẽ làm cho bức tranh bị vẹo. Để làm thẳng lại ta cần phẫu thuật chỉnh hình vách ngăn lại.
TẠI SAO CẦN CHỈNH HÌNH VÁCH NGĂN
Mũi bạn bị ngạt tắc do vách ngăn bị vẹo, thì chỉnh hình VN sẽ giúp chữa khỏi ngạt đó.
Đôi khi ta phải chỉnh hình VN để lấy đường để làm phẫu thuật khác trong mũi ví dụ mổ xoang
Phẫu thuật chỉnh hình VN không có nghĩa là làm thay đổi hình dạng bề ngoài mũi của bạn.
TÔI CÓ CẦN PHẢI PHẪU THUẬT CHVN KHÔNG?
Veo VN sẽ không gây bất cứ tác hại gì cho bạn nên bạn có thể mặc kệ nó mà chảng cần can thiệp gì. Chỉ nên phàm phẫu thuật khí vẹo VN gây cho bạn quá nhiều rắc rối: ngạt mũi, đau mũi, xuất tiết mũi sau, chảy máu mũi, ngủ ngáy hoặc mất hoặc kém ngửi...
Chỉ có phẫu thuật CHVN mới khắc phục được tình trạng VN cong, vẹo, mào, gai, thủng...Các thuốc xịt, nhỏ mũi chỉ giúp điều trị các sưng nề kèm theo mà thôi.
PHẪU THUẬT DIỄN RA THẾ NÀO?
Phẫu thuật kéo dài khoang 30', bạn sẽ được gây mê. Tất cả quá trình phẫu thuật được tiến hành trong mũi nên không có bất kỳ sẹo nào làm mất mỹ quan trên khuôn mặt của bạn. Qua mũi chúng tôi lấy bỏ 1 phần sụn, xượng bị tổn thương bỏ đi, phần lành lặn có thể được cấy trở lại và được cố định bằng thiết bị chuyên dụng đặc biệt.
PHẪU THUẬT CÓ ĐAU KHÔNG?
...............
If you have any questions or worries, please call 0912.37.47.48
Sunday, April 20, 2008 2:32:54 PM
Các tu thể để dùng thuốc nhỏ mũi đạt hiệu quả cao nhất

Viêm nhiễm bệnh đường hô hấp ở trẻ em, dù mùa hè hay mùa đông, các bà mẹ cần chăm sóc con em mình một cách chu đáo. Đó là phương pháp tốt nhất nhằm bảo vệ sức khỏe cho trẻ em.
Có nhiều nguyên nhân thuận lợi dẫn đến viêm nhiễm này nhưng chủ yếu là do việc thay đổi nóng lạnh đột ngột. Ví dụ:
· Thay đổi nhiệt độ buổi sáng và chiều tối, trong phòng điều hòa và ngoài trời.
· Các cháu chạy nhảy ra nhiều mồ hôi sau đó tắm lạnh hay uống lạnh ngay.
Ở trẻ em thường gặp nhất là viêm VA, ở trẻ lớn hơn hay gặp viêm họng - viêm Amiđan. Đặc biệt viêm VA ở trẻ nhỏ vì trẻ chưa có ý thức về bệnh tật và không hợp tác nên làm nản lòng các bậc cha mẹ dẫn đến việc phòng chống không được tích cực.
Ngạt mũi, sụt sịt là chuyện thường xuyên xảy ra ở trẻ nhỏ, do trẻ hay khóc nước mắt theo ống dẫn lệ đổ vào mũi làm trẻ sụt sịt. Một thời gian sau nước và dịch tiết mũi quánh lại thành rỉ mũi, dịch này chảy xuống họng làm trẻ hay ho. Hốc mũi trẻ lại nhỏ nên dễ gây ngạt mũi. Ngoài ra khi thời tiết, nhiệt độ thay đổi cũng có thể làm cho mũi trẻ phản ứng tăng tiết dịch hơn.
Tất cả những điều đó là bình thường nhưng nếu tình trạng diễn ra nhiều và bố mẹ trẻ không chú ý phòng bệnh dẫn đến trẻ bị viêm VA.
Phòng chống viêm bằng cách vệ sinh mũi thế nào?Chỉ cần nước muối (Tốt nhất nước muối sinh lý 0,9% dùng để tiêm truyền vì có nồng độ muối giống như nồng độ muối trong cơ thể, đảm bảo vệ sinh và tinh khiết. Ở những nơi xa không có điều kiện mua sẵn thì tự pha lấy nước muối nhưng phải đảm bảo vệ sinh).
Trước những trẻ như vậy một ngày rỏ rửa mũi 4, 5 đến 6 lần, thậm chí nhiều hơn mà không có ảnh hưởng gì đối với trẻ. Nước muối có tác dụng rửa, sát khuẩn lại làm loãng dịch nhầy làm sạch mũi, vi trùng không có điều kiện phát triển.
Một thuốc nữa có thể sử dụng trong phòng bệnh đó là Acgyrol: thuốc này có tác dụng sát khuẩn rất tốt (Chú ý: Thuốc được bọc trong giấy than đen tránh tiếp xúc với ánh sáng vì trong thành phần có chứa muối bạc gặp ánh sáng bị phân hủy nên mất tác dụng điều trị). Tuy vậy, Acgyrol cũng không nên sử dụng dài ngày và chỉ nên dùng để bổ trợ cho nước muối trong trường hợp trẻ sụt sịt nhiều mà rỏ nước muối chưa đỡ.
Một số thuốc co mạch, kháng sinh khác dùng trong TMH phải dùng theo chỉ dẫn của bác sỹ, nhất là phù hợp với độ tuổi.
Có một khó khăn lớn trong rỏ mũi cho trẻ nhỏ: trẻ luôn chống lại hoặc khóc. Vì thế nhiều cha mẹ sợ hoặc ngại giữ trẻ mạnh sợ trẻ đau, vấn đề là làm đúng cách thì không có gì đáng ngại cả.
Làm thế nào để nhỏ thuốc được vào mũi của trẻ?Trẻ hợp tác thì mọi chuyện rất đơn giản, nhưng trẻ không hợp tác?
Trong trường hợp đó nên có 2 người: Một người bế trẻ và rỏ mũi; người kia giữ đầu trẻ. Người giữ đầu trẻ sử dụng lòng bàn tay ôm sát đầu trẻ, như vậy giữ được chặt và không làm đau. Giữ đầu trẻ theo hai cách: ôm dọc theo hai bên thái dương hoặc một tay ôm ngang đầu (vùng đỉnh đầu) và một tay ôm ngang cằm. Nên chú ý mỗi lần nhỏ mũi gồm 2 bước:
Bước 1: Lấy rỉ mũi ở cửa mũi (có thể sử dụng tăm bông có sẵn), sau đó nhỏ 3-4 giọt nước muối hoặc Acgyrol vào mỗi bên lỗ mũi.
Bước 2: Đợi sau vài phút dịch mũi bị hòa loãng sẽ chảy ra, tiếp tục rỏ lại như trên một lần nữa. Làm như vậy mới đảm bảo việc nhỏ mũi được tốt.
Kèm theo tránh ăn uống đồ lạnh, tránh tắm lạnh nhất là khi trẻ vận động ra nhiều mồ hôi hoặc ở ngoài trời nóng. Việc sử dụng điều hòa nhiệt độ nên dùng ở nhiệt độ không thấp quá (từ 26-27 độ trở lên) và tránh ra vào nhiều lần vì như vậy phải chịu sự thay đổi nhiệt độ lớn giữa trong và ngoài liên tục.
Những trẻ gửi nhà trẻ rất dễ bị lây nhiễm qua bạn cùng lớp, cần được chú ý phòng chống bệnh ngay, phải để ý tới tình trạng của trẻ khi trẻ đi học về nếu có dấu hiệu nghi ngờ: hắt hơi, sổ mũi, ho... phải rỏ mũi ngay.
Bố mẹ, người thân trong gia đình bị viêm nhiễm đường hô hấp cũng nên có ý thức giữ gìn cho trẻ nhỏ bằng cách hạn chế tiếp xúc với trẻ, tới bác sĩ ngay để tìm cách điều trị dứt điểm.
Phần lớn viêm nhiễm hô hấp trên ở trẻ nhỏ là viêm VA vì vậy việc phòng chống là rất quan trọng, để tránh bệnh tiến triển thành mạn tính ảnh hưởng tới sức khỏe và sự phát triển của trẻ.
Lưu ý: trước khi dùng các loại thuốc điều trị tại chỗ cũng nên rửa mũi như trên đây để mũi được sạch như thế thuốc tác dụng trực tiếp lên niêm mạc luôn.
Thursday, April 17, 2008 10:23:29 PM
Ho là một cơ chế tự vệ chống lại tác nhân xâm nhập từ bên ngoài. Cổ, họng, đường thở có rất nhiều thụ thể. Khi những thụ thể này bị kích thích, chúng sẽ gửi những thông điệp lên não. Thông điệp này phản ứng lại bằng cách ra lệnh cho các cơ co thắt gây ho. Điều này xảy ra khi hít phải thức ăn, nghẹn, ra lạnh...
NGUYÊN NHÂN GÂY RA HO?
Ho cấp tính
Do nhiễm virus hay vi trùng. Cúm, viêm phế quản, viêm phổi, viêm vùng họng, khí quản.
Sốt, mệt mỏi, sung huyết mũi, ho khạc đàm.
Giả bạch hầu thanh quản:
Viêm lành tính vùng hầu do virus hay vi trùng(hiện diện trong không khí, nhất là mùa lạnh). HO có đặc tính ho như chó sủa, thở có tiếng rít, khàn giọng, sốt và khó thở. Bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, vì hệ thống miễn dịch của em bé chưa phát triển, thanh quản cũng nhỏ hơn, vì vậy chất tiết dễ gây tắc nghẽn. Cho nên người ta rất dễ nhầm lẫn giữa giả bạch hầu thanh quản và viêm thanh thiệt cấp, viêm thanh thiệt cấp nặng hơn nhiều, vì vậy tốt hơn là nên đi khám bác sĩ ngay.
Viêm thanh thiệt cấp.
Đây là trường hợp nhiễm trùng rất nặng có thể gây ra nghẹt thở nếu không được điều trị kịp thời. Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ, đặc điểm là ho như cho sủa, có tiếng rít, như tắt tiếng, đau họng, và sốt . Trẻ thở có tiếng rít, thở khó khăn, trẻ có khuynh hướng ngồi dậy để thở dễ hơn. Đây là cấp cứu.
Ho gà:
Đây là bệnh lây nhiễm do vi trùng ho gà Bordet-Gengou. Ho khan từng cơn, có giai đoạn ngưng ho và hít vào sâu có kèm tiếng rít, giống như tiếng con gà kêu. Đó là bệnh tương đối ít gặp vì trẻ đã được tiêm phòng từ nhỏ. Bệnh nặng ở trẻ dưới 6 tháng tuổi và người già .
Ho mãn tính ( kéo dài trên 1 tháng)
Chảy nước cửa mũi sau:
Đó là chất dịch tiết ở mũi, chảy vào thành sau họng, thường là do viêm xoang hoặc viêm mũi mãn tính. Viêm mũi cũng có thể là do dị ứng( lông thú, rệp, bụi).
Hen.
Đó là bệnh viêm khí quản gây ra dày thành phế quản và co thắt. Bệnh biểu hiện bằng ho khó khạc đàm, thở nghe tiếng rít, khò khè. Ho là do kích thích khí quản( do lạnh, do chất kích thích khí quản, thuốc lá, cười nhiều). Đôi khi bệnh đánh thức người bệnh lúc nửa đêm. Nên nhớ rằng, hen có thể là phản ứng dị ứng( như lông thú chẳng hạn). Ở trẻ nhỏ, đôi khi ho lại là biểu hiện duy nhất của hen.
Viêm phế quản mãn
Đó là bệnh thường gặp, nguy nhân do hút thuốc lá, bệnh thể hiện triệu chứng ho có đàm do viêm đường hô hấp, nhất là buổi sáng. Khi bệnh tiến triển, nghe rõ tiếng rít và khò khè. Hút thuốc lá thụ động đôi khi cũng bị viêm phế quản mãn.
Khí phế thủng phổi
Tương ứng với gian đoạn tiến triển của viêm phế quản mãn. Đặc trưng bởi, ho khan, khó khạc đàm và thở có tiếng rít.
Trào ngược dạ dày-thực quản
Chất acid trong dạ dày trào ngược lên thực quản, gây kích thích khí quản, gây ho khan. .Trào ngược dạ dày thực quản có thể gây cảm giác nóng ở thượng vị, và cảm giác miệng chua.
Một số loại thuốc
Chẳng hạn, thuốc ức chế men chuyển trong điều trị tăng huyết áp, đôi khi có thể gây ho khan. Tất cả những loại thuốc ức chế bêta trong điều trị cơn đau thắt ngực hoặc tăng huyết áp đều có thể làm dễ bộc phát cơn hen.
Suy tim
Ho có thể gây khó thở cũng như ho khi gắng sức và nhất là khi nằm đầu thấp hoặc về đêm.
Viêm phổi do mẫn cảm.
Do tiếp xúc với một số loài chim như bồ câu, cúc, với hoá chất cũng có thể gây ra phản ứng tự vệ của phổi. Biểu hiện triệu chứng là ho, khó thở, mệt mỏi, sụt cân và thường kèm sốt.
Những tật xấu. Một số người có thói quen xấu cứ ho, khục khẹt khi rơi vào những tình huống tâm lý như nóng giận, lo lắng, stress họ khó kiềm chế được..
BẠN CẦN LÀM GÌ??
Ho cấp tính
Uống nhiều nước.
Nước, chất ép trái cây, nước nóng giúp cho chất tiết được dễ làm sạch hơn, dễ khạc đàm.. Mỗi giờ nên uống 4-6 ly nước giúp bạn ít xung huyết hơn nếu bạn bị nhiễm trùng.
Dùng thuốc ho.
Thuốc ho chỉ nên dùng cho những trường hợp ho khan cấp. Thuốc ho tốt nhất là những loại thuốc có chứa codein hay những dẫn xuất của codein. Dextrométhorphane rất có hiệu quả.
Trong trường hợp ho có đờm, chính triệu chứng ho giúp đẩy chất đàm ra để tránh tắc nghẽn. Thuốc tan đàm cũng ít có tác dụng.
Ho mãn tính
Ngưng hút thuốc lá.
Thuốc lá là tác nhân chính gây ho. Ho do thuốc lá, giảm đáng kể sau 1-2 tuần ngưng hút thuốc lá. > 50% trường hợp hết ho sau 4 tuần ngưng hút thuốc lá. Bạn cũng nên chớ lo lắng nếu ho tăng trong những ngày đầu ngưng hút thuốc. Thật ra, nên biết rằng, khi hút thuốc lá, thì những lông rung trong phế quản có chức năng đẩy chất tiết ra ngoài bị tê liệt. Khi bạn ngưng hút thuốc lá, thì chất dịch bài tiết trở nên loãng hơn, và những lông rung bắt đầu hoạt động trở lại để đẩy các chất tiết ra ngoài. Ho khạc đờm hết từ từ khi cơ thể làm sạch chất tiết.
KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM???
Ho kéo dài hơn 1 tuần hoặc ho ngày càng nặng
Ho làm bạn thức giấc lúc nửa đêm
Ho kèm khó thở hoặc ho có tiếng rít
Sốt kéo dài trên 3-4 ngày
Ho khạc đờm lẫn máu
Ho mà bạn nghi là do dị ứng
Bạn nghi là ho do thuốc đang dùng
Thể trạng của bạn bị suy sụp
Bạn nghi ngờ ho gà hoặc ho do viêm thanh thiệt cấp ở con bạn.
ĐIỀU TRỊ NHƯ THẾ NÀO?
Ho cấp tính
Nhiễm trùng
Trong trường hợp nhiễm virus như cúm, thì ít khi dùng kháng sinh.
Nếu ho do nhiễm trùng như viêm phế quản cấp hay viêm phổi thì cần phải dùng kháng sinh. Khi đó cần phải dùng tạm thời thuốc giảm ho codein để làm dịu cơn ho.
Gỉa bạch hầu
Trong một số trường hợp, thuốc co mạch được chỉ định để cho người bệnh dễ thở và dùng thuốc kháng viêm để giảm viêm.
Ho gà
Ho gà cần phải điều trị bằng kháng sinh.
Viêm thanh thiệt
Cho người bệnh nhập viện, dùng kháng sinh để chống nhiễm trùng. Trong một số trường hợp, cần phải đặt nội khí quản giúp người bệnh thở tốt hơn
Ho mãn tính
Chảy dịch cửa mũi sau
Dùng thuốc kháng histamin, nếu cần thì dùng corticoid. Nếu là dị ứng, cần phải loại bỏ tác nhân dị ứng.
Hen phế quản
Hen phế quản sẽ được khống chế nếu loại bỏ nguyên nhân ( nếu dị ứng), sau đó là dùng thuốc dãn phế quản, thuốc kháng viêm .
Viêm phế quản mãn và khí phế thủng phổi
Triệu chứng sẽ giảm đi khi ngưng hút thuốc lá cũng như dùng thuốc dãn phế quản và dùng kháng sinh nếu cần thiết.
Trào ngược dạ dày-thực quản
Thường là do thói quen xấu trong ăn uống, béo phì. Vì vậy cần phải thay đổi thói quen trong cuộc sống. Trong trường hợp nặng, cần phải dùng thuốc kháng acid.
Một số loại thuốc
Bác sĩ sẽ đổi thuốc cho bạn. Chú ý: bạn không nên tự ý ngưng thuốc mà không có ý kiến của bác sĩ.
Ung thư phổi và khối u phổi
Cần điều trị bằng hoá trị, xạ trị hoặc phẫu trị
Suy tim
Điều trị bằng hạn chế lượng nước nước cung cấp, kiểm soát tốt huyết áp, dùng thuốc thích hợp.
Viêm phổi do mẫn cảm
Điều trị bằng giới hạn nguyên nhân, dùng cortisone.
Thói quen xấu
Không có biện pháp nào để điều trị. Chính bản thân người bệnh phải tìm cách ngưng thói quen xấu này.
Wednesday, April 16, 2008 1:11:14 PM
7. THÔNG TIN KHÁC
Chứng ho lâu ngày là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp do vi khuẩn gây ho lâu ngày Bordetella gây ra. Chứng bệnh này được miêu tả với các đặc trưng ho nhiều, dẫn đến ho khúc khắc khi trẻ hít thở.
Ho lâu ngày có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng đối tượng nó thường tấn công là trẻ không được chủng ngừa và trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi (khoảng 40%) và 15% xảy ra ở trẻ trên 15 tuổi. Ngày càng có xu hướng tăng lên ở nhóm thanh thiếu niên và người lớn.
Triệu chứng
Các triệu chứng đầu tiên của chứng ho lâu ngày thường giống với bệnh cảm lạnh thông thường, bao gồm:
- Chảy nước mũi
- Hắt hơi
- Ho nhẹ
- Sốt nhẹ
Sau khoảng 1-2 tuần, triệu chứng ho khan, rát chuyển thành ho từng đợt, mỗi đợt có thể kéo dài hơn 1 phút. Cuối mỗi cơn ho, trẻ có thể phát ra âm thanh ho khúc khắc khi thở hoặc có thể nôn mửa. Giữa các cơn ho, trẻ thường cảm thấy dễ chịu.
Ho kéo dài có bị lây lan?
Chứng ho lâu ngày có nguy cơ lây lan cao. Vi khuẩn lây từ người này sang người khác qua chất dịch từ mũi hay miệng của người nhiễm bệnh khi người bệnh ho, hắt hơi hay cười to. Những người khác sau đó có thể bị nhiễm bệnh do hít phải các chất dịch này hoặc khi các chất này bám vào tay họ và họ vô tình chạm tay vào mũi hay miệng mình.
Người nhiễm bệnh thường lây bệnh ở giai đoạn đầu của bệnh đến khoảng 2 tuần sau khi bắt đầu bị ho.
Thời gian ủ bệnh thường từ 7-10 ngày, cũng có thể kéo dài đến 21 ngày.
Thời gian kéo dài bệnh ho có thể gây ra nhiều triệu chứng kéo dài. Triệu chứng đầu tiên là trẻ thường bị cảm lạnh từ 1-2 tuần. Sau đó là ho từ 2-4 tuần, đôi khi lâu hơn. Giai đoạn cuối bao gồm nhiều tuần để hồi phục từ từ. Trong một số trường hợp, trẻ có thể phải mất đến nhiều tháng mới hồi phục hẳn.
Điều trị
Bạn cần phải đựoc bác sỹ chuyên khoa khám và hướng dẫn cách dùng thuốc cũng như cách phòng các biến chứng có thể xẩy ra
Phòng bệnh
Chứng ho lâu ngày có thể được phòng bằng cách tiêm vaccine, với 5 liều tiêm dành cho trẻ cho đến khi trẻ lên 6 tuổi. Các chuyên gia tin rằng có đến 80% những thành viên trong gia đình không được tiêm ngừa mắc bệnh ho lâu ngày nếu họ sống chung nhà với người mắc bệnh này. Vì lý do này mà bất cứ người nào có tiếp xúc gần với bệnh nhân ho lâu ngày cũng nên dùng kháng sinh để ngừa bệnh lây lan. Riêng trẻ nhỏ không nhận đủ 5 liều vaccine có thể yêu cầu một liều tăng cường nếu trong nhà có người bị bệnh.
Tuesday, April 15, 2008 1:14:00 PM
1. BỆNH TAI & NGHE KÉM
Rò luân nhĩ là vùng trước vành tai có một lỗ nhỏ xuất hiện từ khi sinh ra (đây là một loại dị dạng bẩm sinh, lỗ rò này đi sâu vào trong đế bám vào màng sụn. Bản chất tròng lòng đường rò này là 1 ống được lát bởi biểu mô có khả năng chế tiết.
Bình thường thì chỉ thấy 1 lỗ rò bé bằng đầu tăm trên da mà không có biểu hiện gì khác. Khi bị viêm nhiễm hay bị tắc thì có thể bị ngứa, tiết ra chất bã đậu màu trắng mùi hôi hoặc phình ra tạo thành một nang (nếu nang bị vỡ ra thường để lại seo răn rúm ảnh hưởng đến thẩm mỹ). Nang này bị bội nhiễm thì ngày càng to dần ra và tạo ra áp xe rò luân nhĩ
Cách điều trị:
- Khi bình thường thông thường dễ bị bỏ qua nhưng đây là thời kì lý tưởng để cắt bỏ toàn bộ đường rò vì khả năng lấy hết đường ro cao nhất.
- Khi bị viêm nhiễm (nang chưa bị vỡ) có thể phối hợp kháng sinh với phẫu thuật để lấy bỏ toàn bộ đường rò để tránh viêm nhiễm tái phát cũng như phòng biến chứng vỡ nang hay áp xe hóa.
- Khi áp xe hoặc vỡ nang rò (tự vỡ hoặc do chích rạch): cần phải dùng kháng sinh kết hợp dẫn lưu tốt (không nên mổ lấy đường rò giai đoạn này)
Ở Việt Nam, rò luân nhĩ chưa được chú ý đúng mức. Khi lỗ rò nhiễm trùng, nhiều người tưởng là bị một cái nhọt trước tai nên chỉ dùng kháng sinh để tự điều trị. Hậu quả là đường rò bị viêm nhiễm, xơ sẹo nhiều lần, gây co dính, ảnh hưởng rất lớn tới thẩm mỹ và gây khó khăn cho việc phẫu thuật lấy bỏ đường rò sau này.

Vì vậy, cần lưu ý tới những lỗ rò và nhọt ở vùng này để đi khám sớm, phẫu thuật kịp thời; tránh để đường rò bị viêm nhiễm nhiều lần.
Friday, April 11, 2008 3:27:37 PM
4. UNG THƯ & PHẪU THUẬT ĐẦU CỔ
Bệnh nhân có một tổ chức loét, sùi ác tính ở bất cứ vị trí nào trong vòm họng. Nguyên nhân chính gây ung thư vòm họng chưa được xác định, nhưng nhiều nghiên cứu cho thấy bệnh có liên quan tới virus EBV.
Các yếu tố nguy cơ khác của bệnh là viêm họng mạn tính kéo dài, nghiện thuốc lá, uống rượu nhiều.
Ở giai đoạn sớm có tới 80% bệnh nhân ung thư vòm họng bị nhức đầu lan tỏa, âm ỉ và thường ở một bên đầu. Ù tai chiếm 70% ca bệnh, đa số ù một bên tai, lúc nào cũng như có tiếng ve kêu, ngạt một bên mũi lúc nặng, lúc nhẹ, có khi chảy máu mũi. Ở giai đoạn muộn, người bệnh nhức đầu liên tục, có lúc đau dữ dội. Ù tai tăng dần dẫn tới nghe kém hoặc điếc. Mũi ngạt nặng liên tục và thường có chảy máu mũi.
Tổ chức ung thư vòm họng khi xâm lấn tới nền sọ (giai đoạn muộn) có thể gây tổn thương các dây thần kinh sọ não. Thường 80% số bệnh nhân khi được chẩn đoán ung thư vòm họng đã có hạch cổ. Hạch thường nằm ở cùng bên với khối u. Trong số đó có trên 60% bệnh nhân nổi hạch cổ ngay từ đầu và chính vì sự nổi hạch bất thường này mà người bệnh đi khám.
Khi bị ung thư vòm họng, các xét nghiệm cần làm là chẩn đoán tế bào học và mô bệnh học. Chẩn đoán tế bào học là lấy tế bào bong ở khối u bằng tăm bông, hoặc chọc kim nhỏ vào hạch lấy ít tế bào, cố định trên lam kính, nhuộm rồi soi trên kính hiển vi quang học có độ phóng đại 100 đến 1.000 lần. Chẩn đoán mô bệnh học là lấy một mảnh nhỏ ở tổ chức u hoặc nghi ngờ khối u, hoặc lấy ở hạch cổ bằng kim bấm chuyên dụng. Mảng sinh thiết được cố định bằng dung dịch chuyên dụng, sau đó vùi trong paraphin rồi cắt mỏng 3-4 phần nghìn milimét, nhuộm và soi dưới kính hiển vi quang học.
Ngoài ra, có thể làm các xét nghiệm khác như: chụp X-quang hộp sọ, chụp cắt lớp vi tính, chụp X-quang phổi, siêu âm gan, xét nghiệm miễn dịch về virus EBV.
Ung thư vòm họng được điều trị chủ yếu bằng tia xạ. Các trường hợp muộn có kết hợp hóa trị. Để điều trị di căn tới hạch, xương, phổi, gan..., tùy trường hợp, có thể dùng phương pháp cắt bỏ kết hợp với tia xạ hoặc hóa chất.
Thursday, April 10, 2008 1:13:42 AM
3. BỆNH HỌNG & THANH QUẢN
“Bệnh nhiệt miệng” là tên gọi dân dã của một trong hai chứng: mụn nước mọc ở trên mép (herpes), hoặc vết loét nhỏ xuất hiện trong niêm mạc miệng.
Nếu là do herpes, ở xung quanh miệng xuất hiện những mụn nước nhỏ gây đau rát. Bệnh do virus, có khả năng tự khỏi dù không điều trị gì, nhưng cũng rất dễ tái phát, rất dễ lây khi dùng chung bát đũa và tiếp xúc trực tiếp.
Để có thể dự phòng bệnh herpes, cần vệ sinh miệng, tiệt trùng bát đũa, không dùng chung bát đũa với người đang bị herpes. Bổ sung vitamin đặc biệt nhóm C. Tất cả kháng sinh không có tác dụng.
Nhiệt còn có thể là những vết loét nhỏ trong niêm mạc miệng. Thường những vết loét này bắt đầu bằng vết trầy niêm mạc nhỏ do thiếu dinh dưỡng, sau đó bị bội nhiễm nên loét rộng ra, có thể có mủ. Thường những vết loét này rất đau, nhất là khi ăn.
Để điều trị, người bệnh cần uống vitamin C, B2. Vitamin A cũng rất tốt vì giúp cơ thể tái tạo niêm mạc nên chóng khỏi bệnh. Người bệnh cũng cần được vệ sinh răng miệng, súc miệng nước muối loãng. Dùng thuốc kháng sinh trong đa số các trường hợp là không cần thiết, nếu dùng phải theo hướng dẫn của thày thuốc.
Để có thể dự phòng và điều trị phối hợp. Trong cả hai trường hợp trên, người bệnh cần ăn thực phẩm giàu vitamin và muối khoáng như rau và quả.
Wednesday, April 9, 2008 4:21:41 AM
7. THÔNG TIN KHÁC
Sốt cao co giật là gì ?
Sốt cao co giật hay xảy ra ở trẻ nhỏ khi có tăng nhanh thân nhiệt và thường bị với tỷ lệ 1/20, trẻ ở tuổi từ 1-4, nhưng có thể ảnh hưởng ở trẻ từ 6 tháng cho đến 5 tuổi.
Nguy cơ sốt cao co giật là gì?
Trẻ có thể di truyền tính chất sốt cao co giật ở bố mẹ.
Nếu bố hay mẹ bị co giật lúc nhỏ thì nguy cơ trẻ bị co giật tăng 10-20%.
Nếu cả bố mẹ và trẻ có những thời điểm bị co giật thì nguy cơ đứa trẻ khác bị co giật tăng 20-30%.
Tuy nhiên, độ nhạy cảm của trẻ tùy thuộc vào việc trẻ có hay không bị nhiễm trùng. Khoảng 4 trong 10 trẻ bị co giật sẽ bị lại tại cùng giai đoạn, mặc dù nguy cơ khác nhau xa ở các trẻ. Nguy cơ trẻ bị co giật tăng lên nếu :
Trẻ có gen di truyền co giật.
Trẻ hay bị bệnh có sốt cao.
Ðợt co giật đầu tiên do sốt thường liên quan mật thiết đến thân nhiệt thấp hơn 39oC.
1/1000 trẻ em bị sốt cao co giật sau tiêm vaccine. Trong trường hợp này, co giật thường xảy ra sau 8 đến 10 ngày tiêm ngừa và do thành phần vaccine sởi. Tuy nhiên, thành phần này chỉ gây co giật 1/10 trường hợp liên quan với sởi.
Những trẻ bị co giật nên theo chương trình chủng ngừa như tất cả trẻ khác.
Triệu chứng là gì?
Co giật thường bắt đầu bằng triệu chứng mất tri giác trong thời gian ngắn, sau đó toàn thân, chân tay đều co cứng.
Ðầu ngửa ra sau, chân tay bắt đầu giật mạnh.
Da tím tái và xanh lại nhanh.
Co giật kết thúc sau vài phút và ngưng run, trẻ mềm người, màu da và tri giác trở lại bình thường.
Một số trẻ phục hồi tri giác nhanh hơn trẻ khác.
Làm gì khi trẻ đang co giật?
Ðừng can thiệp khi đang co giật trừ phi có những tình huống dưới đây. Cẩn thận đặt trẻ nghiêng đầu về 1 bên (Ngày xưa, người ta thường đặt vào miệng trẻ 1 cây que nhằm ngăn ngừa việc trẻ cắn lưỡi và môi. Việc này không được khuyến khích vì nó gây tổn thương răng về sau) Khi cơn giật lắng xuống, giữ trẻ nằm cùng tư thế, ví dụ như nằm về 1 bên. Nếu co giật kéo dài và liên tiếp nhau nhanh, hãy gọi cấp cứu. Lần đầu tiên trẻ bị sốt cao co giật nên được nhập viện. Nếu trẻ đã từng bị co giật khi sốt cao thì việc nhập viện không cần thiết.
Tuy nhiên, việc xác định co giật có phải do nhiễm virus vô hại hay không luôn quan trọng. Vì lý do này, bác sĩ nên khám sau cơn giật.
Trẻ có bị co giật trước đây không ?
Nếu trẻ có tiền sử co giật, đôi khi bố mẹ được khuyên nên có sẵn diazepam dùng khi cơn co giật xảy ra.
Thuốc được đặt vào trực tràng bằng 1 ống đặc biệt và sẽ có tác dụng trong vòng vài phút.
Nếu co giật xảy ra trên 5 phút có thể lặp lại điều trị nhưng tốt hơn là nên có lời khuyên của giới chuyên môn.
Hướng dẫn sử dụng liều thuốc phải được tôn trọng.
Trẻ có bị sốt không?
Hãy chắc rằng trẻ không bị quá nóng bằng cách cởi bỏ quần áo, chăn mền. Nếu nhiệt độ phòng quá cao, hãy mở cửa sổ về hướng trẻ nhưng không để quá lạnh. Cho trẻ uống nhiều nước mát.
Một vài bác sĩ khuyên bố mẹ nên cho trẻ uống thuốc hạ nhiệt loại nhẹ như paracetamol hay ibuprofen. Thuốc này giảm thân nhiệt xuống 1-1.5oC. Ðiều quan trọng là lưu ý liều dùng .
Mặc dù sốt cao co giật có vẻ giống động kinh nhưng hiếm khi nó liên quan đến bệnh này. Khoảng 99% trẻ bị sốt cao co giật không còn giật khi chúng ở tuổi đi học.
Ðiều gì xẩy ra trong tương lai?.
Mặc dù sốt cao co giật rất đáng sợ nhưng chúng ít khi gây tổn thương lâu dài. Tuy nhiên, nếu trẻ bị co giật kéo dài và nhiều cơn liên tiếp thì những rối loạn nhẹ về chức năng não có thể xảy ra.
Nếu trẻ bị co giật, hãy hỏi ý kiến bác sĩ của bạn để có cách phòng trị bệnh.
Một nửa những trẻ đã bị co giật sẽ bị lại khi sốt cao. Nhưng nguy cơ giảm đi theo thời gian và những cơn co giật sẽ không xảy ra sau 5 tuổi.
Có thể phòng ngừa co giật được không?
Thuốc hạ sốt, như paracetamol có thể hạ thân nhiệt nhưng cần lặp lại. Nếu không, thân nhiệt lại tăng nhanh trở lại. Nếu trẻ có tiền căn co giật, bác sĩ sẽ khuyên bạn nên có thuốc đặt hậu môn chứa diazepam dự phòng ở nhà. Hiện nay có thuốc đặt hậu môn khi trẻ sốt cao là Efferalgan, Algotropyl, Febrectol ( dùng cho trẻ trên 2 tuổi) loại nhét hậu môn. Thuốc này có bán ở các nhà thuốc.
Wednesday, April 9, 2008 1:44:13 AM
7. THÔNG TIN KHÁC
CẨN THẬN KHI DÙNG THUỐC TRỊ HO CHO TRẺ DƯỚI 2 TUỔI
Tử vong, co giật và nhịp tim nhanh là những hiện tượng ghi nhận ở các trường hợp trẻ dưới 2 tuổi khi uống các loại thuốc trị ho, thuốc cảm lạnh không cần đơn kê bác sĩ, cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm FDA cho biết.
“Chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng các loại thuốc trị ho, cảm không cần kê đơn tuyệt đối không được sử dụng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dưới 2 tuổi bởi những đe dọa đối với sức khỏe cao hơn gấp nhiều lần so với hiệu quả mà chúng mang lại”, TS Charles Ganley, Giám đốc FDA cho biết về các loại thuốc không cần kê đơn.
Ganley nói rằng những loại thuộc này “không hề có bất cứ bằng chứng nào
cho thấy sự an toàn đối với trẻ dưới 2 tuổi” và lưu ý rằng chúng chỉ điều trị triệu chứng chứ thực sự không chữa được bệnh cảm lạnh.
Trên thực tế, các loại thuốc trị ho và cảm lạnh được bán phổ biến từ nhiều thập kỷ nay nhưng FDA chưa bao giờ yêu cầu các công ty chứng minh hiệu quả của các loại thuốc này đối với trẻ em. Trên thực tế, các kết quả đều suy luận từ những thử nghiệm trên người lớn. Trong khi đó cơ thể trẻ chuyển hóa và phản ứng thuốc rất khác với người lớn, thường là rất khó tiên lượng.
Ngoài ra, FDA chưa bao giờ xác nhận các loại thuốc dành cho trẻ dưới 2 tuổi và luôn cảnh báo rằng cần phải có chỉ định của bác sĩ đối với các trường hợp này.
FDA khuyên các bậc cha mẹ hết sức cẩn thận khi quyết định cho trẻ dùng các loại thuốc không kê đơn. Để có được liều lượng chính xác, các bậc cha mẹ cần dùng thìa đo hoặc tách uống đi kèm với hộp thuốc. Ngoài ra, cha mẹ cũng nên kiểm tra kỹ vỏ hộp để đảm bảo rằng liều lượng của các loại thuốc khi cùng uống trong 1 lần không vượt quá mức cho phép.
Thursday, April 3, 2008 1:41:40 PM
Ù TAI CÓ NGUY HIỂM?
"Tiếng ve, dế kêu trong tai, điều này có là bình thường hay không?".
Không bình thường: Ù tai (tinnitus) là một cái tên để chỉ những tiếng "ồn" ở vùng đầu, dấu hiệu này rất hay gặp, theo số liệu ở Mỹ có đến hơn 36 triệu người Mỹ bị khó chịu về vấn đề này. Tiếng ù tai có thể xuất hiện sau đó lại biến mất, hoặc nó không biến mất. Loại tiếng ù này rất khác nhau, âm sắc có thể như tiếng cối xay lúa, hoặc như tiếng ve kêu, mà bạn có thể cảm nhận được cả bằng hai tai. Khi tiếng ù trở thành liên tục nó có thể làm cho bạn cảm thấy phiền toái. Hơn 7 triệu người Mỹ mắc chứng này nặng đến mức họ cảm thấy cuộc sống của họ không còn bình thường nữa.
"Người khác có nghe được tiếng ù trong tai tôi không?".
Rất hiếm, nhưng đôi khi người ngoài có thể nghe được một vài kiểu ù tai của bạn. Khi đó tiếng ù này được gọi là tiếng ù khách quan. Loại này gây ra bởi sự bất thường về mạch máu ở phía xung quanh tai của bạn, hoặc là do sự co cơ tạo ra âm thanh: như tiếng click hay lạo xạo ở trong tai giữa của bạn.
1. Những nguyên nhân gì gây ù tai?
Có rất nhiều nguyên nhân có thể gây ra ù tai chủ quan, đó là những loại âm thanh chỉ có bệnh nhân mới nghe thấy: Có một số nguyên nhân không có gì là nguy hiểm (ví dụ: có thể gây ù nhất thời, ù tai cũng có thể là triệu chứng của 1 số bệnh ở tai giữa, như: viêm tai, thủng màng nhĩ, có dịch ở trong tai giữa, hoặc bệnh nghe kém do xop xò tai). Những vấn đề này thường có liên quan đến nghe kém. Ù tai cũng có thể có nguyên nhân là viêm mũi dị ứng, cao hoặc hạ huyết áp, 1 khối u, bệnh đái đường, bệnh tuyến giáp, hoặc những chấn thương ở vùng đầu cổ... Việc điều trị ù tai sẽ rất khác nhau trong từng trường hợp. Điều quan trọng là cần phải đi khám bác sĩ chuyên khoa để xác định nguyên nhân ù tai của bạn, cần phải điều trị theo kiểu gì...
2. Nguyên nhân hay gặp nhất của ù tai?
Hầu hết các ù tai là do tổn thương vi thể ở đầu tận cùng của dây thần kinh nghe (thính giác) ở trong tai. Sự nguyên vẹn của dây thần kinh này đảm bảo cho bạn nghe được rõ ràng. Khi dây này bị tổn thương sẽ làm cho bạn giảm nghe, và thường xuyên ù tai. Ở người có tuổi nói chung thì một số lượng nhất định của dây thần kinh này bị suy thoái làm cho người bệnh nghe kém và ù tai. Trong thời đại ngày nay ảnh hưởng của tiếng ồn trong môi trường làm việc cũng là một nguyên nhân chính gây nghễnh ngãng và ù tai, thế mà rất nhiều người đã không nhận biết ra nguyên nhân này, hoặc không để ý tới nó, các tiếng ồn trong công nghiệp, hoặc tiếng ồn âm nhạc đặc biệt là loại máy nghe nhạc cá nhân có chụp tai (Sterioheadset) gây ra tiếng ồn quá to hình như đã là 1 nguyên nhân gây tổn thương tai ở một số thanh niên.
3. Điều trị ù tai như thế nào?
Trong hầu hết các trường hợp không có điều trị đặc hiệu nào cho ù tai. Nếu bác sĩ Tai Mũi Họng tìm thấy nguyên nhân cụ thể của ù tai thì có thể loại bỏ được nguyên nhân (ví dụ: nút ráy... ). Đôi khi người ta cần đến các xét nghiệm phức tạp hơn. Chụp phim, thử các chức năng về thăng bằng... Tuy vậy hầu hết các nguyên nhân của ù tai là khó xác định. Đôi khi thuốc có thể giúp cho đỡ ù tai cho dù nguyên nhân chưa được xác định. Có rất nhiều loại thuốc được sử dụng. Phổ biến nhất là bệnh nhân thường đề nghị được dùng thuốc để thử xem có cải thiện được không.
4. Nếu không xác định được nguyên nhân ù tai,
liệu có thể làm một cái gì đó để bớt ù tai được không?
Có. Những điều nên làm và những điều không nên làm, có thể giúp bạn dễ chịu hơn trong những trường hợp ù tai nặng.
Điều đầu tiên cần nhớ rằng cơ quan thính giác là 1 trong những cơ quan tinh tế nhất có cấu tạo và có cơ chế hoạt động nhạy cảm nhất trong cơ thể. Vì là 1 phần của hệ thống thần kích nên những đáp ứng của nó có liên quan đến trạng thái tinh thần chung của người bệnh.
Lời khuyên dành cho những người ù tai
1- Tránh những môi trường có nhiều tiếng ồn.
2- Thường xuyên kiểm tra huyết áp. Nếu huyết áp cao cần khống chế của bác sĩ tim mạch.
3- Chế độ ăn giảm muối (vì muối ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn của bạn).
4- Tránh những chất kích thích thần kinh: cà phê, thuốc lá v.v...
5- Tập thể dục hàng ngày sẽ cải thiện tình trạng tuần hoàn của bạn.
6- Nghỉ ngơi đầy đủ và tránh làm việc quá sức.
7- Ngừng ngay những lo lắng về tiếng ồn trong tai bạn: ù tai không làm cho bạn điếc hoặc làm cho bạn mất trí nhớ; hoặc làm nguy hiểm đến tính mạng của bạn. Quả thực ù tai là một nỗi phiền toái trong cuộc sống nhưng đây chỉ là những phiền toái nhỏ nhặt và bạn cũng cần phải học cách quên nó đi càng nhiều càng tốt.
8- Cần giảm tối đa những lo lắng về tinh thần, những Stress cũng làm ảnh hưởng đến hệ thống thính giác.
5. Che lấp, ù trong tai là thế nào?
Có một câu ngạn ngữ "Im lặng là vàng", nhưng đối với người ù tai thì tiếng ồn trong tai hình như lại tăng lên, khi mà xung quanh yên tĩnh, đặc biệt là thời gian đi ngủ, do vậy nếu khi ta nghe 1 âm thanh khác như tiếng tích tắc ở đồng hồ hoặc tiếng đài (vặn nhỏ) lại có thể che lấp được tiếng ù trong tai bạn. Một số bác sĩ khuyên người bệnh có thể nghe nhạc FM (vặn nhỏ) thì khi đó tiếng ù trong tai sẽ mất đi. Ở các nước phương Tây có loại máy nhỏ phát ra những âm thanh nền êm dịu có thể làm át tiếng ù tai. Máy che lấp tiếng ù tai có loại cực nhỏ được gắn vào ngay trong máy điếc (máy trợ thính), máy này giúp cho người bệnh vượt qua được tiếng ù để đi vào giấc ngủ ban đêm.
6. Máy điếc có làm giảm được tiếng ù không?
Ở một số người nghễnh ngãng thỉnh thoảng nhận thấy rằng: máy điếc làm giảm tiếng ù trong tai, nhưng khi bỏ máy nghe ra thì tiếng ù tai lại quay trở lại.
Thursday, April 3, 2008 1:07:42 PM
6. PHẪU THUẬT TẠO HÌNH & THẪM MỸ
NGHỆ THUẬT LÀM ÐẸP VỚI BOTULINUM TOXIN
Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ ngày nay đã đem lại cho đời sống nhân loại những thành tựu vô cùng rực rỡ. Riêng chuyên ngành giải phẫu thẩm mỹ cũng đã tận dụng tối đa những kết quả nghiên cứu khoa học như laser, siêu âm, vật liệu sinh học... để giúp con người chống lại sự bào mòn khắc nghiệt của thời gian. Trong số những ứng dụng hữu ích ấy, chúng tôi xin được giới thiệu đôi nét về việc dùng Botulinum Toxin trong việc chống nhăn da mặt - có thể được xem là một bước tiến mới trong việc kết hợp hài hòa của kỹ thuật y khoa và nghệ thuật làm đẹp.
Nguồn gốc và tác dụng của Botulinum Toxin
Botulinum Toxin là độc tố sinh ra do vi khuẩn Clostridium botulinum. Ðộc tố này ngăn chặn luồng thần kinh đến cơ, do đó làm liệt vận động cơ. Ðối với người ngộ độc Botulinum Toxin (thường xảy ra khi ăn đồ hộp bị nhiễm khuẩn) sẽ gây tỷ lệ tử vong cao vì liệt cơ hô hấp.
Tác dụng làm liệt cơ này đã được áp dụng rộng rãi trong y học để chữa những bệnh co cơ ngoài ý muốn.
Trường hợp nào dùng Botulinum Toxin?
- Bại não trên trẻ em, co cứng cơ vòng mi, co giật nửa mặt, vẹo cổ do co cứng cơ, đổ mồ hôi nhiều, chỉnh mắt lé, chữa các vết nhăn trên mặt.
Phụ nữ khi bước vào tuổi trung niên thường rất lo lắng về những nếp nhăn xuất hiện trên gương mặt. Thông thường, những nét diễn cảm trên mặt được thực hiện do sự co các cơ bám da vùng mặt. Sự co cơ mặt lặp đi lặp lại theo một hướng cùng với da bị lão hóa sẽ để lại những nếp nhăn, nhiều khi làm mất thẩm mỹ và gợi nét buồn bã, cau có, già nua. Tiêm Botulinum Toxin vào những vùng cơ chọn lọc trên mặt sẽ làm liệt tạm thời những cơ đó, hiệu quả là làm mờ được những nếp nhăn trên da mặt, đồng thời cũng tránh được sự hình thành những nếp nhăn mới.
Botulinum Toxin có hiệu quả trong lĩnh vực thẩm mỹ
Ðầu tiên, BS. Jean và Alastair Carruthers tiêm Botulinum Toxin để chữa bệnh co giật mi mắt, nhưng do thấy rõ Botulinum Toxin còn có hiệu ứng làm mất các vết nhăn vùng quanh mắt, nên từ đó cho áp dụng vào lĩnh vực thẩm mỹ để chống nhăn da. Từ năm 1987 đến nay, các bác sĩ đã thực hiện cho hơn 10.000 ca không để lại di - biến chứng gì quan trọng.
Có thể dùng Botulinum Toxin để xóa những nếp nhăn giữa hai cung mày, nếp nhăn trán, nhăn đuôi mắt, nhăn mũi, nhăn đường cổ, nhăn cằm.
Trên thế giới, người ta có thuật ngữ "Botulinum Toxin addict" để chỉ những khách hàng thường xuyên của Botulinum Toxin. Họ cứ "Ðúng hẹn lại lên" tiêm thuốc giống như "nghiện" vậy, một thứ "nghiện" về tinh thần của phái đẹp khi thấy hiệu quả vừa nhanh chóng, đơn giản, giá thành lại hợp lý và đạt được yêu cầu thẩm mỹ.
Tai sao đến giờ Botulinum Toxin mới được dùng làm đẹp tại Việt Nam?
Ðối với ngành thẩm mỹ nước ta, Botulinum Toxin không xa lạ gì, tuy nhiên kỹ thuật có phát triển được hay không còn lệ thuộc vào mức sống của người dân. Các phẫu thuật thẩm mỹ ở Việt Nam thông thường được thực hiện với giá rất thấp. Khách hàng lại chuộng những kỹ thuật đem lại hiệu quả lâu dài, trong khi Botulinum Toxin chỉ có tác dụng trong một thời gian ngắn. Ví dụ: Tiêm Botulinum Toxin để xóa vết nhăn quanh mắt và trán có giá bằng một phẫu thuật nâng mũi đơn giản. Nhưng mũi được sửa tốt có thể giữ suốt đời, trong khi Botulinum Toxin chỉ có tác dụng trong 6 tháng, vì vậy khách hàng có cảm giác dùng Botulinum Toxin quá đắt tiền. Tuy nhiên họ lại quên rằng Botulinum Toxin có những ưu điểm không thể thay thế được. Hy vọng trong tương lai, khi nền kinh tế nước ta được nâng cao, thu nhập của người dân khá hơn thì phương pháp này sẽ được áp dụng phổ biến như ở các nước tiên tiến. Ngoài ra, Botulinum Toxin có trên thị trường trước đây chỉ là Botox, được sản xuất bởi hãng Allergan, Mỹ, thuốc xâm nhập tự phát lẻ tẻ vào thị trường Việt Nam. Gần đây, Dysport, là một Botulinum Toxin do công ty Ipsen (Anh) sản xuất đã được chính công ty này nhập khẩu và phân phối tại Việt Nam. Thuốc được bảo đảm hơn về chất lượng, tác dụng phụ thường rất nhẹ và thoáng qua. Liều sử dụng trong điều trị rất nhỏ so với liều độc, do đó có độ an toàn rất cao. Botulinum Toxin khi tiêm sẽ có tác động nhanh, bắt đầu phát huy hiệu quả sau 24-48 giờ, mạnh nhất sau 2 tuần và có thể kéo dài từ 3-6 tháng. Có thể cho liều điều chỉnh sau 3 tuần nếu cần.
Những lần tiêm sau có thể cho tác dụng kéo dài hơn (trên 12 tháng), 10% bệnh nhân thấy giảm luôn các triệu chứng của nhức đầu.
Botulinum Toxin được sử dụng cho mọi đối tượng. Ðối với trẻ em nên hạn chế sử dụng và phải được bác sĩ nội thần kinh theo dõi chặt chẽ.
Gần đây, các khoa thẩm mỹ của một số bệnh viện lớn ở Việt Nam đã sử dụng Botulinum Toxin song vẫn còn rất hạn chế.
Ở các nước tiên tiến, chỉ có bác sĩ chuyên ngành thẩm mỹ và các ngành có liên quan mới được dùng Botulinum Toxin.
Tiêm Botulinum Toxin là một kỹ thuật chống nhăn tương đối hiện đại và có nhiều ưu điểm
Không đau khi tiêm, độ an toàn cao, đơn giản, có hiệu quả ngay, chỉ định rộng rãi, không cần phải chuẩn bị gì trước, không cần thời gian hồi phục và không ảnh hưởng đến công việc của bệnh nhân.
Cũng cần biết rằng Botulinum Toxin chống nhăn bằng cách chống co cơ, vì vậy có tác dụng kém trên những nếp nhăn đã hằn quá sâu do tuổi tác. Ðối với loại da nhăn, da thừa, xệ do bị lão hóa thì Botulinum Toxin thậm chí còn có tác dụng xấu.
Muốn chống nhăn hữu hiệu, phải tùy đối tượng và tính chất của nếp nhăn mà phối hợp nhiều phương pháp khác nhau như căng da mặt, tiêm các chất độn dưới da, dùng thêm mỹ phẩm, chất kích thích tạo collagen dưới da... để đạt hiệu quả tối ưu.
Mặt khác xin lưu ý, đôi khi cũng có những nếp nhăn "đầy diễn cảm", ở thời điểm nào đó có thể tạo nên một khuôn mặt hấp dẫn, do đó chúng ta chỉ nên xóa những nếp nhăn không đáng có mà thôi. Hơn nữa Botulinum Toxin dù sao cũng chỉ có tác dụng tạm thời và hoàn toàn không nên lạm dụng nó.
Thursday, April 3, 2008 12:53:52 PM
3. BỆNH HỌNG & THANH QUẢN
VIÊM AMIDAN VÀ VIÊM VA
I. ĐẠI DƯƠNG :
- Vòng tổ chức bạch huyết Waldeyer : gồm amidan Luschka, amidan Gerlach, amidan khẩu cái, amidan đáy lưỡi.
- VA (vegetation adenoide) là một tổ chức lympho ở vòm mũi họng mà bình thường mọi em bé đều có. Khi tổ chức này bị viêm và quá phát thì nó biến thành những khối to gọi là sìu vòm, có thể che lấp lổ mũi sau.
Sùi vòm phát triển nhiều ở lứa tuổi nhà trẻ và mẫu giáo. Tuy nhiên cũng có thể gặp sùi vòm ở hài nhi hay người lớn.
- Viêm amidan (amygdale: A) tức là nói đến amidan khẩu cái, bệnh hay gặp ở lứa tuổi lớn hơn, chủ yếu ở lứa tuổi học phổ thông.
- Tổ chức VA và A sẽ teo dần khi đến tuổi dậy thì và trưởng thành.
- Viêm VA và A là bệnh khá phổ biến.
II. NGUYÊN NHÂN:
- Bị lạnh đột ngột hay lạnh kéo dài, những vi trùng có sẳn ở mũi họng trở thành gây bệnh.
- Sau các bệnh nhiễm trùng lây : cúm, sởi, ho gà,...
- Tạng bạch huyết : các tổ chức lympho phát triển và dễ nhiễm trùng.
- Do cấu trúc và vị trí : VA và A có nhiều khe kẽ và ngóch ngách, dễ là nơi trú ẩn và phát triển của vi trùng, lại ở vị trí ngã tư đường ăn và đường thở là cửa ngõ xâm nhập của các yếu tố bên ngoài.
III. VIÊM VA CẤP :
Viêm VA cấp là viêm nhiễm cấp tính, xuất tiết hoặc viêm mủ ở VA ngay từ trẻ nhỏ, có thể gặp ở trẻ lớn và người lớn.
1) Triệu chứng toàn thân :
- Sốt cao có thể đến 40 độ, bối cảnh nhiễm trùng
- Có thể gây co giật hay có phản ứng co thắt thanh quản gây khó thở.
2) Triệu chứng cơ năng :
- Điển hình là tắc mũi, có thể tắc hoàn toàn phải thở bằng miệng. Đối với trẻ nhỏ thường bỏ bú hay bú ngắt quảng và quấy khóc nhiều
- Chảy mũi nước: chảy mũi hoặc nhầy cả hai mũi, cả mũi trước lẫn mũi sau
- Ho : do phản xạ kích thích của chất xuất tiết chảy xuống thành sau họng.
+ Đối với trẻ lớn có thể không tắc mũi hoàn toàn nhưng về đêm ngủ thường ngáy, nói và khóc giọng mũi kín.
+ Người lớn còn VA cảm giác mệt mỏi, thở khụt khịt, nh t đầu cảm giác khô rát ở vòm họng, có thể có ù tai và nghe kém.
3) Triệu chứng thực thể
Khám mũi : hốc mũi hai bên đầy mủ ngầy. Các cuống mũi phù nề và xuất tiết. Ở trẻ lớn nếu lau sạch mũi và đặt thuốc co mạch có thể thấy VA ở vòm.
Khám họng : niêm mạc họng đỏ, có mủ nhầy chảy từ nóc vòm xuống.
Khám tai : thường có phản ng màng nhĩ đỏ và lỏm vào.
4) Điều trị :
Điều trị như viêm mũi cấp thông thường : nhỏ mũi thuốc sát trùng và làm cho thông thoáng mũi.
Trường hợp nặng hay đe dọa biến chứng thì mới dùng kháng sinh toàn thân và nâng cao thể trạng.
IV. VIÊM VA MẠN TÍNH :
Sau những lần viêm cấp VA quá phát và xơ hóa thành viêm VA mạn tính.
1) Triệu chứng toàn thân:
Thường không sốt, cơ thê trẻ chậm phát triển so với lứa tuổi (cả về thể xác và tinh thần)
Lười ăn, người gầy xanh, mảnh khảnh yếu ớt, tai nghễnh nghãng
2) Triệu chứng cơ năng :
Ngạt mũi và tắc mũi từ ít đến nhiều gây khó thở.
Mũi thường hay bị viêm, chảy mũi thò lò có thể gây loét phần môi trên.
Hay ho và khóc vặt, ngủ không yên giấc (do thiếu O2), ngáy khi ngủ, hay giật mình.
Hay sốt vặt, năm ngày ba tật.
3) Triệu chứng thực thể :
Khám mũi trước : hai hốc mũi mủ thò lò, xanh, các cuốn phù nề.
Khám họng : thấy amidan khẩu cái thường quá phát, có nhiều tổ chức bạch huyết phát triển ở thành sau họng, thành sau họng có mủ nhầy đổ từ trên xuống.
Vén lưỡi gà lên có thể thấy VA.
Khám tai : màng nhĩ thường có màu hồng do sung huyết hoặc bị VTG mt mủ nhầy.
Nếu sờ vòm cảm giác có tổ h c VA (cảm giác như sờ vào con sâu)
4) Điều trị :
Nạo VA, nhỏ mũi, nâng cao thể trạng.
Bộ mặt VA (facies adenoidienne): do tắc mũi liên tục phải thở bằng miệng gây nên rối loạn về phát triển khối xương mặt và lồng ngực : cằm lẹm-mặt dài, mồm há-răng nhô, môi trên dày-môi dưới trề xuống, ngực lép-lưng gù, tai nghểnh nghảng, chậm chạp-kém thông minh, hay ngủ gật, kèm dấu hiệu còi xương và suy dinh dưỡng.
Trên thực tế các mức độ nặng nhẹ khác nhau, ít khi thấy bộ mặt VA điển hình và đầy đủ các triệu chứng như trên.
V. VIÊM AMIDAN CẤP :
Viêm A cấp là viêm sung huyết và xuất tiết hoặc viêm mủ của A khẩu cái, thường do virus hay vi trùng gây nên.
1) Triệu chứng toàn thân :
Sốt cao đột ngột 38 - 39độ C, hoặc 40độC, người mệt mỏi, nh t đầu, chán ăn, BC tăng, Neutrophile tăng.
2) Triệu chứng cơ năng :
Nuốt đau, nuốt vướng
Cảm giác khô rát trong họng, đau họng nhói lên tai, đau tăng lên khi nuốt và khi ho.
Thở khò khè, ngáy to về đêm.
Viêm nhiễm có thể lan xuống dưới thanh khí phế quản gây ho từng cơn và khàn tiếng.
3) Triệu chứng thực thể :
Miệng khô lưỡi trắng, niêm mạc họng đỏ
Hai amidan sưng to, sung huyết hay có chấm mủ
Có thể có hạch góc hàm
4) Điều trị :
Súc họng nước muối, nhỏ mũi thuốc sát trùng
Giảm đau, hạ sốt
Nếu tình trạng toàn thân nặng có thể dùng kháng sinh (hoặc có tiền sử viêm khớp, viêm thận, thấp tim)
VI. VIÊM AMIDAN MẠN TÍNH :
Viêm A mạn tính là hiện tượng viêm thường xuyên và hay bị đi bị lại của A khẩu cái
1) Triệu chứng toàn thân :
Nghèo nàn, không sốt, chỉ sốt trong những đợt cấp, vẫn sinh hoạt và học tập bình thường.
2) Triệu chứng cơ năng :
Cảm giác ngứa-vướng và rát trong họng, thỉnh thoảng phải khạc nhổ do xuất tiết.
Ho khan hay ho từng cơn nhất là buổi sáng khi ngủ dậy
Nếu A viêm quá phát có thể thở khò khè, đêm ngủ ngáy to. Có những trường hợp quá phát có thể cản trở ăn-uống-thở.
3) Triệu chứng thực thể :
Thể quá phát : thường gặp ở trẻ em
Hai A to như hai hạt hạnh nhân ở hai bên thành họng, vượt qua hai trụ trước và sau, có khi gần chạm nhau, Niêm mạc bóng, đỏ nhẹ, trụ trước đỏ sẩm, có thể thấy những hốc có ít mu trắng vàng
Thể xơ teo : thường gặp ở người lớn
Hai A nhỏ, nưng mặt không nhẳn mà gồ ghề, lổ chổ hoặc chằng chịt những xơ trắng biểu hiện bị viêm đi viêm lại nhiều lần. Màu đỏ sẩm, trụ trước đỏ sẩm, trụ sau dày. Nếu ấn vào A có thể thấy phòi mủ ở các hốc.
VII. BIẾN CHỨNG :
1) Biến chứng của viêm VA :
Viêm thanh-khí-phế quản
Viêm tai giữa, viêm mũi, viêm xoang
Ap xe thành sau họng (áp xe hạch Gillette
Viêm đường tiêu hóa
Viêm hố mắt, viêm màng tiếp hợp, viêm mi mắt
Rối loạn về phát triển thể xác và tinh thần
2) Biến chứng của viêm Amidan :
Viêm tấy quanh A, áp xe quanh A
Ap xe Amidan
Viêm thanh-khí-phế quản
Viêm mũi, viêm xoang, viêm tai giữa
Viêm tấy hạch dưới hàm, hạch thành bên họng
Viêm khớp, viêm cầu thận, viêm nội tâm mạc
Nhiễm trùng huyết (rất hiếm)
VII. PHÒNG BỆNH :
1) Nâng cao thể trạng-sức đề kháng của cơ thể và cơ địa của bệnh nhân bằng rèn luyện thân thể. Tránh bị nhiễm lạnh.
2) Vệ sinh tốt mũi-họng-răng-miệng, chú ý khi có những vụ dịch như cúm, sởi, ho gà...
3) Xử trí kịp thời và đúng cách nếu đã bị viêm VA và A để tránh các biến chứng của nó.
Wednesday, April 2, 2008 4:15:47 AM
3. BỆNH HỌNG & THANH QUẢN
PHẪU THUẬT CẮT AMIDAN VÀ NẠO V.A
Giới thiệu
Bạn hoặc con của bạn có thể bị đề nghị cắt amiđan và nạo V.A. Bài viết này sẽ cung cấp những thông tin cần thiết về cuộc phẫu thuật này, việc chuẩn bị ra sao, cũng như cung cấp các thông tin về lợi ích, biến chứng, nguy cơ của cuộc phẫu thuật này.
Bạn cũng nên hỏi bác sĩ của bạn những câu hỏi mà bạn cho là cần thiết để hiểu hơn về những gì sẽ diễn ra trong quá trình phẫu thuật.
Amiđan và V.A là nhóm mô dạng lympho (có nhiệm vụ sản xuất ra các tế bào lympho - các tế bào bạch cầu có khả năng tiêu diệt các tác nhân xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh) nằm ở miệng và phía sau mũi.
Nhiễm trùng hay phì đại amiđan có thể gây viêm họng mãn tính hay viêm tái đi tái lại, hơi thở hôi, răng bị lệch nhau (giữa hàm trên và hàm dưới), ápxe, hoặc tắc nghẽn đường thở trên gây khó nuốt, ngáy, ngưng thở khi ngủ. Riêng với V.A, viêm nhiễm cũng gây phì đại, có thể làm bệnh nhân khó thở, viêm tai, v.v. Cắt amiđan và nạo V.A này là phẫu thuật cắt bỏ hay nạo sạch các mô dạng lympho này.
Những nguy cơ và biến chứng của phẫu thuật cắt amiđan và V.A là gì ?
Phẫu thuật luôn được cố gắng thực hiện thật an toàn, làm sao đạt được kết quả tốt nhất cho bạn hoặc con của bạn. Tuy nhiên, có những cuộc phẫu thuật diễn ra không suôn sẻ, có thể có những biến chứng hay những tổn thương khác không ngờ được.
Vì mỗi người đáp ứng với phẫu thuật, phản ứng với thuốc mê, việc lành vết thương sau mỗ rất khác nhau, nên không thể đảm bảo chắc chắc kết quả của phẫu thuật sẽ như thế nào. Hơn nữa nó còn phụ thụôc vào các điều kiện chăm sóc sau mỗ.
Trong y văn đã ghi nhận các biến chứng dưới đây. Danh sách các biến chứng này không bao gồm tất cả các biến chứng có thể xảy ra. Ðưa ra các biến chứng này không phải để hù dọa bạn, mà chỉ nhằm cung cấp thông tin cho bạn, giúp bạn hiểu hơn về cuộc mổ, đồng thời cảnh giác hơn. Tất cả những biến chứng đã xảy ra có thể đồng thời hay không đồng thời tùy theo sự kiểm soát của bác sĩ phẫu thuật, theo các tiêu chuẩn chăm sóc sức khỏe, tuy nhiên hầu hết các biến chứng này rất hiếm xảy ra.
Nhưng bất kì một bệnh nhân nào trước khi tham gia cuộc mỗ cũng cần được cân nhắc giữa những yếu tố nguy cơ, những biến chứng có thể có và các lợi ích của cuộc mỗ mang lại.
Thất bại trong việc làm giảm đau họng, hay không cải thiện được viêm tai, viêm xoang, chảy nước mũi, với các trường hợp này có thể cần được mỗ lại.
Chảy máu. Trong nhiều trường hợp phải cần truyền máu hoặc các sản phẩm từ máu. Bạn có quyền chuẩn bị máu của chính bạn hay máu từ một người cho do bạn chọn trước khi phẫu thuật để dùng trong trường hợp khẩn cấp cần truyền máu. Bạn hoàn toàn có thể tham khảo những điều này với bác sĩ điều trị.
Nhiễm trùng, mất nước, đau kéo dài, vết mỗ không lành, đều cần phải nhập viện để truyền dịch, để chăm sóc vết mỗ.
Thay đổi giọng nói, nôn hay trớ qua đường mũi. Tuy nhiên các biến chứng này rất hiếm gặp.
Không cải thiện được tình trạng thở trước đó, vẫn còn ngáy, còn ngưng thở khi ngủ, còn phải thở bằng miệng.
Tiền phẫu là gì ?
Hầu hết các bệnh nhân không cần nhập viện, mà có thể điều trị ngoại trú. Bởi vì dù trong bệnh viện có nhiều phương tiện chăm sóc tốt, nhưng việc điều trị nội trú trước mỗ là không cần thiết, gây tốn kém cho bệnh nhân và bệnh nhân thường không thoải mái khi ở trong bệnh viện. Thông thường các bác sĩ gây mê hồi sức sẽ gọi điện cho bạn để hỏi bệnh sử vào trước ngày mỗ 1 ngày hoặc nếu không kịp thì có thể vào buổi sáng đi mỗ. Nếu cần thực hiện các xét nghiệm gì, thì bạn sẽ được làm trước đó vài ngày. Cũng cần có một nhân viên y tế đưa bạn về sau cuộc mỗ, và chăm sóc cho bạn trong ngày hậu phẫu đầu tiên.
Không được dùng aspirin hay bất kì loại thuốc nào có chứa aspirin trong vòng 10 ngày trước mỗ. Các thuốc kháng viêm non-steroid (NSAIDs) (như ibuprofen, Avid.) cũng không dùng trong vòng 1 tuần lễ trước mỗ. Có nhiều loại thuốc giảm đau thông thường có chứa trong thành phần aspirin hay các dẫn xuất từ ibuprofen, do đó rất cần cẩn trọng khi dùng các thuốc này.
Nếu cần bạn nên tham khảo với bác sĩ. Acetaminophen (Tynelol, Panadol, Efferalgan, Doliprane) có thể dùng để giảm đau. Thường thì bác sĩ sẽ kê cho bạn vài loại thuốc dùng trước mỗ, và bạn cần dùng thuốc đầy đủ để sẳn sàng cho cuộc mỗ diễn ra.
Nếu người sắp mỗ là con của bạn, bạn nên trung thực nói cho trẻ biết những gì về cuộc mỗ sắp tới. Cần phải cho trẻ hiểu rằng những gì trẻ sắp trải qua là cần thiết cho sức khỏe của trẻ, rất an toàn và bạn luôn ở bên trẻ.
Thái độ đảm bảo và bình tĩnh của bạn rất cần để cho trẻ bớt lo lắng. Cho trẻ biết rằng nếu trẻ đau thì chỉ trong thời gian rất ngắn và sẽ có nhiều loại thuốc giúp cho trẻ giảm đau. Bạn cũng nên đến bệnh viện mà bạn sẽ được phẫu thuật vài ngày trước để quen với không khí nơi đây.
Nên ăn trước khi mỗ 6 giờ, có thể là uống nước, ăn kẹo, hay nhai kẹo cao su. Có thức ăn trong dạ dày sẽ giúp giảm các biến chứng của gây mê.
Nếu bạn bị sốt trong những ngày sắp mỗ, nên gọi cho bác sĩ. Nếu bệnh vào ngay hôm mỗ, bạn cũng cứ đến bệnh viện, bác sĩ điều trị sẽ quyết định xem bạn có trải qua cuộc phẫu thuật được hay không. Nhưng nếu trẻ đang bị thủy đậu, thì không nên đưa trẻ đến bệnh viện.
Chuẩn bị gì trong ngày phẫu thuật ?
Ðể chuẩn bị đầy đủ cho cuộc mỗ, bạn cần biết chính xác thời điểm phẫu thuật. Hãy mang theo đầy đủ giấy tờ cho cuộc mỗ, kể cả các chỉ định tiền phẫu của bác sĩ. Nên mặc quần áo rộng rãi (có thể mặc pijamas), không nên mang đồ trang sức hoặc những thứ đắt tiền khác. Có thể mang cho trẻ một món đồ chơi ưa thích nào đó, một con thú nhồi bông hay một cái chăn mỏng.
Không được dùng bất kì loại thuốc nào trước khi phẫu thuật trừ khi đó là do bác sĩ điều trị hay bác sĩ gây mê chỉ định. Thường thì khi chuẩn bị mỗ bạn sẽ được đặt một đường truyền tĩnh mạch, và được dùng thuốc giúp thư giãn.
Quá trình phẫu thuật diễn ra như thế nào ?
Tại phòng mỗ, bác sĩ gây mê hồi sức kết hợp gây mê toàn thân cho bạn bằng khí dung và thuốc truyền tĩnh mạch. Trong hầu hết các trường hợp, thuốc mê truyền tĩnh mạch có thể dùng trước khi vào phòng mỗ hoặc sau khi trẻ được thở khí dung có thuốc mê.
Trong khi cuộc mỗ diễn ra, bạn luôn được theo dõi độ bảo hoà oxy trong máu và nhịp tim bằng monitor. Ekíp phẫu thuật có kỹ năng cao, có thể phản ứng nhanh và chính xác trong những trường hợp khẩn cấp. Ngoài bác sĩ phẫu thuật, bác sĩ gây mê hồi sức, còn có những kỹ thuật viên về dụng cụ và các y tá chuyên nghiệp trong phòng mỗ.
Sau khi thuốc mê có tác dụng, bác sĩ mới cắt amiđan hoặc nạo V.A cần cắt đem ra ngoài. Sẽ không có một vết cắt nào ngoài da. Sau đó đáy vết cắt được đốt điện. Toàn bộ quá trình trên diễn ra không đầy 60 phút. Sau đó bác sĩ sẽ thông báo cho gia đình, bạn bè của bạn rằng cuộc mỗ diễn ra an toàn trong khi đó bạn được chuyển đến phòng hậu phẫu hồi sức.
Hậu phẫu diễn ra như thế nào ?
Sau cuộc mỗ, bạn hoặc con bạn được đưa đến phòng hậu phẫu, tại đây bạn hoặc con bạn được các y tá theo dõi và chăm sóc. Khi con bạn tỉnh, bắt đầu đòi bố mẹ, thì bạn có thể đến gặp trẻ tại phòng hồi sức. Nếu bạn tỉnh sớm sau gây mê, bạn còn có thể về ngay trong ngày sau khi mỗ. Thường thì sau mỗ vài giờ, bạn mới tỉnh, và bạn cần một người thân đưa bạn về, và chăm sóc bạn trong đêm đầu tiên ở nhà.
Về nhà, bạn nên nằm nghỉ ngay và nên nằm đầu cao bằng cách kê 2-3 cái gối. Bằng cách kê đầu cao hơn tim sẽ giúp bạn giảm được phù nề và sưng. Chườm đá dưới gáy cũng có tác dụng tương tự làm giảm sưng. Bạn cần giúp đỡ để đi nhà vệ sinh. Không nên gặp gỡ nhiều bạn bè vì họ có thể mang mầm nhiễm trùng cho bạn hoặc làm bạn không đủ yên tĩnh để nghỉ ngơi. Ðể tránh táo bón làm bạn khó chịu, bạn nên dùng thuốc nhuận trường.
Tốt nhất bạn hoặc con bạn nên dùng các loại thức ăn nhẹ, dễ tiêu sau khi bạn đã hoàn toàn hồi phục sau gây mê. Trong những ngày đầu cần tránh dùng nước nóng. Ngay sau mỗ, bạn có thể thấy đói, nhưng không nên ăn ngay mà hãy từ từ để tránh nôn. Ðôi khi sau mỗ bạn có thể bị nôn chừng 1-2 lần, nếu kéo dài và nôn nhiều lần, bác sĩ điều trị sẽ cho bạn thuốc để điều chỉnh dạ dày giúp bớt nôn.
Một chế độ ăn và nghỉ ngơi đầy đủ có thể thúc đẩy nhanh việc lành vết thương. Sụt cân rất thường gặp sau phẫu thuật cắt amiđan, bạn cũng không nên quá lo lắng về các nhu cầu dinh dưỡng khi đang hồi phục cho đến khi bạn có thể uống đủ nước.
Bạn còn được cho dùng kháng sinh sau mỗ, và nên uống đầy đủ thuốc. Một số thuốc an thần có thể được chỉ định (thường là acetaminophen/Tylenol trong thành phần có codein). Khi dùng thuốc an thần, bạn không được lái xe. Sau mỗ, nếu bạn buồn nôn hay nôn, bác sĩ sẽ cho thuốc chống nôn như phenergan.
Có thắc mắc hay nếu nghi ngờ bạn hay con bạn có phản ứng với các thuốc trên, bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ. Bạn cũng không nên dùng thêm một loại thuốc khác ngoài chỉ định, trừ khi bạn đã tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị.
Những chỉ dẫn chung và cách chăm sóc tiếp theo là gì?
Nên tái khám trong 10-14 ngày sau mỗ để kiểm tra lại.
Một điều quan trọng cần nhớ là phải uống nước thật nhiều vừa tránh chảy máu vừa tránh mất nước. Lúc đầu có thể hơi khó nuốt. Khi uống nước có thể đỡ đau hơn. Nếu uống nước khó khăn, bạn có thể dùng một loại nước gì vị vừa phải, không chua hoặc ăn kem.
Các loại thức ăn dễ tiêu như gelatin (chất dạng keo có được khi hầm da, thịt, gân), kem lạnh, bánh kem, bánh bột hấp, thức ăn nghiền. sẽ cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho bạn.
Các loại thức ăn nóng nhiều gia vị như trái cây tươi, bánh mì nướng, bánh quy, khoai tây chiên thì nên tránh vì có thể gây trầy xước chỗ mỗ và làm chảy máu vết mỗ. Nếu tình trạng thiếu nước nghiêm trọng, không thể giải quyết tại nhà thì bạn nên đến bệnh viện để truyền dịch.
Sau phẫu thuật thường đau. Không thể biết trước được bệnh nhân nào sẽ hồi phục nhanh, bệnh nhân nào đau kéo dài. Nhiều bệnh nhân hầu như không đau ngay sau cuộc mỗ, nhưng cơn đau có thể tăng dần trong những ngày sau đó. Nhiều trường hợp sau mỗ hơn một tuần, bệnh nhân trở lại bệnh viện vì đau tái phát khá nặng. Thường đó là cảm giác đau ở tai, nhất là khi bệnh nhân nuốt. Việc lành vết mỗ thất bại, vết mỗ chảy máu thường vào những lúc này. Cảm giác đau này tương tự đau trước mỗ.
Nhìn chung, hầu hết bệnh nhân bình phục hoàn toàn sau khoảng hai tuần, nhưng phải sau sáu tuần bạn mới mất hoàn toàn cảm giác khó chịu ở cổ khi ăn đồ ăn nóng hay cay.
Bạn có thể thấy những vệt màu trắng ở vùng họng chỗ vết mỗ, đó là do vết mỗ đóng vẩy trong quá trình lành sẹo. Ðừng cố gắng cậy nó ra, đó không phải là viêm nhiễm gì, và sẽ biến mất sau hai tuần. Hơi thở bạn có thể hôi trong thời gian này, nhưng chớ lo lắng, mọi việc sẽ ổn thỏa sau khi sẹo lành hoàn toàn. Da vùng họng sẽ trở về màu hồng bình thường sau khoảng sáu tuần.
Có thể hơi khó chịu khi thở, nhưng chuyện này ít gặp, và nếu bị thì nó kéo dài chừng vài tháng cho đến khi nào họng bớt sưng. Thuốc nhỏ mũi Saline (một loại nước muối) có thể làm mềm và tan các vẩy này, đồng thời làm giảm phù nề. Ngáy to và kéo dài trong vài tuần. Thay đổi giọng nói cũng thường gặp sau mỗ, nhưng sẽ bình thường sau vài tháng.
Chảy máu gặp ở 1-3% bệnh nhân, thường sau mỗ 5-10 ngày, tuy nhiên nó còn có thể chảy vào bất kì lúc nào. Tình trạng mất nước của bệnh nhân cùng với việc hoạt động quá mức sau mỗ làm cho chảy máu càng nặng hơn. Khi chảy máu, chớ hốt hoảng, hãy bình tĩnh và thư giãn. Súc miệng bằng nước lạnh và nằm nghỉ với đầu kê cao. Ðến bác sĩ nếu máu vẫn còn chảy.
Xử trí với chảy máu có thể rất đơn giản, nhưng cũng có thể rất phức tạp vì phải vào phòng mỗ để gây mê và mỗ lại, thậm chí có khi phải truyền máu. Chảy máu gặp trong cắt amiđan, nhưng ngược lại trong nạo V.A thì chảy máu rất hiếm gặp. Có thể chảy máu từ mũi, và trong những trường hợp này, có thể dùng Neosynephrine (làm co mạch vì vậy giúp cầm máu).
Bạn hoặc con bạn nên nghỉ làm, nghỉ học khoảng một tuần đến 10 ngày. Tập thể dục hoặc đi bơi có thể bắt đầu trở lại sau 3 tuần, nhưng nếu bạn muốn đi lặn thì phải sau ít nhất 6 tuần. Trong 2-3 tuần đầu bạn không nên đi đâu xa, phòng khi chảy máu, bạn có thể đến ngay bác sĩ điều trị của bạn.
Nên đến bác sĩ trong những tình huống sau đây :
1.Tăng đột ngột lượng máu chảy ra từ mũi hoặc miệng kéo dài trong nhiều phút.
2.Sốt trên 38.60C (101.50F) kéo dài dù bạn uống nhiều nước và dùng thuốc hạ sốt như acetaminophen (Tylenol). Nếu trẻ sốt nên cho trẻ uống mỗi một giờ nửa cốc nước, còn người lớn thì uống một cốc.
3.Ðau đầu kéo dài, không giảm dù đã dùng các thuốc giảm đau.
4.Sưng tăng dần, hoặc phù nề sung huyết đỏ mắt mũi cổ.
Tóm lại
Phẫu thuật cắt amiđan và nạo V.A là phẫu thuật nạo bỏ các hạch này trong trường hợp nó bị viêm sưng gây cản trở đường thở.
Amiđan và V.A là nhóm mô dạng lymhpo thuộc hệ miễn dịch của cơ thể nằm ở họng.
Phẫu thuật này có những nguy cơ và những biến chứng riêng.
Nắm được những gì xảy ra trước, trong và sau khi phẫu thuật sẽ giúp bạn và con bạn thấy thoải mái, và yên tâm trước khi vào phòng mỗ.
Tuesday, April 1, 2008 12:56:19 PM
3. BỆNH HỌNG & THANH QUẢN
NGUYÊN NHÂN GÂY KHẢN, MẤT TIẾNG
Một trong những nguyên nhân thường gặp là hút thuốc hoặc uống rượu nhiều, sau đó bị cảm lạnh, dẫn đến viêm thanh quản. Nếu có bội nhiễm, thanh quản càng phù nề, nhất là ở bờ tự do của thanh đới, cản trở sự rung động của thanh đới và gây khản hoặc mất tiếng.
Những nguyên nhân khác:
- Viêm thanh quản do virus: Biểu hiện bằng một cơn cấp tính khi gặp thời tiết lạnh, tiếp theo sau đó là tình trạng viêm mũi - họng. Viêm thanh quản cũng có thể do nhiễm khuẩn gây ra. Tình trạng viêm này thường xảy ra với bệnh cúm.
- Phát âm quá mức (trẻ em khóc, gào thét), nói nhiều do nghề nghiệp, gây tổn thương thanh đới.
- Có vấn đề thực thể như u, polyp, loét ở thanh quản. Bệnh nhân thường có thêm một số triệu chứng khác như đau nhiều ở họng và cổ, khản tiếng rồi mất tiếng kéo dài nếu không được điều trị.
- Bệnh nhược cơ, thiểu năng giáp trạng hoặc liệt hành tủy: Trong những bệnh này, cơ của thanh quản cũng yếu, có thể liệt, gây mất tiếng. Thường kết hợp với nuốt khó, đau họng, đau ngực.
- Có tổn thương thần kinh thanh quản do đã được mổ ở tuyến giáp, cổ, ngực phía trên, thực quản, làm tổn thương đến thần kinh thanh quản.
- Rối loạn thần kinh trung ương.
- Trào ngược dạ dày ở bệnh dạ dày tá tràng.
Để phát hiện đúng nguyên nhân gây khản và mất tiếng, bệnh nhân cần:
- Đánh giá xem khản tiếng hoặc mất tiếng là một hiện tượng mới bị cấp tính hay đã kéo dài (10-15 ngày). Nếu cấp tính thì có khả năng là viêm cấp do virus hoặc vi khuẩn. Nếu đã kéo dài trên 2 tuần thì phải khám chuyên khoa tai mũi họng để phát hiện kịp thời những nguyên nhân nặng như u, cục, liệt thần kinh...
- Khám bệnh một cách tổng hợp toàn diện để xem chứng khản tiếng, mất tiếng có phải là hậu quả của những bệnh như nhược cơ, tiểu đường, viêm loét dạ dày - tá tràng, bệnh về thần kinh trung ương... không. Như vậy mới chẩn đoán đúng nguyên nhân mà chữa trị.
Cần đặc biệt chú ý trong các trường hợp như:
- Bệnh kéo dài.
- Nghiện thuốc lá, nghiện rượu nặng.
- Đã cao tuổi (60-70).
- Đã được phẫu thuật vùng cổ trước đây.
- Có u, cục hoặc tổn thương nghi ngờ: Cần làm sinh thiết để không bỏ sót bệnh lý ác tính.
1 2 Next »