Skip navigation

Sign up | Lost password? | Help

life style

focus on special things only!

Những bức ảnh kinh tởm nhất thời đại của blogger Việt.

Chủng tộc nào cũng vậy, có những nét đẹp riêng. Trong một "đám đông", sẽ có người được "quy định" là đẹp, có người được "quy định" là xấu tùy vào "gu" của mỗi người. Nhưng, thật kinh khủng khi phải lướt blog Việt mỗi ngày, những cách "làm dáng", "tạo hình" ngớ ngẩn đến mức ngu xuẩn, không hiểu họ đang làm cái quái gì nữa? Nhìn mà phát ngán ngẩm!



















"LOVE OF SIAM" MỘT TÌNH YÊU ĐẸP TÔI TỪNG BIẾT

Tôi nghe nói về "Love of Siam" khi tôi đang du lịch bên Bangkok nhưng không có thời gian để xem. Về Việt Nam rồi công việc bận bịu cũng quen bén đi mất.

Hôm qua tình cờ mua được đĩa phim, xem một mạch từ 12 giờ khuya đến 2 giờ sáng. Đến cuối phim, khi Tong nói với Miew rằng cậu ấy không thể là boyfriend của Miew (vì trách nhiệm gia đình) điều đó không có nghĩa là cậu ấy không yêu Miew. Tôi đã bật khóc cùng với Miew trong đêm khuya.

Không hề đề cập tới những yếu tố sex, hành vi và lối sống không đứng đắn của thiểu số gay như các phim Âu Mỹ, "Love of Siam" lột tả một sự khát khao tình yêu trong sáng của 2 cậu học sinh trung học. Phim gióng lên hồi chuông và tiếng nói của những người thuộc thế giới thứ 3 khao khat một tình yêu trong sáng và thánh thiện chứ không như những gì xã hội Thái Lan đang "thông cảm và thương hại" họ như những kẻ chuyển đổi giới tính.

Bộ phim dài gần 2 tiếng đọng lại trong tâm trí tôi là một tình yêu đẹp mà tôi chưa bao giờ biết đến. Ai đó can đảm đến với tôi để cùng nhau xây đắp một tình yêu đẹp và trong sáng như thế này? Để người đời không xem tình yêu của gay là "bệnh họan"?

Một số hình ảnh đẹp trong phim:





















Một số hình ảnh khác của các diễn viên chính:






















I wanna do MBA

Not in this year because I have not had enough money and time yet.

ready for determination but It should be delayed until next year.

How do you think about the MBA progaram of South Columbia University in Vietnam? Please comment!

Thiefs

Some stupid people who have not had skill to write entries on their blogs usually coppy composes of other people and paste to their blogs. But they are more stupid when they never mention the authors of that composes. They are the most stpid thiefs.

How do you think about group sex?

Last night, I joined a group sex (3 somes). At the beginning, everything looks intersting. But after the sex has had been finished, I feel it is empty, I'm so shame and wanna be hidden.

How do you think about 3 somes?

Châu Á trỗi dậy

Trong 200 năm, châu Á - từ Tehran đến Tokyo, từ Mumbai đến Thượng Hải - đã là một người khách đứng bên lề lịch sử thế giới, buông giáp đầu hàng trước làn sóng tràn ngập của phương Tây về thương mại, tư tưởng và quyền lực. Thời kỳ ấy đã kết thúc. Châu Á nay đang trở lại vị thế trung tâm từng nắm giữ trong 18 thế kỷ qua trước khi có sự trỗi dậy của phương Tây...

Các nước châu Á đã tiếp thu những thành tựu tốt đẹp nhất thuộc nhiều lĩnh vực của phương Tây, từ kinh tế thị trường đến khoa học và công nghệ hiện đại, hệ thống pháp luật... Và họ sáng tạo và tạo ra được những mô thức hợp tác mới mà chính phương Tây cũng không hẳn có được. Sự trỗi dậy của châu Á là không thể ngăn cản nổi và vào năm 2050, ba trong số những nền kinh tế hùng mạnh nhất thế giới sẽ thuộc châu Á: Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản.

Liệu phương Tây sẽ kháng cự lại sự trỗi dậy của châu Á? Kịch bản này sẽ rất khủng khiếp. Châu Á muốn biến đổi chứ không muốn thống trị phương Tây. Nhưng phương Tây phải chia sẻ quyền lực với châu Á bằng cách từ bỏ thói tự mình thống trị mọi tổ chức toàn cầu từ Quĩ Tiền tệ quốc tế đến Ngân hàng Thế giới, từ G7 đến Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc...

Nếu phương Tây nhìn nhận sự trỗi dậy của châu Á và chia sẻ quyền lực, các thế lực mới của châu Á sẽ trở thành những “cổ đông” có trách nhiệm trong một trật tự thế giới ổn định. Họ sẽ cất khỏi đôi vai nặng trĩu của phương Tây nhiều gánh nặng toàn cầu. Thế nhưng, một viễn ảnh tích cực tương tự không là điều tất yếu xảy ra. Lịch sử đã dạy chúng ta rằng sự trỗi dậy của những thế lực mới hầu như luôn dẫn đến căng thẳng và xung đột.

Cuốn sách The New Asian Hemisphere - The irresistible shift of global power to the East” (Bán cầu châu Á mới - Sự chuyển giao quyền lực toàn cầu cho phương Đông không sao ngăn cản nổi) của Kishore Mahbubani giải thích tại sao các nước phương Tây cần phải bước ra khỏi “vùng êm ấm” của mình, và chuẩn bị những lộ trình tư tưởng mới để hiểu sự trỗi dậy của châu Á. Nói ngắn gọn, cuốn sách là một cẩm nang hướng dẫn cần thiết để hiểu các lực lượng đang hình thành một thế kỷ châu Á mới.

(Trích lược giới thiệu chương 2 lý giải sự trỗi dậy của châu Á phát xuất từ việc học tập và vận dụng sáng tạo những thành tựu của phương Tây).

Châu Á trỗi dậy


Tượng đài Giấc mơ đô thị, Hong Kong, Trung Quốc

TTCT - Vào những năm 1860, một nhóm nhà cải cách thời Minh Trị - những người đã quyết tâm cứu nước Nhật thoát khỏi ách đô hộ của phương Tây, một số phận đã nhận chìm đa số các nước châu Á vào thời kỳ ấy - tìm đến các quốc gia hàng đầu của phương Tây để học những thành tựu đã giúp phương Tây phát triển vượt bậc.

Là những học trò xuất sắc, người Nhật - cũng như bốn con rồng châu Á một thế kỷ sau đó và như Trung Quốc, Ấn Độ trong hai thập niên qua - đã nhận thấy ít nhất có bảy lĩnh vực, bảy trụ cột của phương Tây có thể tác động một cách thần kỳ đến xã hội của họ.

Kinh tế thị trường

Trong cuốn sách của mình, Kishore Mahbubani kể: “Tôi đã đến Bắc Kinh năm 1980 không lâu sau khi Đặng Tiểu Bình đưa ra chương trình “Bốn hiện đại hóa” (hiện đại hóa nông nghiệp, công nghiệp, khoa học - công nghệ và quân sự). Tuy nhiên, dáng dấp và bối cảnh xã hội Trung Quốc vẫn chưa có gì thay đổi như có thể cho thấy qua chuyện nhỏ của tôi ở Bắc Kinh. Chuyện thứ nhất là hớt tóc. Tôi rất ngạc nhiên khi người thợ hớt tóc dành rất nhiều thời gian để o bế cái đầu của tôi (ông ta làm quá tốt công việc của mình). Do chưa hề trải qua một chuyện tương tự như thế trước đây, tôi bèn hỏi ông ta sao lại cắt lâu như vậy. Ông ta trả lời rằng liệu có được gì hơn nếu như ông ta hớt 10 hay 20 cái đầu một ngày? Năng suất nhiều hơn mà cũng chỉ được một “bát cơm sắt”.

Chuyện thứ hai là gọi taxi. Phía ngoài khách sạn của tôi có đến 10 chiếc taxi và 10 tài xế đang đậu chờ khách. Khi tôi gọi, cả 10 bác tài đều thoái thác nói rằng chưa đến phiên mình. Họ chẳng vội chạy bởi nếu có chạy 10 hay 20 chuyến đi nữa thì họ cũng chỉ nhận được một số tiền như nhau. Họ đều có những bát cơm sắt.

Trung Quốc là một phòng thí nghiệm sống tốt nhất để nghiên cứu tác động của những nguyên lý kinh tế thị trường. Nhiều người đã nghe nói đến sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục của Trung Quốc, nhưng ít ai hiện nay hiểu được tốc độ tăng trưởng bùng nổ của kinh tế Trung Quốc là như thế nào.

So sánh giữa Singapore và Thâm Quyến có thể cho thấy phần nào qui mô tăng trưởng mà Trung Quốc có khả năng đạt đến là như thế nào. Singapore nổi tiếng là một trong những câu chuyện thành công kinh tế lớn của thế giới, một trong số bốn “con rồng kinh tế” của Đông Á. Trong 30 năm đầu tiên của thời kỳ độc lập (1965-1995), Singapore đã tăng trưởng nhanh với tốc độ bình quân hằng năm là 8,6%. Tổng thu nhập nội địa của Singapore (GNI) đã tăng từ 1 tỉ USD lên 86 tỉ USD trong cùng một giai đoạn.


Kishore Mahbubani là hiệu trưởng Trường chính sách công Lý Quang Diệu thuộc Trường đại học Quốc gia Singapore. Là một nhà ngoại giao nổi tiếng từng là đại sứ Singapore tại Liên Hiệp Quốc, ông là tác giả của nhiều cuốn sách như Can Asians Think? Beyond the Age of Innocence... Năm 2005, tạp chí Foreign Policy đã đưa ông vào danh sách 100 nhà trí thức hàng đầu của thế giới.


Trong lúc đó, Thâm Quyến còn là một làng chài nằm ngủ vùi khi Đặng Tiểu Bình phát động cuộc cải cách kinh tế vào năm 1979. Tuy nhiên, nó có may mắn là nằm cạnh Hong Kong. Năm 1980, khi Đặng Tiểu Bình tuyên bố Thâm Quyến phải trở thành một trong những đặc khu kinh tế hàng đầu của Trung Quốc thì kinh tế của nó đã phát triển như vũ bão. Từ 1980-2005, dân số của Thâm Quyến đã tăng từ 30.000 lên 11 triệu. Còn theo Hãng tư vấn Enright, Scott & Associates có trụ sở tại Hong Kong, kinh tế Thâm Quyến đã tăng trưởng theo tốc độ bình quân là 28% năm suốt từ 1980-2004 và tăng vọt từ 32,5 triệu USD năm 1980 lên 41 tỉ USD vào năm 2004. Xuất khẩu từ Thâm Quyến đạt mức 101,5 tỉ USD vào năm 2005, chiếm 13% tổng xuất khẩu của Trung Quốc.

Thâm Quyến hiện là cảng container bận rộn đứng vào hàng thứ tư thế giới và là sân bay lớn thứ tư của Trung Quốc. Nói chung, kinh tế Thâm Quyến đã tăng 126 lần, một con số tăng trưởng lớn hơn nhiều lần so với Singapore vốn đã là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới.

Điều mà những con số này không “nói” được chính là sự biến đổi đã diễn ra trong suy nghĩ của con người, khi họ như sờ mó được một sự tăng trưởng nhanh đến như thế. Lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, người nông dân được thoát khỏi cuộc sống “bán lưng cho trời bán mặt cho đất” triền miên. Không có gì có sức giải phóng tư duy mạnh mẽ bằng hiện thực nhãn tiền là cuối cùng họ đã có được niềm hi vọng đổi đời.

Tác động bùng nổ của việc Trung Quốc vận dụng kinh tế thị trường là không có gì đáng sửng sốt. Tất cả các nền kinh tế châu Á được vận hành theo kinh tế thị trường đều có được một sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục tương tự. Hầu hết mọi đánh giá về những mặt được của kinh tế thị trường đều tập trung nêu lên đó là tính hiệu quả. Rõ ràng các nước vận dụng kinh tế thị trường đều ghi nhận một sự tăng năng suất mạnh mẽ.

Thế nhưng, lợi ích thật sự của việc vận dụng kinh tế thị trường là làm giảm tình trạng nghèo đói. Hàng trăm triệu người dân châu Á đã được hưởng lợi từ kết quả này. Báo cáo “Global Economic Prospects: Managing the Next Wave of Globalization” (Những dự báo kinh tế toàn cầu: điều hành làn sóng toàn cầu hóa mới) năm 2007 của Ngân hàng Thế giới ghi nhận từ 1981-2001 số người cực nghèo đã giảm đầy ấn tượng ở Đông Á (chỉ riêng ở Trung Quốc là 400 triệu người).

Qua thời gian chúng ta có lẽ nhận ra rằng những nguyên lý của Adam Smith đã có một tác động cách mạng đến tư duy của người châu Á. Smith nêu rõ: khi được tự do bán sức lao động hay đầu tư vốn của mình, thì mỗi người là một động lực thúc đẩy sự tăng trưởng. Một thay đổi như thế hẳn diễn ra không phải từ trên xuống mà là từ dưới lên.

Khoa học và công nghệ


Vịnh Marina, Singapore
Một sự giải phóng tư duy tương tự mới có thể giải thích vì sao người châu Á lại nhiệt tình tiếp thu và thực hiện đầy sáng tạo lớn lao trụ cột thứ hai của phương Tây: khoa học và công nghệ. Richard Smalley, giải Nobel hóa học, gần đây đã dự đoán vào khoảng năm 2010, 90% số người làm luận án tiến sĩ sẽ là người châu Á.

Cũng theo báo Time, Mỹ, tháng 10-2006, các nước châu Á đã tăng mạnh ngân sách nhà nước dành cho khoa học: từ 1995-2005, Trung Quốc đã tăng gấp đôi tỉ trọng GDP đầu tư cho nghiên cứu và phát triển từ 0,6% lên 1,3%, trong khi Hàn Quốc là từ 9,8 tỉ USD năm 1994 lên 19,4% tỉ USD năm 2004. Dòng tiền đầu tư ấy đã thu hút đến châu Á nhiều nhà nghiên cứu phương Tây, nơi mà ngân sách dành cho khoa học bị ngưng trệ, thậm chí ở một số nước bị teo tóp lại. Cú hích này đã mang lại những kết quả cho các nền kinh tế đang phát triển của châu Á: phần sản phẩm xuất khẩu công nghệ cao của các nước châu Á đã tăng từ 7% năm 1980 lên 25% năm 2001, trong khi phần của Mỹ lại giảm từ 31% xuống còn 18% (theo Tổ chức Khoa học quốc gia Mỹ). Cùng lúc, phần các bài báo khoa học được công bố đã tăng từ 16% năm 1980 lên 25% năm 2004.

Sự bùng nổ nghiên cứu khoa học và công nghệ này của châu Á là kết quả của những quyết định sáng suốt được đưa ra từ nhiều thập niên trước. Thủ tướng Jawaharlal Nehru, nhà lãnh đạo xuất chúng và thu hút của Ấn Độ, đã cho thành lập viện công nghệ đầu tiên của Ấn Độ (IIT) tại Kharagpur gần Calcutta vào năm 1951. Sáu IIT cũng đã được thành lập sau đó ở Mumbai, Chennai, Kanpur, New Dehli, Guwahati và Rourkee.

Tất nhiên, nguồn chất xám tài năng và được đào tạo này đã bị hút bởi những cơ sở giàu có tại Mỹ và châu Âu. Vào những năm 1980 có một chuyện vui kể rằng các sinh viên IIT đều một chân đặt trên đất Ấn, còn một chân lơ lửng đặt trên Air India.

Nhìn bề ngoài đây là một thất thoát cho Ấn Độ. Rất may là có nhiều tiếng nói, trong đó có tiếng nói của một người mà sau này sẽ trở thành Thủ tướng Rajiv Gandhi khi ông nói rằng: “Thà chảy máu chất xám còn hơn là lãng phí chất xám”. Sự thành công của các IIT và những sinh viên Ấn tốt nghiệp tại Mỹ, đặc biệt tại Silicon Valley, đã mang lại hai lợi ích khổng lồ cho Ấn Độ. Thứ nhất, nó thúc đẩy mạnh mẽ văn hóa tự tin cho một đất nước từng là thuộc địa của Anh trong nhiều thế kỷ. Thứ hai, rất nhiều người Ấn thành đạt tại các nước phương Tây nay bắt đầu một dòng chất xám chảy ngược về Ấn Độ. Khi trở về, giàu có cả vật chất lẫn kinh nghiệm, họ góp phần to lớn vào sự phát triển của Ấn Độ. Jagdish Bhagwati, một nhà kinh tế nổi tiếng của Ấn Độ, hiện giảng dạy tại Trường đại học Columbia, nói: “Những người hồi hương thường hoạt động như con ngựa thành Troy, lobby nhân danh bạn. Họ tận dụng những cơ hội bên ngoài để thành công ở rất nhiều lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau. Và họ có thể mang kiến thức cùng vốn liếng của mình về giúp đất nước cất cánh kinh tế”.

Thống kê của Ngân hàng Thế giới cho biết nguồn tiền chuyển về nước của kiều dân Ấn đã tăng hơn gấp đôi kể từ 1995; năm 2005 là 22 tỉ USD (kế tiếp là Trung Quốc với khoảng 21 tỉ USD). Hơn một thập niên qua, số tiền kiều dân Ấn chuyển về nước là 154 tỉ USD. Một báo cáo năm 2006 của J.P Morgan cho biết cộng đồng Ấn kiều đang trở thành một chất xúc tác mạnh mẽ trong việc giúp Ấn Độ thực hiện khát vọng tiến tới tốc độ tăng trưởng GDP 10% năm.

Cộng đồng Ấn kiều này cũng không ngừng tập trung vào việc giúp đất nước mình viết lên một câu chuyện thành công về kinh tế. Apurv Bagri, chủ tịch Hội Doanh nhân Ấn (TiE) - một mạng lưới toàn cầu bao gồm 12.000 doanh nghiệp Ấn Độ, nói: Mười năm trước quan tâm tập trung của các thành viên TiE là “làm thế nào để đến được Silicon Valley?”, nay thì lại nói rằng “làm thế nào để hội nhập với Ấn Độ?”.

Những thành tựu của Trung Quốc trong lĩnh vực khoa học và công nghệ có lẽ còn to lớn hơn của Ấn Độ. Theo báo Time, Trung Quốc có hơn 30.000 tiến sĩ vào năm 2003, tăng so với 12.000 vào năm 2001. Cả nước cũng có 200.000 kỹ sư tốt nghiệp vào năm 2004. Những chính sách khuyến khích của chính phủ đã lôi kéo một đạo quân khoa học Hoa kiều về nước. Trung Quốc đã trải thảm đỏ chào đón 200.000 Hoa kiều trở về và họ hiện chiếm một tỉ lệ đáng ngạc nhiên lên đến 81% số thành viên của Viện Khoa học Trung Quốc. Làn sóng chất xám quay về này đã thúc đẩy nền khoa học Trung Quốc chuyển động nhanh và mạnh.

Mỗi bước tiến của các nước châu Á trong lĩnh vực khoa học và công nghệ sẽ tùy thuộc vào nhóm các nhà nghiên cứu trình độ PhD có được. Rõ ràng là châu Á đang phát triển lợi thế quyết định này. Theo Ngân hàng Thế giới, số sinh viên châu Á đậu tiến sĩ khoa học và kỹ thuật (S&E) tại Mỹ đã tăng lên đáng kể. Từ 1983-2003, sinh viên Trung Quốc, Đài Loan, Ấn Độ và Hàn Quốc chiếm hơn một nửa số tiến sĩ S&E tại Mỹ so với toàn bộ sinh viên nước ngoài - 89.700 trên tổng số 176.000, gần gấp bốn lần so với số sinh viên của châu Âu (23.000).

Riêng sinh viên Trung Quốc là 35.300, chủ yếu là trong sinh học, vật lý và kỹ thuật. Từ 1993-2003, số sinh viên Đài Loan giành được bằng tiến sĩ S&E tại Mỹ là hơn 19.700, chủ yếu trong lĩnh vực kỹ thuật, sinh học và vật lý. Cùng thời gian này, số sinh viên Ấn giành được hơn 17.500 bằng tiến sĩ S&E tại các trường đại học Mỹ, kế tiếp là Hàn Quốc với 17.300.

Trọng dụng nhân tài

Nguyên lý này đơn giản đến ngạc nhiên. Nó cho rằng khi mỗi cá nhân trong xã hội là một nguồn lực tiềm năng thì tất cả đều phải có một cơ hội đồng đều (càng đồng đều bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu) để phát triển và đóng góp cho xã hội. Không một tài năng nào bị bỏ quên. Mọi tổ chức thành công đều là những tổ chức đã biết vận dụng nghiêm túc nguyên lý trọng dụng nhân tài này.

Cách đơn giản nhất để hiểu lợi ích của nguyên lý này là tự trả lời câu hỏi: vì sao Brazil là một siêu cường bóng đá hàng đầu thế giới song lại là một cường quốc kinh tế trung bình? Câu trả lời là: khi tìm kiếm tài năng bóng đá, Brazil đã lùng sục vào mọi tầng lớp xã hội, từ các tầng lớp bên trên cho đến tầng lớp nghèo khổ trong các khu ổ chuột. Một đứa trẻ từ tận cùng xã hội cũng sẽ không bị phân biệt nếu đó là một tài năng bóng đá. Thế nhưng, trong lĩnh vực kinh tế, Brazil lại tìm kiếm tài năng trên một mặt bằng dân cư hạn hẹp hơn từ những tầng lớp thượng lưu và trung lưu.

Từ nhiều thế kỷ qua, các xã hội châu Á đã né tránh việc trọng dụng nhân tài. Những định kiến phong kiến vốn đã bị phá bỏ từng bước tại châu Âu sau cuộc cách mạng công nghiệp lại vẫn tồn tại dai dẳng ở châu Á. Tại Ấn Độ chẳng hạn, thật không thể hình dung một đứa bé thuộc đẳng cấp nghèo khổ lại có thể mơ ước một nền giáo dục hiện đại và nắm giữ một vai trò hàng đầu trong xã hội. Hậu quả là hàng triệu bộ não có chất lượng đã không được sử dụng trong nền chính trị Ấn.

Người đầu tiên phá bỏ định kiến đối với những người nghèo khổ để vượt lên đẳng cấp của mình là tiến sĩ Bhimrao Ambedkar. Nhưng đằng sau tấm gương thành công của ông là một câu chuyện khác: xã hội nhìn nhận con người như thế nào? Người nghèo là một gánh nặng hay là một nguồn lực giàu tiềm năng đang chờ được đánh thức? Sự chuyển đổi theo quan điểm tiến bộ đang giải thích sự vững bước đi lên của Ấn Độ.

Trung Quốc đã bắt đầu sử dụng nguồn nhân lực từ tầng lớp thấp của xã hội trước cả Ấn Độ. Khi Đặng Tiểu Bình tiến hành cuộc cách mạng kinh tế với việc đưa kinh tế thị trường vào vận hành, một trong những nguyên nhân giải thích vì sao Trung Quốc lại có thể cất cánh nhanh chóng đến mức như thế thì đó là do cuộc cách mạng xã hội mà Mao Trạch Đông đưa ra trước đó: phá bỏ những rào cản giai cấp để tiến lên. Người dân Trung Quốc ở mọi tầng lớp xã hội đều mong muốn và được thôi thúc để tiến lên phía trước.

Nguyên lý trọng dụng nhân tài là một phát minh chủ yếu của phương Tây cho dù có ý kiến cho rằng Trung Quốc đã làm điều này trước phương Tây. Các hoàng đế Trung Hoa xưa đã mở các cuộc thi tuyển người tài ra làm quan. Nhưng nguyên lý này được thực hiện một cách triệt để nhất là ở các tổ chức phương Tây như Trường đại học Harvard hay các tổ chức kinh tế như McKinsey & Company, Shell hay General Electric, ở đó chỉ những ai giỏi nhất và xuất sắc nhất mới được tuyển chọn để đảm nhận các vị trí then chốt. Trong lĩnh vực điều hành quốc gia, Trung Quốc đang vận dụng nguyên lý này một cách triệt để xem ra hơn cả các xã hội phương Tây hiện nay.

Nhà cải cách mạnh mẽ nhất của Trung Quốc sau Đặng Tiểu Bình có lẽ là Chu Dung Cơ. Đề cập một cuộc cải cách trong hệ thống tổ chức và nhân sự của Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông nói: “Chúng ta cần kiên quyết từ bỏ hệ thống đề bạt theo kiểu người tốt là người được cho là tốt thậm chí cho dù anh ta chẳng tốt gì; còn người xấu là người được cho là xấu trong khi anh ta không phải như vậy theo đánh giá của các tầng lớp quần chúng”.

Châu Á trỗi dậy: Tinh thần thực dụng


Có lẽ nhà lãnh đạo thực dụng vĩ đại nhất trong lịch sử châu Á là Đặng Tiểu Bình. Thật vậy, định nghĩa của ông về chủ nghĩa thực dụng có lẽ cũng là một định nghĩa hay nhất khi ông nói: “Mèo trắng hay mèo đen cũng được, miễn là bắt được chuột”.

Ông Đặng dùng định nghĩa hàm súc này để biện minh quyết định dứt khoát từ bỏ những giáo điều đã trở nên khô cứng.


Chuyến thăm một số nước Đông Nam Á trong đó có Singapore đã mở mắt cho ông thấy những điều kiện kinh tế vượt trội của khu vực này. Trả lời phỏng vấn tạp chí Time Asia tháng 12-2005, cựu thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu đã mô tả phản ứng của ông Đặng về chuyến thăm lần ấy như sau: “Tôi tin chuyến thăm Bangkok, Kuala Lumpur và Singapore của ông vào tháng

12-1978 là một cú sốc với ông. Ông chờ đợi sẽ bắt gặp ba đô thị của Thế giới thứ ba, song ông lại bắt gặp ba đô thị của Thế giới thứ hai hiện đại hơn cả Thượng Hải hay Bắc Kinh. Ngay sau khi cánh cửa máy bay của ông khép lại, quay sang các đồng nghiệp của mình, tôi nói: “Các trợ lý của ông ta đã bị một vố hớ đau. Họ đã báo cáo láo với ông ta”.

Trong nhiều tuần lễ, tờ Nhân Dân Nhật Báo đã đổi giọng và viết rằng Singapore không còn là một con chó chạy rông của Mỹ nữa, đó là một đô thị xinh xắn, một thành phố vườn, có chính sách nhà cửa tốt, là một nơi sạch sẽ. Họ đã thay đổi giọng điệu. Còn ông ta đã chuyển sang “chính sách mở cửa”. Ở tuổi 74, ông lại thuyết phục những chiến hữu đồng thời với mình trong cuộc trường chinh quay trở lại với kinh tế thị trường”.

Sau chuyến thăm, Đặng Tiểu Bình đã làm hết sức mình để thúc đẩy cuộc cải cách kinh tế. Ông kêu gọi người dân Trung Quốc học tập Singapore và vượt Singapore. Để chuyển quyết tâm này đến hàng tỉ người Trung Quốc, ông Đặng đưa ra một khẩu hiệu cực kỳ đơn giản mà có sức cổ vũ to lớn là “Làm giàu là vinh quang”.

Cũng trên tinh thần thực dụng này, ông tuyên bố: “Hữu khuynh là một lực cản lớn hơn cả tả khuynh”. Ông kêu gọi chấm dứt mọi cuộc tranh luận về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản mà tập trung nhiều hơn, lớn hơn, nhanh hơn và mạnh hơn cho cải cách như ông nhấn mạnh: Chúng ta phải nắm lấy mỗi cơ hội để làm cho đất nước chúng ta phát triển nhanh. Giờ đây chúng ta đang có một thời cơ thuận lợi. Nếu chúng ta không nắm lấy thì nó sẽ trôi qua nhanh. Phát triển chậm có nghĩa là dừng lại”.

Tinh thần thực dụng thấm sâu vào người Nhật từ những năm 1860 nay đã lan rộng và lan xa khắp khu vực. Thủ tướng Mahathir giải thích những chính sách kinh tế thực dụng của Malaysia bằng cách nói Malaysia cần có một chính sách “hướng Đông” và học hỏi Nhật Bản lẫn Hàn Quốc.

Tương tự, năm 1991 khi Manmohan Singh, lúc đó còn là bộ trưởng Bộ Tài chính Ấn Độ, bị những người cánh hữu tấn công bởi họ cho rằng cho phép đầu tư nước ngoài sẽ khiến Ấn Độ phải quị lụy Mỹ, ông đã phản bác, nói rằng Singapore vẫn luôn có khả năng từ chối Mỹ trong nhiều lĩnh vực, và điều đó cho thấy việc chấp nhận cho đầu tư nước ngoài không có nghĩa là đánh mất độc lập chính trị.

Một trong số những nhà công nghiệp nổi tiếng nhất của Ấn Độ là Ratan Tata. Một trong những công ty của ông là Tata Steel, đã nổi tiếng toàn cầu khi mua lại Hãng sản xuất thép Corus của Anh với giá 12 tỉ USD vào tháng

3-2007. Cuối năm 2005, ông đã kể một câu chuyện thú vị: trong suốt nhiều năm ông đã đi khắp đất nước Ấn Độ và cố thuyết phục mọi người hãy học tập kinh nghiệm của Singapore. Câu trả lời mà ông thường gặp là: Singapore thì quá bé còn Ấn Độ lại quá lớn. Vậy Ấn Độ có thể học được gì ở Singapore? Thế nhưng, khi Trung Quốc bắt đầu cất cánh kinh tế từ những năm 1990 và Ratan Tata lại nói Ấn Độ có thể học tập Trung Quốc, lúc này những đồng hương Ấn Độ của ông không thể nói Trung Quốc quá bé để Ấn Độ có thể học hỏi được gì!

Kinh tế Ấn Độ bắt đầu mở cửa vào năm 1991, phần lớn do khủng hoảng trong cán cân thanh toán, song một phần cũng là do những bài học từ Trung Quốc cùng nỗi sợ hãi bị tụt hậu. Ít người Ấn Độ biết Trung Quốc đã học từ Singapore, còn Singapore lại học từ Nhật Bản.

Văn hóa hòa bình

Âm thanh vang vọng nhất phát đi từ Đông Á mà đến nay còn chưa được lưu ý đến là âm thanh của những họng súng đã câm lặng trong khu vực. Sự im ắng tiếng súng này không phải là một hiện tượng bình thường.

Điều tự nhiên được chờ đợi trong hơn hai thập niên qua là với sự trỗi dậy của những thế lực mới, hẳn châu Á sẽ bị thống trị bởi sự kình địch và xung đột chứ không phải là hòa bình và sự hiểu biết lẫn nhau. Nhiều học giả hàng đầu đã dự báo điều này từ gần 15 năm trước. Aaron L. Friedberg đã viết: “Nửa thiên niên kỷ, trong đó châu Âu là nơi phát xuất chiến tranh chủ yếu của thế giới (cũng như là nơi sản sinh của cải và tri thức), đang đi đến kết thúc. Song quá khứ của châu Âu có thể sẽ là tương lai của châu Á”.

Thế nhưng, không chỉ Đông Á đã hòa bình trong hơn hai thập niên qua mà còn vượt qua được cuộc sát hạch quan trọng vốn có thể gây nên những xung đột trong khu vực: cuộc khủng hoảng châu Á năm 1997-1998. Khó có thể đánh giá thấp tính chất nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng này. Đã có một sự bùng nổ lớn ở vài nền kinh tế của châu Á. Kinh tế Indonesia giảm sút 15% trong năm 1998. Tại Hàn Quốc, trong năm này nạn thất nghiệp tăng vọt từ 2,6% lên hơn 8% và nay vẫn tiếp tục tăng cao. Trong chuyên đề “Ủy ban cứu thế giới” trên tạp chí Time tháng 2-1999, Larry Summers đã viết cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á diễn ra “kinh hoàng” giống như vụ một máy bay rơi.

Song điều ngược lại đã xảy ra. Hòa bình được củng cố và vững chắc hơn. Tại sao?

Trả lời bất cứ câu hỏi nào về nguyên nhân chiến tranh và hòa bình đều thật phức tạp. Nhưng đã rõ được vài nhân tố góp phần. Trước hết, Đông Á đã tiếp thụ - gần như qua một quá trình thẩm thấu - cột trụ thứ năm của phương Tây: đó là văn hóa hòa bình vốn đã tác động đến quan hệ của các nước phương Tây từ sau khi Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc.

Do hàng trăm năm xung đột lẫn nhau, rõ ràng các nước phương Tây đã đạt được một thành tựu cao nhất của nhân loại: không chỉ là không có chiến tranh mà là không có triển vọng chiến tranh giữa hai nước phương Tây bất kỳ nào. Thế giới đã xem thành tựu này là hiển nhiên, hiếm khi thừa nhận đó là một trong những thành tựu ấn tượng nhất của lịch sử nhân loại.

Thế lực đáng kể nhất đang nổi lên ở châu Á và trên thế giới là Trung Quốc. Nhiều nhà tư tưởng chiến lược ở phương Tây bị ám ảnh sự đe dọa của Trung Quốc như một con rồng quân sự đang thức dậy. Điều này là có khả năng, song có một điều đến nay cũng đã rõ là quan điểm của giới lãnh đạo và trí thức nước này. Sự đồng thuận bao trùm ở Trung Quốc được một trong những nhà tư tưởng hàng đầu của Trung Quốc (người cũng là cố vấn thân cận của Hồ Cẩm Đào) Zheng Bijin diễn đạt bằng một cụm từ “sự trỗi dậy hòa bình”.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc hiểu họ đã bao lần thử hiện đại hóa và đều thất bại. Thời cơ hiện nay để tăng trưởng và trở thành một quốc gia đã phát triển là cơ may tốt nhất mà họ có được. Còn điều ngu xuẩn nhất có thể làm là lãng phí cơ hội này bằng cách can dự vào bất cứ hình thức xung đột quân sự nào. Trung Quốc học hỏi từ kinh nghiệm tích cực của thế giới phương Tây và từ kinh nghiệm thất bại của Liên Xô, một đất nước đã bị bùng nổ do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chọn tập trung cho phát triển quân sự thay vì phát triển kinh tế. Trung Quốc đã quyết định làm điều ngược lại.

Những bài học mà Trung Quốc học được từ chiến tranh và hòa bình trong thế giới hiện đại không chỉ là nguyên nhân duy nhất vì sao tiếng súng lại im ắng ở Đông Á. Một thế lực đáng kể khác trỗi dậy mà hiện chưa được chú ý đến là ASEAN. Giống như EU, nó đã ra đời để thúc đẩy sự hợp tác khu vực. Cả hai thực thể này đều thành công trong việc ngăn chặn chiến tranh giữa hai quốc gia thành viên bất kỳ nào. EU đã đi trước ASEAN một bước khi không còn triển vọng chiến tranh giữa các quốc gia thành viên. EU là một thế lực lớn về kinh tế (với GNP gộp chung là 13.386 tỉ USD) trong khi ASEAN là một thế lực nhỏ về kinh tế (với GNP gộp chung là 857 tỉ USD).

Thế nhưng, cũng có một chiều kích mà ASEAN có thể đi trước EU, đó là ngoại giao. Trong lĩnh vực này, ASEAN là một thế lực lớn còn EU lại là một thế lực nhỏ. Có hai khu vực dễ bị Balkan hóa là châu Âu và Đông Nam Á. Thật vậy, xét về mặt đa dạng tôn giáo, chủng tộc, ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử... ASEAN dễ bị Balkan hóa hơn nhiều so với EU.

Khi chiến tranh lạnh kết thúc, nếu dự đoán liệu chiến tranh sẽ xảy ra ở vùng Balkan hay châu Á thì không nghi ngờ các nhà chiến lược phương Tây hẳn đã nói rằng đó là châu Á. Nhưng điều ngược lại đã diễn ra. Vì sao? EU thất bại trong khi ASEAN lại thành công.

ASEAN đã đóng vai trò then chốt thúc đẩy sự hợp tác giữa các thế lực lớn trong khu vực qua công thức ARF, APEC, ASEAN+ 3, ASEM và EAS.

Hơn 40 năm sau khi ASEAN được thành lập (1967), ba gã khổng lồ kinh tế là Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc đều không sao thành lập được một mô hình hợp tác tương tự như ASEAN. Nguyên nhân của sự thất bại này là phức tạp. Nhưng nay nơi duy nhất ba nhà lãnh đạo hàng đầu vùng Đông Bắc Á có thể thoải mái gặp nhau tranh luận về những thách thức chung lại là những cuộc gặp gỡ do ASEAN tạo ra, nhất là qua ASEAN+ 3. Bởi vậy, ASEAN tuy vẫn còn là một thế lực nhỏ về kinh tế song lại cần được xem là một thế lực lớn về ngoại giao: người thiết lập hòa bình cho khu vực.

Pháp Quyền


Giáo dục: chìa khóa mở cửa nguồn tiềm năng của mỗi người

Khái niệm phương Tây này được hiểu là mọi người đều được đối xử như nhau trước luật pháp, và mọi công dân đều tuân thủ một pháp luật như nhau. Nó ngược với não trạng của người châu Á. Phần lớn người châu Á thuộc mọi lứa tuổi đều cho rằng tầng lớp cầm quyền, nhất là những thành viên hoàng tộc và quí tộc đều đứng trên pháp luật. Thật vậy, trong não trạng của tầng lớp cầm quyền, chức năng duy nhất của luật pháp là để cai trị bầy tôi và thần dân của họ.

Trong tư tưởng pháp trị xưa nay của Trung Quốc, luật pháp chỉ là công cụ để cai trị những kẻ bị trị. Bản thân vua (hay đảng cầm quyền) đều nằm trên pháp luật, do vậy mỗi chiếu chỉ hay ý muốn của vua đều là luật pháp. Kế thừa điều này trong điều kiện xã hội Trung Quốc mới là khái niệm linh hoạt cho phép nhà nước hoặc nhà lãnh đạo nhà nước có thể linh hoạt diễn giảng luật pháp theo những lợi ích của cá nhân mình hay của đảng mình.

Trái lại, trong não trạng của người phương Tây, pháp quyền bảo vệ cá nhân công dân trước việc sử dụng tùy tiện quyền lực của chính quyền. Nó là sự thể hiện cụ thể của một giá trị được quan tâm nhất là sự công bằng. Biểu tượng nổi tiếng một người bịt mặt cầm cán cân công lý đã thể hiện khát vọng sâu xa của người phương Tây muốn tạo nên một xã hội công bằng, trong đó pháp luật được thực hiện bình đẳng đối với mọi công dân. Thật vậy, theo đuổi công lý được xem là một trong những khát vọng đạo đức cao quí nhất mà bất kỳ xã hội nào cũng có thể đeo đuổi.

Người châu Á lại hướng đến pháp quyền không phải vì những lý do đạo đức, mà vì những lý do chức năng là chủ yếu. Minh chứng tốt nhất cho điều này là luật giao thông. Chúng ta dừng lại khi đèn đỏ không phải vì những lý do đạo đức, mà bởi vì làm thế thì an toàn hơn. Tín hiệu giao thông cũng tạo nên một hệ thống bao trùm cho phép giao thông (cũng như thương mại và nhiều lĩnh vực hoạt động khác) diễn ra trôi chảy.

Đại bộ phận người châu Á hiện hiểu rằng tuân thủ pháp quyền hẳn cũng tự nhiên như tuân theo luật giao thông vậy. Nếu không làm thế thì họ sẽ thất bại, không thể xây dựng được một xã hội hiện đại vốn chỉ có thể vận hành nếu như luật pháp tạo cơ sở chung để người ta có thể ký kết các thỏa thuận dựa trên niềm tin chúng sẽ được thực hiện vô tư và hiệu quả.

Cú hích gần đây của Trung Quốc liên quan đến xây dựng một hệ thống pháp luật dựa trên những khái niệm của phương Tây đã được thúc đẩy trước hết bởi những đòi hỏi của kinh tế. Một khi Trung Quốc chuyển sang kinh tế thị trường thì luật pháp ngày càng trở thành sống còn để điều chỉnh các hoạt động kinh tế.

Tại châu Á, rõ ràng các tầng lớp lãnh đạo đều thừa nhận họ phải tăng cường sự tôn trọng đối với pháp quyền. Họ cũng hiểu rất rõ không thể xây dựng một xã hội hiện đại và một nền kinh tế hiện đại nếu không có một pháp quyền hiện đại.

Giáo dục

Theo báo cáo năm 2007 của Ngân hàng Thế giới về toàn cầu hóa, “việc nâng cao trình độ giáo dục cũng quan trọng, thúc đẩy sự tăng trưởng của châu Á bình quân từ 0,75 lên 2%”.

Xuyên suốt lịch sử, tất cả nền văn minh lớn đều hiểu được giá trị của giáo dục. Thật vậy, đỉnh cao của mỗi nền văn minh đều gắn liền với sự phát triển của các trung tâm học thuật lớn. Không có gì ngạc nhiên, do sự thống trị của phương Tây trong hơn 200 năm qua, các trường đại học lớn đều nằm ở phương Tây.

Các trường đại học Mỹ đã đào tạo thành công tầng lớp ưu tú của Mỹ và của các nước trên thế giới. Nước Mỹ, hơn bất cứ nước phương Tây nào khác, đã đào tạo và giáo dục tầng lớp ưu tú của châu Á. Từ sau Thế chiến thứ 2, vài trăm ngàn người châu Á đã theo học tại các trường đại học Mỹ và trở về nước. Số sinh viên hải ngoại của Trung Quốc có khoảng 580.000 người từ năm 1978-2003 và hơn 172.800 (khoảng 32%) người đã trở về nước.

Năm 1998, 7.300 sinh viên đã về nước, gần gấp năm lần so với năm 1990. Khảo sát số chuyên gia nhập cư tại Silicon Valley của Anna Lee Saxenian, nữ hiệu trưởng Trường đại học thông tin thuộc Trường đại học California, Berkeley, đã cho thấy có 73% chuyên gia nhập cư Trung Quốc nói họ dự định lập doanh nghiệp khi trở về nước và một số rất đông đã thực hiện.

Ấn Độ được thừa hưởng nhiều từ nền giáo dục Mỹ hơn cả Trung Quốc. Thật vậy, Ấn Độ đang là quốc gia có số sinh viên quốc tế theo học tại Mỹ trong năm 2005-2006 đông hơn cả với 76.503 sinh viên, kế đó là Trung Quốc (62.582), Hàn Quốc (58.847) và Nhật Bản (38.712). Ngày nay ngày càng nhiều sinh viên Ấn Độ có kế hoạch trở về nước sau khi học xong.

Trong một khảo sát gần đây trong số sinh viên gốc Ấn đang theo học tại Trường cao đẳng kinh doanh thuộc Trường đại học Chicago, hơn 84% có ý định trở về Ấn Độ trong tương lai gần. Khoảng một nửa trong số họ muốn về nước sau năm năm tốt nghiệp. Số sinh viên tốt nghiệp về nước này tạo nên chất men cho sự trỗi dậy của châu Á. Khi trở về, họ không chỉ mang theo những kỹ năng thu thập được mà còn cả một sự hăm hở lạc quan về cuộc sống cùng niềm tin mãnh liệt có thể xây dựng nên những xã hội hùng mạnh. Niềm xác tín lớn của nước Mỹ trong những năm 1960 cho rằng một thế hệ những con người xuất sắc và sáng chói nhất có thể biến đổi xã hội đã lan rộng, vượt qua các bến bờ của nước Mỹ và tác động đến tâm lý năng động của châu Á.

Nhiều xã hội châu Á hiện đang hưởng lợi to lớn từ làn sóng trở về của những kiều dân được đào tạo tại phương Tây. Năm 2006, ước tính 35.000 người Ấn trở về và sinh sống tại Bangalore, một trong những trung tâm công nghệ cao đang bùng nổ của Ấn Độ. Ước tính hơn 32.000 người Anh gốc Ấn cũng đã trở về. G. Gurucharan, thuộc Bộ Hải ngoại Ấn Độ, nói: Trong những năm 1960 người ta rời bỏ đất nước thì xuất hiện từ “xuất não”. Còn nay đó lại là “nhập não”.

Theo David Zweig - giáo sư Trường đại học Khoa học và công nghệ Hong Kong, năm 2006 có 40.000 Hoa kiều đã trở về định cư tại Trung Quốc, tăng 7.000 người so với năm 1999. Tại Việt Nam, từ những năm 1990 hàng ngàn Việt kiều cũng đã trở về.

Làn sóng “nhập não” này không chỉ giới hạn trong lĩnh vực công nghệ thông tin.

Thách thức lớn nhất tiếp theo của các nước châu Á là phát triển các trường đại học lớn tại chỗ. Một bước khởi đầu đầy hứa hẹn đã được thực hiện. Năm 2006, theo phụ bản giáo dục của báo Time, trong top 100 trường đại học hàng đầu thế giới, châu Á có 14 trường, còn trong top 25 trường, châu Á có ba trường (Trường đại học Tokyo, Trường đại học Bắc Kinh và Trường đại học Quốc gia Singapore). Một bài báo trên New York Times cho biết Trung Quốc “đang thu hút một số lượng ngày càng tăng sinh viên, học giả và chuyên gia xuất sắc của các nước Đông Nam Á” như Thái Lan, Singapore và Indonesia.

Trong năm trước khi xảy ra sự kiện 11-9 (máy bay khủng bố đâm vào Trung tâm Thương mại thế giới của Mỹ), 6.250 sinh viên Indonesia nhận được visa vào Mỹ. Năm 2003, con số này là 1.333, giảm 79%. Thế nhưng, cùng năm đó 2.563 sinh viên Indonesia được nhận vào các trường đại học Trung Quốc, tăng 51% so với năm 2002.

Do sự thành công của các trường đại học châu Á, nhiều trường đại học hàng đầu của Mỹ hiện đang thúc đẩy sự hợp tác với các đối tác Trung Quốc. Sự cạnh tranh giữa các trường đại học hàng đầu của Mỹ để có sự hợp tác chính thức với các trường đại học của Trung Quốc đang lan rộng. Trường đại học Yale đang dẫn đầu cuộc đua này.

Sự gia tăng mạnh mẽ những tiếp xúc giữa trường đại học Mỹ và các đồng nghiệp châu Á của họ đang cho thấy một kết cấu mới trong đời sống trí thức mà người ta nhận thấy ở châu Á ngày nay.

Nhưng giáo dục không bao giờ chỉ là số lượng mà còn là chất lượng cùng sự táo bạo trong tư duy và tưởng tượng. Như W.B. Yeats từng nói: “Giáo dục không phải là đổ đầy một thùng chứa mà là thắp lên một ngọn lửa”. Tại châu Á, ngọn lửa ấy đã được thắp lên, dẫn đến sự bùng nổ của văn hóa tự tin. Báo Business Week cho biết theo kết quả khảo sát của Grey Global Group với những người Trung Quốc từ 16-39 tuổi ở 30 thành phố lớn (kết hợp với một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Trung Quốc với 10.000 sinh viên các trường đại học), “xu hướng chủ đạo đang xuất hiện là các thế hệ trẻ Trung Quốc tỏ ra rất tự tin vào tương lai của họ”.

Một hiện tượng bùng nổ văn hóa tự tin tương tự cũng đang diễn ra ở Ấn Độ. Cựu tổng thống Kalam nhớ có lần ông gặp một học sinh lớp 6 và cậu học sinh này hỏi ông: “Tại sao Ấn Độ không thể trở thành một nước phát triển trước năm 2020?”. Và ông nhận xét: “Đó là câu hỏi cho thấy khát vọng được sống trong một đất nước phát triển đã ăn sâu vào tâm trí của lớp trẻ như thế nào”.

Trong bài “Ấn Độ đang trỗi dậy” của mình trên báo Newsweek, Fareed Zakaria đã viết: “Đó như thể hàng trăm triệu người đột nhiên tìm thấy chìa khóa mở cửa nguồn tiềm năng của mình”. Còn Jawaharlal Nehru lại diễn tả hùng biện hơn: “Một thời khắc đang đến, nó hiếm khi đến trong lịch sử khi chúng ta bước từ cái cũ sang cái mới, khi một thời kỳ kết thúc và khi hồn đất nước lâu nay bị dồn ép, nay tìm được lời để bày tỏ”.

KHẮC THÀNH trích dịch

reading habit




I have never read a book seriously. I dun know why?

The reason may come from the bad habit when i was in the university.

The Vietnamese education style make the students become be passive ( at least, at that time). I remember that we just followed some old exam questions before our examination and then we can pass the exams with the high score without reading the books or manuals.

Now, I really want to form a reading habit seriously. How come?

Please help me!

Miss Venezuela won "the best charming performance with Vietnamese Ao Dai" in Miss Universe Competition.

As you known, The Ao Dai is a traditional custom of Vietnam. We are proud of the Ao Dai. So in the Miss Universe 2008, there is a sub-competition for all the contestants with Ao Dai.

It is surprise!. All the girls are really charming with this special traditional custom. And the Winner is Miss Venezuela after she won the other contestants from the top 5 of India, Kazakhstan, Thailand, Venezuela and Vietnam.


Miss venezuelle, the winner


Miss India


Miss Kazakhstan


Miss Thailand


And Miss Vietnam

Ao Dai Vietnam is one of "Top Ten Traditional custom" in Miss Universe


"Proud of you!"

That is the all I would like to say with you,Ao Dai & Miss Vietnam. With the unique design, Ao Dai Vietnam really shine in the traditional custom competition last night.





Why do we have to follow up?


Let's see!

curency rate changes every minute on over the world.

The price of foods and verything is growing up fastly recently.

The economy of the world is slowing down....blah, blah, blah...

But why are we worry about that? why do we have to follow up them tightly?

Forget it! build your life style by yourself.

You cannot eat so much rice, you cannot live in the big house if you are not happy!
November 2009
M T W T F S S
October 2009December 2009
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30