umh hay...
Saturday, December 12, 2009 3:15:59 PM
a. Các nguyên âm IE, UYE, YE, OA trong Hán Việt: đứng trước phụ âm cuối M, N sang on-yomi trong tiếng Nhật thì rơi mất 1 âm còn lại phát âm EN, IN, hoặc AN, trong đó nhiều nhất là âm EN. Thí dụ:
BIỆN (弁) → BEN; YẾN (宴) → EN; ĐIỀN (田) → DEN; DIÊM (塩) → EN;
KIỆN (件,健) → KEN; HIỆN (現) → GEN; VIÊN (員) → IN; VIỆN (院) → IN
QUYỂN (巻) → KAN; NGUYỆN (願) → GAN; KHUYẾN (勧) → KAN
b. Khi 2 nguyên âm trở lên đi theo nhau trong tiếng Hán Việt: On-yomi trong tiếng Nhật đa số là trường âm U hoặc O. Thí dụ:
LƯU () → RYUU; CỰU () → KYUU; HỮU () →YUU; v.v…
LAO () → ROU; TẢO () → SOU; ĐẠO () → DOU; v.v…
c. Trừ âm I và E các nguyên âm còn lại theo sau là phụ âm cuối NG, NH trong tiếng Hán Việt : on-yomi trong tiếng Nhật đa số là trường âm U hoặc O. Thí dụ :
LONG (龍) → RYUU; KHÔNG (空) → KUU; CUNG (宮) → KYUU; v.v…
VÃNG (往) → OU; CẢNH (境) → KYOU; KHẲNG (肯) → KOU
CÔNG (工,功,公) → KOU; HUYNH (兄) → KYOU; LƯƠNG (良,糧) → RYOU
ỨNG (応) → OU; v.v…
d. Âm INH và ÊNH trong tiếng Hán Việt: on-yomi trong tiếng Nhật phần nhiều là âm EI và âm OU. Thí dụ:
TINH (精) → SEI; ĐÌNH (庭,停) → TEI; NINH (寧) → NEI; NGHINH (迎) → GEI; MINH (明,盟) → MEI; LỊNH (令) → REI ; BÌNH(平)→ HEI
BÌNH(評)→ HYOU; BỆNH (病) → BYOU;
e. Những tiếng Hán Việt có phụ âm cuối là P : on-yomi trong tiếng Nhật là âm U hay O sẽ thành ra trường âm UU hay OO . Thí dụ:
CẤP (級) → KYUU; TẬP (習,集) → SYUU; NHẬP (入) → NYUU v.v…
ÁP (押) → OU; NGHIỆP (業) → GYOU; HỢP (合) → GOU v.v…
f. Những tiếng Hán Việt có phụ âm cuối là C, CH, CK: on-yomi trong tiếng Nhật thường có dạng ~KU (khi nguyên âm là A, Ă, Â, O, Ô, U, Ư, UÊ) và ~KI (khi nguyên âm là I). Thí dụ:
CÁC (各) → KAKU; CÁCH (格) → KYAKU; BÁCH (百) → HYAKU; BẠC (泊,薄) → HAKU; TỘC (族) → ZOKU, TRỰC (直す) → CHOKU, DƯỢC (薬) → YAKU, ỨC (億,憶) → YOKU;
TỊCH (席) → SEKI, ĐỊCH (敵) → TEKI, ÍCH (益) → EKI, TRÍCH (滴,摘) → TEKI, v.v…
g. Những tiếng Hán Việt có phụ âm cuối là T: on-yomi trong tiếng Nhật thường có dạng ~TSU. Thí dụ:
PHÁT (発) → HATSU, THUYẾT (説) → SETSU, CHẤT (質) → SHITSU, TOÁT (撮) → SATSU, SÁT (殺) → SATSU, XUẤT (出) → SHUTSU, MẠT (末) → MATSU, v.v…
h. Như vậy các chữ Hán Việt có âm đọc giống nhau thì on-yomi trong tiếng Nhật giống nhau là điều dễ thấy. Thí dụ:
VIÊN (円、園), VIỆN (援), VIỄN (遠), … đều đọc là EN
DIÊM (塩), DUYÊN (沿), DIỄN (演), DIÊN (延), … cũng đọc là EN
HUYỆN (県), HUYỀN (懸), QUYỀN (権), KHUYỂN (犬), … đều đọc là KEN
KIỆN (件,健), KIẾN (見), KIÊN (堅), HIỀM (嫌), HIỂM (険), … cũng đọc là KEN
BIỆN (弁) → BEN; YẾN (宴) → EN; ĐIỀN (田) → DEN; DIÊM (塩) → EN;
KIỆN (件,健) → KEN; HIỆN (現) → GEN; VIÊN (員) → IN; VIỆN (院) → IN
QUYỂN (巻) → KAN; NGUYỆN (願) → GAN; KHUYẾN (勧) → KAN
b. Khi 2 nguyên âm trở lên đi theo nhau trong tiếng Hán Việt: On-yomi trong tiếng Nhật đa số là trường âm U hoặc O. Thí dụ:
LƯU () → RYUU; CỰU () → KYUU; HỮU () →YUU; v.v…
LAO () → ROU; TẢO () → SOU; ĐẠO () → DOU; v.v…
c. Trừ âm I và E các nguyên âm còn lại theo sau là phụ âm cuối NG, NH trong tiếng Hán Việt : on-yomi trong tiếng Nhật đa số là trường âm U hoặc O. Thí dụ :
LONG (龍) → RYUU; KHÔNG (空) → KUU; CUNG (宮) → KYUU; v.v…
VÃNG (往) → OU; CẢNH (境) → KYOU; KHẲNG (肯) → KOU
CÔNG (工,功,公) → KOU; HUYNH (兄) → KYOU; LƯƠNG (良,糧) → RYOU
ỨNG (応) → OU; v.v…
d. Âm INH và ÊNH trong tiếng Hán Việt: on-yomi trong tiếng Nhật phần nhiều là âm EI và âm OU. Thí dụ:
TINH (精) → SEI; ĐÌNH (庭,停) → TEI; NINH (寧) → NEI; NGHINH (迎) → GEI; MINH (明,盟) → MEI; LỊNH (令) → REI ; BÌNH(平)→ HEI
BÌNH(評)→ HYOU; BỆNH (病) → BYOU;
e. Những tiếng Hán Việt có phụ âm cuối là P : on-yomi trong tiếng Nhật là âm U hay O sẽ thành ra trường âm UU hay OO . Thí dụ:
CẤP (級) → KYUU; TẬP (習,集) → SYUU; NHẬP (入) → NYUU v.v…
ÁP (押) → OU; NGHIỆP (業) → GYOU; HỢP (合) → GOU v.v…
f. Những tiếng Hán Việt có phụ âm cuối là C, CH, CK: on-yomi trong tiếng Nhật thường có dạng ~KU (khi nguyên âm là A, Ă, Â, O, Ô, U, Ư, UÊ) và ~KI (khi nguyên âm là I). Thí dụ:
CÁC (各) → KAKU; CÁCH (格) → KYAKU; BÁCH (百) → HYAKU; BẠC (泊,薄) → HAKU; TỘC (族) → ZOKU, TRỰC (直す) → CHOKU, DƯỢC (薬) → YAKU, ỨC (億,憶) → YOKU;
TỊCH (席) → SEKI, ĐỊCH (敵) → TEKI, ÍCH (益) → EKI, TRÍCH (滴,摘) → TEKI, v.v…
g. Những tiếng Hán Việt có phụ âm cuối là T: on-yomi trong tiếng Nhật thường có dạng ~TSU. Thí dụ:
PHÁT (発) → HATSU, THUYẾT (説) → SETSU, CHẤT (質) → SHITSU, TOÁT (撮) → SATSU, SÁT (殺) → SATSU, XUẤT (出) → SHUTSU, MẠT (末) → MATSU, v.v…
h. Như vậy các chữ Hán Việt có âm đọc giống nhau thì on-yomi trong tiếng Nhật giống nhau là điều dễ thấy. Thí dụ:
VIÊN (円、園), VIỆN (援), VIỄN (遠), … đều đọc là EN
DIÊM (塩), DUYÊN (沿), DIỄN (演), DIÊN (延), … cũng đọc là EN
HUYỆN (県), HUYỀN (懸), QUYỀN (権), KHUYỂN (犬), … đều đọc là KEN
KIỆN (件,健), KIẾN (見), KIÊN (堅), HIỀM (嫌), HIỂM (険), … cũng đọc là KEN






