VĂN CHƯƠNG VÀ ĐẠO PHÁP

CÓ DUYÊN CÁCH XA NGÀN DẶM VẪN ĐỒNG CẢM - KHÔNG CÓ DUYÊN ĐỐI DIỆN VỚI NHAU VẪN NHƯ KHÔNG GẶP

Subscribe to RSS feed

Sticky post

NGÔI CHÙA YÊU DẤU

Ngôi chùa cũ Bửu Minh, có cây đa trên trăm tuổi. Cây vẫn vô thường như mọi hiện tượng khác, cây tự chết. Với du khách,và nhất là bà con Phật tử ở quê hương Biển Hồ trà không ai là không biết không nhớ đến cây đa, nhất là khi xa quê, nỗi nhớ đó còn da diết sâu lắng hơn. Bởi vậy cây đa trong cõi nhớ những người con lưu lạc vẫn mãi hoài hiện hữu, không bao giờ chết .[/COLOR]


NGÔI CHÙA YÊU DẤU


Bửu Minh chốn cũ đi về
Ngàn khơi gió lộng bốn bề trà xanh
Cây đa rợp bóng thiên thanh
Cho con tịnh lạc an lành đi lên
Về đây con có mẹ hiền
Đưa con qua tận suối miền uyên nguyên
Con về lội khắp sơn xuyên
Trồng hoa trên đá an nhiên ngắm nhìn
Con về còn trọn niềm tin
Câu kinh Không Sắc xoá nghìn thương đau
Về đây sương trắng mái đầu
Chợt nghe chim hót nhiệm mầu tử sinh
Giác Tâm
[/COLOR]

Tản mạn Cà Phê Phố Núi .

Trong tâm thức của mỗi người đều có một quê hương riêng. Có người coi trái đất là quê hương mình, có người coi Tổ Quốc mình là quê hương mình, có nguời coi Tỉnh mình là quê hương mình, có người coi nơi mình chôn nhau rốn là quê hương mình. Tâm tôi không to rộng, nên tôi chỉ coi phố núi Pleiku là quê hương mình. Quê hương với bao ân tình kỷ niệm, ngồi bên tách cà phê, nhắm mắt lại là từng con người, dãy phố, con đường ở Pleiku hiện ra.
Nhắc đến cà phê, chúng ta vô cùng cảm ơn, nhớ ơn Đức Phật, hai ngàn sáu trăm năm trước Ngài đã không cấm đệ tử mình uống cà phê, Ngài chỉ cấm uống rượu và các thức uống gây say khác. Bởi Thầy mình không cấm, nên ngày hôm nay các Tăng sĩ phật giáo ngồi nhâm nhi ly cà phê công khai, chứ nếu Phật cấm thì không công khai được đâu, chỉ tìm cách uống lén thôi.
Diện tích trồng cà phê ở Pleiku - Gia Lai chỉ thua Đắc Lắc - Buôn Mê Thuột, và có lẽ cà phê ở Pleiku không ngon bằng cà phê Ban Mê Thuột, có thể do chất đất, có thể do cách sao tẩm, chế biến chưa đạt đến đỉnh cao. Cả nước khi nhắc đến cà phê là liên tưởng đến Ban Mê Thuột, ít khi liên tưởng đến Pleiku. Bởi các doanh nghiệp trồng cà phê, chế biến cà phê Pleiku – Gia Lai chưa có dịp cùng với các vị lãnh đạo, văn nghệ sĩ, dân ghiền cà phê tỉnh nhà ngồi lại với nhau, cùng uống cà phê, cùng trao đổi, cùng thổi hồn, thổi nghệ thuật, thổi triết lý nhân sinh vào cho từng giọt cà phê, để cà phê trở thành một thứ Đạo, như Trà Đạo, tại sao ta không biến thú vui tao nhã là uống cà phê, thành cà phê Đạo.
Ừ cũng vui lắm chứ, cũng thú vị lắm chứ !
Ngày xưa khi đất nước chưa công nghiệp hoá, chưa hiện đại hoá, con người tiêu thụ ít hơn, có nhiều thời gian hơn ta cùng với bạn lành ngồi bên tách cà phê phin, trong một buổi sáng sương mù lãng đãng trong một quán cà phê vỉa hè, vừa uống vừa nghe nhạc Trịnh với chiếc máy đĩa to đùng, nhìn mọi người lướt qua nhẹ nhàng, không vội vã không hấp tấp, do vậy ta cũng bình tĩnh hơn để nhắp ly cà phê, tương tác mà. Đức Phật dạy: ” Cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không. Cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt”. Thiên hạ mà vội vội vàng vàng thì ta cũng vội vội vàng vàng theo, chế một ly cà phê tốc hành uống vội rồi đi, đi như bị ma đuổi, đi mà không biết mình đi về đâu.
Bên tách cà phê buổi sáng, sương mù giăng giăng khép nẻo, cùng với tiếng vó ngựa lốc cốc trên mặt đường, đường trồng nhiều cây thông, ta nghe lòng thanh thản, thư giản. Nhìn từng giọt cà phê rơi ! rơi ! nhè nhẹ rơi ! Ta thấy như giọt thời gian rơi vào hư vô, nhắc ta phải làm gì, biết mình phải làm sao trong cuộc đời này. Mình từ đâu đến và chết rồi sẽ đi về đâu. Không có cái gì bỗng dưng mà có, không có cái gì bỗng dưng mà không, tất cả là nhân duyên trùng điệp. Giọt cà phê này từ đâu mà có, uống vô bụng rồi thì đi về đâu. Có thiệt là uống vô bụng rồi thì mất hẳn ? Khi buồn ta uống cà phê để suy gẫm, suy gẫm vì sao đời mình lao đao lận đận, vì sao cuộc tình nào đến với mình rồi cũng vỗ cánh bay, vì sao mình cứ chối bỏ quê hương, vì sao tháng năm biền biệt chưa về thăm cha già mẹ yếu, em thơ….. Khi vui ta uống cà phê và ta nhận diện ra rằng không có gì hạnh phúc bằng giây phút hiện tại, ta an lạc với giây phút này, bởi ta không biết trân quý giây phút này, thì biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao.
Tôi không ghiền cà phê, nhưng tôi có uống, bởi có thói quen suy tưởng nên ghi lại đây vài dòng tâm tư tản mạn, để tặng mình và tặng thân hữu gần xa.

Pleiku , đầu xuân Canh Dần.
Thích Giác Tâm


Con mắt còn lại

Thi sĩ Bùi Giáng xuất khẩu thành thơ, ông sống trong cõi giới riêng ông, trong hư tưởng mông mênh lạ kỳ, nên khi lời thơ ông thốt ra, với chúng ta có khi rất bỡ ngỡ xa lạ, khó hiểu. Ta cố hiểu, rán hiểu về ông, tuy vậy cũng chưa chắc đúng ý ông. Thôi thì cứ mỗi người một cách mà cảm nhận, mà hiểu. Thơ hai câu của ông rất nhiều, tôi chỉ nhớ được vài câu thôi :
Em ơi em đẹp vô cùng, vì em có cái lạ lùng bên trong.
Đi tu thứ nhất ở chùa,
Thứ nhì ở tận cuối mùa lang thang.
Dược Sư thơ mộng vô vàn,
Sầu lên vút tận mây ngàn tần thân.

Read more...

Tiếng chuông xứ Huế

Tiếng chuông xứ Huế
Thích Giác Tâm




Trong chúng ta, phần đông ao ước được một lần đến Huế, để nhìn tận mặt, để nghe tận tai, Huế là ai, Huế là gì, Huế thơ mộng sâu lắng như thế nào, mà nói hoài nói mãi vẫn không hết. Viết về Huế là dịp để thể hiện mình, để cùng thơm, cùng thơ, cùng lãng mạn với Huế.
Cũng giống như khi ta viết về một chút kỷ niệm với Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn, bài viết dù không hay mấy nhưng khi đọc xong độc giả cũng mỉm cười chấp nhận, bởi vì ngay trong bài viết đã có bóng hình nhân ảnh của Bùi Giáng, của Trịnh Công Sơn.
Với tôi, Huế như người thân ruột thịt, ngày thọ giới lớn, tôi thọ giới tại Đại Giới Đàn chùa Báo Quốc, những năm tháng ốm đau nằm chữa bệnh ở nhà Cư Sĩ Lê Quý Ngưu - Trần thị Như Đức ở An Cựu, những năm tháng Huế thăng trầm tôi có đến, đến ăn Tết. Chứng kiến cảnh chùa Huế trong ba ngày Tết cắt một nải chuối rời ra, mỗi bàn đơm vài trái, đền đài lăng tẩm rêu phong, không mấy người lui tới. Huế đã dạy cho tôi bài học vô thường, bài học chịu đựng vươn lên từ trong gian khổ bão giông. Huế nay đã thay da đổi thịt bằng con đường giữ gìn văn hoá ông cha, Huế trở thành thành phố cấp một, thành phố luôn tổ chức Festival, nơi giao lưu văn hoá đông tây. Huế luôn nhớ ơn đền ơn, đã xây đền Huyền Trân công chúa ở Núi Ngũ Phong, thôn Ngũ Tây, xã Thuỷ An, khói hương nghi ngút, bái vọng tháng ngày. Huế ơi biết nói sao cho vừa. Ngoài những ân tình kỷ niệm vừa mới nêu, trong tôi Huế còn có tiếng chuông chùa.
Năm 1980 tôi thọ giới tại Huế, một buổi sáng tôi cới xe đạp đi từ chùa Bảo Quốc về đàn Nam Giao, lúc đó khoảng 3 giờ 30 đến 04 giờ sáng, tiếng chuông chùa đây đó đồng loạt thỉnh lên, trong thành phố và ngoại vi Huế có hơn 100 ngôi chùa lớn nhỏ, Trên một trăm quả chuông Đại Hồng Chung (xin được viết tắt ĐHC) lớn nhỏ khác nhau, chuông xưa có, chuông mới đúc có, nên âm thanh khác nhau. Chuông Huế có một đặc điểm khác với chuông đúc ở địa phương khác, dù là chuông xưa hay chuông nay, đều âm trầm sâu lắng mang âm hưởng tính tình của người đúc, của cư dân địa phương. Người nghệ nhân đúc chuông xứ Huế, hầu hết là Phật tử, mà đã là Phật tử thì luôn quý kính Tam Bảo, có tu có học với sự hướng dẫn của chư Tăng, nên cách đi đứng nói cười sinh hoạt của nghệ nhân Phường Đúc nói riêng và của cộng đồng Phật tử xứ Huế nói chung có tĩnh lặng, khoan thai, có chất thiền. Bề ngoài là biểu hiện của nội tâm, tâm có Đạo, có ung dung, tĩnh tại thì khi hành nghề sản phẩm cũng tĩnh tại, nhu hoà, phẩm chất, người nghệ nhân Phật tử luôn chú ý đến chất lượng chứ không phải số lượng. Do vậy tiếng chuông chùa Huế buổi sáng như một dàn hợp âm với nhiều cung bậc khác nhau. Tiếng ĐHC chùa Từ Đàm vừa thỉnh lên, thì tiếp theo tiếng ĐHC chùa Báo Quốc, rồi nối nhau tiếng chuông chùa Linh Quang, Hiếu Quang, Hải Đức, Châu Lâm, Từ Hiếu, Bảo Lâm, Kim Tiên, Tường Vân.v.v...Những âm thanh trầm lắng u viễn kia cứ đan xen lại với nhau, khởi đầu thì khoan thai, chậm rải, càng về sau càng thúc dục như âm điệu kết thúc của bài Kinh Bát Nhã: Gate Gate Paragate Parasamgate Bodhi Svaha.
Bởi chùa nào cũng có một Đại Hồng chung, nên triêu mộ chuông được thỉnh lên. Khi thỉnh chuông, chùa tự nhắc nhở chính mình phải luôn tỉnh thức, phải trên thì cầu Phật đạo, dưới phải đem giáo pháp từ bi yêu thương đến với mọi người, cầu cho quốc thái dân an, thế giới hoà bình, chúng sanh an lạc, kẻ âm siêu thoát người dương an lành. Và ngoài kia, ngoài không gian tĩnh lặng của nhà chùa, là cả một thế giới bao la trần luỵ, não phiền của cõi người ta, tiếng chuông là thông điệp kêu gọi chúng ta trở về với tính thiện có sẵn ở nơi mình, đưa thân và tâm chúng ta hợp nhất:
Nguyện tiếng chuông này vang pháp giới
Khắp nơi u tối mọi loài nghe
Siêu nhiên vượt thoát vòng sanh tử
Giác ngộ tâm tư một hướng về
Nghe chuông phiền não tan mây khói,
Ý lặng thân an miệng mỉm cười.
Hơi thở nương chuông về chánh niệm
Vườn tâm hoa tuệ nở xinh tươi
Để có được tiếng chuông trầm ấm sâu lắng lan toả trong không gian bao la vô tận, thức tỉnh lòng người kia, người nghệ nhân Phường Đúc phải làm sao? Phải làm gì? Phải sống như thế nào để khi đúc ra có được tiếng chuông gọi là chuông Huế? Chúng ta thử tìm hiểu:
Đức Phật dạy Tâm và Vật không hai, Tâm và cảnh nhất như, tương dung tương nhiếp lẫn nhau, cụ Nguyễn Du cũng đã phát biểu “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Người nghệ nhân đúc chuông, ngoài tay nghề cha truyền con nối, phải lấy chữ Tâm làm đầu. Lỡ nhận Đại Hồng Chung (ĐHC) trong lúc giá đồng hạ, đột biến giá đồng tăng, đành cam chịu. Không phải giá đồng tăng mà làm tắc trách trong công việc, hoặc pha đồng tạp nham, nếu vậy ĐHC sẽ không có tiếng. Các cơ sở đúc ĐHC ở phường đúc rất nhiều, có cơ sở làm không hết việc, cũng có cơ sở rất ít khách. Qua tìm hiểu chúng tôi biết được, cơ sở nào mà người chủ biết tu tập, biết trân quý tiếng chuông xứ Huế, biết bảo lưu vốn quý của ông cha, cơ sở đó không đặt lợi nhuận lên hàng đầu, chỉ mong sao khi ĐHC đúc xong, có âm thanh thanh thoát trầm ấm, tiêu biểu được cho tiếng chuông xứ Huế. Muốn có tiếng ĐHC hay, người nghệ nhân luôn tưởng nhớ Phật, bởi Phật là người Giác Ngộ, là người tỉnh thức và tiếng chuông là tiếng tỉnh thức, kêu gọi mọi người quay về với sự tỉnh thức. Không để tâm đến sự ăn chay, ăn uống không kềm chế, trước ngày rót đồng mà ăn uống bù khú, say sưa. Ngày hôm sau rót đồng tiếng ĐHC rất khó mà hay, mặc dù công thức pha đồng với thiết đúng tỷ lệ, lửa đốt lò với nhiệt độ chuẩn….
Nơi chùa tôi đang ở còn giữ được một ĐHC khoảng 300 kg, đúc năm 1966 tại Phường Đúc, Huế, âm thanh khi thỉnh lên tiếng trong và thanh, ngân vang rất lâu, tựa như trong ĐHC có vàng, từ lâu tôi cứ đinh ninh tiếng ĐHC hay là tuỳ thuộc số vàng bỏ vào khi đúc chuông nhiều hay ít. Vậy mà mới đây thôi, chùa chúng tôi được gia đình đạo hữu Trần Kỳ, pháp danh Nhật Bích. Cao thị Phượng pháp danh Đồng Hoàng cúng dường cho chùa một quả ĐHC nặng 900 kg, chúng tôi có đến lò đúc của cụ Nguyễn văn Sở pháp danh Nguyên Tại, ở thôn thượng 4, Thuỷ Xuân, Thành Phố Huế liên hệ đúc, qua vài lần trao đổi tìm hiểu cụ cho biết không phải bỏ nhiều vàng khi rót đồng là ĐHC tiếng hay. Vàng là vật quý trong đời sống, biểu thị đức tin của mình không gì bằng cúng dường vàng khi đúc chuông hay tạo tượng do vậy thập phương Phật tử thích cúng dường bằng cách này. Tiếng chuông hay là ở tỷ lệ pha chế giữa đồng tốt không tạp chất và thiết, cách làm khuôn không dày mỏng chênh lệch nhau, khi nấu đồng bằng mắt thường vẫn phải cảm nhận được nhiệt độ khi nấu, bằng trực quan, bằng kinh nghiệm nghề nghiệp Tổ truyền, và hơn hết vẫn là cái Tâm của người nghệ nhân thì tiếng chuông ĐHC sẽ hay.
Nhìn hình ảnh một cụ già 76 tuổi, mặc chiếc áo tràng màu lam, bạc thếch, lúi húi cắm hoa, chưng trái cây trên bàn Phật, bàn Tổ nghề đồng, rồi tụng kinh lạy Phật lạy Tổ trước ngày rót đồng đúc ĐHC, tôi đã hiểu được vì sao cơ sở cụ Nguyễn văn Sở được các chùa trong nước, ngoài nước biết đến, tìm đến nhờ cụ đúc cho một quả chuông ĐHC để kỷ niệm, thâm tâm các vị trụ trì, các vị phụ trách các cơ sở tự viện sợ cụ ra đi, những người thừa kế không còn được cái Tâm như cụ.
T.G.T

Viết về cháu Khôi Nghĩa nhân mùa Vu Lan

Viết về cháu Khôi Nghĩa nhân mùa Vu Lan

Từ khi loài người có mặt ở hành tinh màu xanh này, tình mẹ con đã có mặt. Các loài có tình thức đều có tình cảm đó, nhưng rõ nét và dễ nhận diện vẫn là tình mẹ con trong cõi giới người ta. Văn chương thơ ca từ xưa đến nay không biết bao nhiêu bài viết về tình mẹ, viết hoài vẫn không hết, vẫn mới, vẫn rung cảm sâu xa. Ai đó mà biết nhớ ơn mẹ, thương mẹ từ trong tâm cảm, lời thốt ra đều rung động lòng người. Có trường hợp lời không nói ra, chỉ trầm tư sâu lắng, vén mảnh y vàng quỳ xuống cúi lạy đống xương hỗn tạp bên đường, mà trong đó chắc có hài cốt của ông bà cha mẹ mình trong nhiều đời kiếp, luân hồi bất tận, tử tử sanh sanh. Hình ảnh của trái tim yêu thương nhân thế và biết ơn đền ơn kia chính là Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni. Hình ảnh đó mỗi khi nghĩ đến đã khiến ta rơi lệ, khơi gợi cho chúng ta biết nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục suốt hơn hai ngàn năm qua.

Tình mẹ vô cùng thiêng liêng, cao quý, dùng mỹ từ hữu hạn của con người diễn tả thế nào cũng không nói hết tình mẹ. Mẹ là chuối ba hương, xôi nếp một , đường mía lau, là bao la như biển thái bình, là tơ trời Đâu La Miên, là vầng thái dương vừa loé lên trong những ngày giông bão, là sợi dây của chiếc diều căng gió lộng giữa bầu trời mênh mông mênh mang……Mẹ là vậy nhưng mà đây đó ( số ít ) cũng có người bỏ con bơ vơ, chạy theo ảo ảnh. Làng Tiên Sơn bên kia dòng sông cạnh chùa, có ai đó bỏ cháu mới lọt lòng mẹ một hai ngày, nhau rốn còn lòng thòng máu me nơi nghĩa trang. Năm ngoái nơi bìa rừng sau chùa ai đó bỏ một cháu còn đỏ hỏn, kiến bò lên đầy cả hai mắt, may mà có người gặp đem về dưỡng nuôi…Và đây là câu chuyện của bé Khôi Nghĩa :

Mùa Phật Đản ở cao nguyên là mùa mưa, năm nào cũng vậy tổ chức tuần lễ Phật Đản rất tốn công sức tiền của, nếu có làm xe hoa, lễ đài. Trong sâu xa ở cõi lòng những người con Phật luôn cầu nguyện, tối 14 sáng rằm trời đừng có mưa để cho xe hoa diễu hành, có năm trời chiều lòng người, nhưng có năm trời mưa vẫn cứ mưa, tuy vậy sức mạnh tinh thần vượt thắng tất cả , trong mưa xe hoa vẫn hân hoan diễu hành, dòng người vẫn bất tận, cha mẹ chở con cầm cờ nhỏ ngũ sắc đội mưa đi theo đoàn xe hoa cổ động reo hò cho ngày Đức Phật đản sanh. Xe hoa có nhiều mà con người tham gia cùng đoàn xe hoa quá ít, sẽ làm cho buổi lễ tẻ nhạt, “người ngoài cười nụ người trong khóc thầm”. Cái mệt trong tuần lễ Phật Đản cũng nhiều, nhưng niềm hân hoan cũng không ít, tối rằm mọi vui buồn mệt nhọc rồi cũng trôi qua. Từ 08 giờ đến 12 giờ đêm trời mưa liên lỷ, kéo dài, khoảng 1giờ sáng trời quang mây tạnh trăng sáng vằng vặc, trong cái tĩnh lặng của đêm hè, bỗng chuông điện thoại reo, tôi ngái ngủ cầm điện thoại lên bên kia đầu giây một giọng nữ thổn thức sụt sịt :” Lạy Thầy con là một người mẹ bất hạnh, có con mà không nuôi được con vì hoàn cảnh, xin Thầy cưu mang nuôi dưỡng cháu dùm con, con để cháu trước cổng chùa, Thầy ra mau lên ẵm cháu vô chùa dùm con”. Tim tôi đập loạn xạ, run rẩy đi gọi chúng điệu trong chùa và các Phật tử làm công quả dậy ra cổng Tam Quan chùa bồng cháu vào. Lúc bấy giờ là 1giờ 30 sáng, mẹ cháu đem theo cho cháu rất nhiều quần áo tả lót, cả sữa và bình bú nữa. Nằm trên nắp giỏ bằng nhựa, nghe tiếng người cháu khóc lên, trong đêm trường tĩnh mịch của một ngôi chùa núi, bốn bề vắng vẻ tịch liêu, tiếng trẻ khóc làm tim tôi nhói đau, tôi bế cháu lên mà nước mắt lã chã , chạy vô phòng đặt cháu lên giường, cháu lại khóc thét lên, tôi vội vàng pha sữa, sữa nhiều nước ít cháu uống không được lại sựa ra, lần thứ hai nước mắt tôi lại chảy. Bên trong ngực của cháu có lá thư, nội dung cũng giống như lời lẽ nói chuyện với tôi qua điện thoại, đọc thư được biết cháu vừa đúng một tháng 3 ngày. Mẹ cháu chưa đặt tên, và tôi đã nghĩ đến cái tên đặt cho cháu sau này.

Làm Thầy hay làm cha mẹ ai cũng mong muốn kỳ vọng vào tương lai của con mình, đệ tử mình. Đặt tên là bày tỏ ước vọng đó, tôi đặt tên cho cháu là Nguyễn Nhân Nghĩa. Nhân: được mọi người yêu mến.Nghĩa: được mọi người trung. Nhưng khi trình báo với chính quyền địa phương, vị cán bộ công an lập biên bản trường hợp trẻ bị bỏ rơi viết chữ Nhân khó đọc quá, vị cán bộ hộ tịch đọc chữ Nhân thành chữ Khôi, khi nhận giấy khai sinh cho cháu tôi thấy chữ lót của cháu đã khác,tôi có nói về chuyện đó, vị cán bộ hộ tịch nói để làm lại. Tôi tra lại tự điển Hán Việt thấy nghĩa chữ Khôi:” Cái gì mất mà tìm lại được là Khôi, như khôi phục”. Tôi yên tâm như vậy là được rồi, Nhân Nghĩa thời nay đã mất đi, mai một nhiều lắm rồi, làm cách nào để khôi phục lại cái Nhân Nghĩa đã mất kia là một chuyện đáng làm, do vậy tên cháu bây giờ là Nguyễn Khôi Nghĩa. Cháu khuôn mặt chữ điền, vầng trán cao rộng, tai to có thuỳ châu, mắt một mí, mũi tẹt mà trống, miệng rộng và luôn cười, mỗi khi cười có hai hạt gạo bên khoé miệng. Tóm lại không đẹp mà dễ thương, ai nói chuyện cháu cũng cười không phân biệt, bình đẳng khi ban phát nụ cười nên được nhiều Phật tử thương mến.

Tôi đã hiểu ra vì sao khi về già văn hào Victo Hugo, chỉ biết sống cho cháu vì cháu, và làm rất nhiều thơ cho cháu. Ông rất hạnh phúc và tự hào tuổi già của mình đã có những đứa cháu yêu quý. Tôi cũng vậy chăm sóc nuôi dưỡng cháu, và các cô chú công quả lớn tuổi, và cả điệu chúng trong chùa ai cũng cảm thấy hạnh phúc khi được ẵm bồng, nựng nịu cháu. Chúng ta yêu trẻ là yêu cái hồn nhiên ngây thơ của chúng, khi cái tham, cái sân, cái si của chúng còn tiềm ẩn trong tàng thức chưa hiển lộ rõ ràng như khi lớn. Tổ Tỉnh Am có nói trong Văn khuyên phát tâm Bồ Đề một câu như thế này “ Nhỏ thì ngây ngô không biết gì, lớn lên tham dục liền sanh”. Ta yêu trẻ bởi vì trẻ ngây ngô, có cái cười không phân biệt, ta yêu một bậc chân tu cũng là vì lẽ ấy, tu cho giỏi cho đàng hoàng, có giới, có định, có tuệ, ta cũng có nụ cười đẹp như trẻ thơ, có nụ cười bình đẳng ban phát cho tất cả không phân biệt thân sơ.
Chúng tôi có đôi lúc cũng buồn cười, nghĩ về tương lai đạo pháp luôn có những suy tưởng viễn vông. Ngồi một mình có đôi lúc tôi mơ màng nghĩ đến chuyện đời xưa. Ngày xưa đất nước chúng ta có vua Lý Thái Tổ ( Lý Công Uẩn ) là một vị minh quân hết lòng vì dân vì nước, thương yêu dân như con ruột của mình. Vì sao được như vậy ? Bởi vì chú bé Lý Công Uẩn cũng được mẹ bỏ trước cổng chùa, được Thiền sư Lý Khánh Văn nhận làm con nuôi, và sau này lớn khôn được Thiền Sư Vạn Hạnh dạy dỗ, hấp thụ tinh thần từ bi khoan hoà của Đạo Phật nên khi lớn lên, lịch sử sang trang làm vua mà yêu dân như con đẻ của mình. Thiền Sư Ô Sào ( Ô là quạ, Sào là tổ ) một cao tăng, sống vào đời Đường Trung Quốc, cũng được mẹ bỏ trong tổ quạ trước chùa, tu hành nghiêm túc sau này trở thành một Thiền Sư lừng lẫy trong lịch sử Thiền Tông Trung Quốc. Ngài có một giai thoại:”Dấu ấn tuổi thơ được mẹ bỏ trong tổ quạ trước chùa, nên sau này làm Thiền Sư ngài luôn ngồi Thiền trên cây ( chỗ ngồi Thiền trên cây Ngài làm giống như một tổ quạ ) có lần thi sĩ Bạch Cư Dị đi ngang qua ngước mặt hỏi Ngài:” Bạch Sư ! Bí quyết của Phật Pháp là gì?” Ngài trả lời:”Các điều ác không làm - Các điều thiện luôn thực hiện - Tự làm trong sạch tâm mình - Đó chính là lời Chư Phật dạy” Thi Sĩ Bạch Cư Dị tỏ ý không vui:” Câu Ngài vừa trả lời tôi trẻ lên ba cũng thuộc”. Thiền Sư Ô Sào cười nói tiếp:” Trẻ lên ba học thuộc nhưng ông già 80 tuổi vẫn không làm được” .

Lịch sử là một dòng chảy bất tận không dừng, không ai biết được ai sau này sẽ làm nên lịch sử. Khéo nuôi dưỡng đào tạo, cọng với âm đức của cha mẹ của người nuôi dưỡng, vụng cũng thành khéo, thông minh trung bình cũng có thể làm nên. Chủ quan, phó mặc không tin nhân quả tội phúc trong khi nuôi dưỡng con, có khi khéo trở thành vụng, thông tuệ trở thành kẻ phá hoại, nặng gánh cho gia đình và xã hội. Ở bầu thì tròn ở ống thì dài, gần mực thì đen gần đèn thì sáng cũng từ ý nghĩa đó.

Vô thường đến đi, ai kịp hẹn ai. Tôi nay đã hơn tuổi ngũ thập tri thiên mạng. Đời người chỉ trong một hơi thở như lời Đức Phật dạy, hơi thở dừng lại trong tích tắc sát na, đã qua đời khác. Nhân mùa Vu Lan Báo Hiếu viết những dòng chữ này để tặng cho những ai diễm phúc còn mẹ, và cũng nhớ đến mẹ cháu, một người mẹ bất hạnh, không được ẵm bồng nâng niu con, nghe hơi thở thơm mùi sữa của con, được nhìn thấy con cười, được dỗ dành khi con khóc. Chúng tôi không trách móc, chỉ cố hiểu để thương, trong chúng ta có nhiều người lâm vào trường hợp bỏ thì thương vương thì tội, và luôn tâm niệm sau này cháu lớn khôn, kể về mẹ cháu bằng những lời lẽ thương mến cảm thông nhất. Và riêng tôi ngộ nhỡ vô thường đến bất kỳ, rất mong cháu Nguyễn Khôi Nghĩa được chư vị hữu tâm nuôi giáo dục cháu , biết đâu chuyện đời xưa được lập lại, hi hi .

Mùa Vu Lan Phật Lịch 2554-dl 2009
Chùa Bửu Minh, Gia Lai
Thích Giác Tâm









PHẬT GIÁO ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ TÔN GIÁO VĨ ĐẠI NHẤT THẾ GIỚi



PHẬT GIÁO ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ TÔN GIÁO VĨ ĐẠI NHẤT THẾ GIỚI

Qua giải thưởng Leading Figure hằng năm về nhân vật tôn giáo đã đóng góp cho nhân loại và hòa bình, Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm Linh đóng tại Geneva, Thụy Sĩ (ICARUS) đã quyết định bầu chọn và trao tặng một giải thưởng đặc biệt năm nay cho cộng đồng Phật giáo
Hans Groehlichen, chủ tịch Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm Linh (ICARUS) đã phát biểu trong hội thảo vào ngày thứ hai vừa qua: “Chúng tôi đã tổ chức nghiên cứu theo mạng rada, đồng thời tổ chức của chúng tôi đánh giá trên một tinh thần công bằng về những giá trị truyền thống. Chúng tôi đã trải qua phân tích từng tôn giáo để bình chọn và trao giải thưởng cho một tôn giáo vĩ đại nhất thế giới (Best Religion in the World). Qua đó chúng ta cổ vũ và khuyến khích những nhà lãnh đạo tôn giáo khác thấy được những ích lợi trong việc thực hành hạnh từ bi.”
Groehlichen cho biết rằng giải thưởng được thông qua do một hội đồng quốc tế hơn 200 nhà lãnh đạo tôn giáo làm việc và đánh giá từng phần tâm linh về một tôn giáo. Ông nói: “Thật là tuyệt vời khi chúng tôi cùng đưa ra một tiêu chuẩn, nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo khác đã bình chọn Phật giáo. Phật giáo thực sự chỉ là một số ít trong hội đồng của chúng tôi, nhưng tôn giáo của họ thật tuyệt vời, hoàn toàn hấp dẫn và họ đã xứng đánh nhận được giải thưởng vinh dự này.”
Tiêu chuẩn bao gồm nhiều mặt chẳng hạn như đề cao giá trị con người và hòa bình, lòng từ bi và ý nghĩa của tinh thần không phân biệt, khuyến khích bảo tồn thiên nhiên. Ông Groehlichen nói tiếp: “Một thông điệp lớn nhất cho chúng tôi là Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm Linh (ICARUS) thành lập vì tâm linh và nhân loại, mang thông điệp bất bạo động (non-violence) dâng hiến cho xã hội. Một chìa khóa giải đáp cho chúng tôi trong tiến trình bình chọn là một tôn giáo đích thực phải thực hành bất bạo động.”
Khi đề ra phương hướng tiến hành bình chọn cho các thành viên trong hội đồng bình chọn, Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm Linh (ICARUS) đã nghiên cứu 38 tôn giáo khác nhau trên toàn cầu, đưa ra tiêu chuẩn, sự cống hiến của một tôn giáo, triết học, và vai trò tôn giáo trong lãnh vực điều hành và phúc lợi. Trưởng ban nghiên cứu của Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm Linh (ICARUS), ông Jonna Hult nhận xét: “Quả thật không ngạc nhiên với tôi khi Phật giáo là đại biểu xứng đáng danh hiệu Tôn Giáo Tuyệt Vời Nhất Toàn Cầu (Best Religion in the World), bởi vì chúng tôi đã tìm thấy Phật giáo truyền bá không bao giờ có sự can thiệp của vũ lực, ngược lại những tôn giáo khác dường như đi qua xa với tinh thần bất bạo động. Chúng tôi thật sự có một ấn tượng sâu sắc khi nhận ra được trong lịch sử Phật giáo chưa bao giờ dùng vũ lực bạo động. Người Phật tử thực hành những gì mà họ nói, cái mà chúng tôi không thể chứng minh được ở những truyền thống tâm linh khác.”
Ít nhất một trong số thành viên theo đạo Công giáo đại diện để nói về quan điểm này đối với Phật giáo. Cha Ted O'Shaughnessy nói từ Belfast: “Tôi theo giáo hội Thiên Chúa giáo, nhưng cứ làm tôi khó xử đó là chúng tôi đã thực sự nói về tình thương trong kinh thánh hay chưa, rồi cho đó là ý Chúa khi đến giết người khác. Với lí do này, tôi đã bình chọn Phật giáo bằng lương tri của mình.” Giáo sĩ Tal Bin Wassad của Hồi giáo ở Pakistan đã đồng ý và nói, được thông ngôn dịch rằng: “Tôi theo Hồi giáo, tôi có thể biết được sự truyền giáo có mặt của sự giận dữ và đổ máu thành sông nhiều hơn là tình thương. Phật giáo ngăn ngừa được điều đó.” Bin Wassad, một thành viên bình chọn trong hội đồng ICARUS thuộc cộng đồng Hồi giáo ở Pakistan nói thêm: “Thực sự, tôi có rất nhiều người bạn theo Phật giáo.” Và Rabbi Shmuel Wasserstein đến từ Jerusalem đã phát biểu: “Dĩ nhiên, tôi yêu đạo Do Thái, và tôi nghĩ Phật giáo là một tôn giáo vĩ đại nhất thế giới. Nói với danh dự, tôi đang tu tập theo phương pháp Thiền Minh Sát của Phật giáo hằng ngày trước khi làm lễ cầu nguyện minyan (lễ cầu nguyện hằng ngày của đạo Do Thái) từ năm 1993. Vì thế tôi đồng ý với quý vị như thế.”
Groehlichen đã tuyên bố rằng kế hoạch bình chọn giải thưởng cho Phật giáo là tôn giáo vĩ đại nhất thế giới đã công bố và thông báo cho các nhà lãnh đạo và cộng đồng Phật giáo. Tuy nhiên vẫn con một trở ngại, ông nói: “Trên cơ bản, chúng tôi chưa tìm ra vị lãnh tụ Phật giáo nào để trao giải thưởng.” Groehlichen hứa sẽ sớm công bố sớm vào thứ ba tới. “Tất cả tín đồ đạo Phật đều nói rằng họ không xứng đáng để nhận lấy phần thưởng,” Groehlichen giải thích với một tính cách ngay thẳng, ông tiếp: “Lập trường của Phật giáo, họ luôn cho rằng tôn giáo mà họ theo là một giáo lí thực nghiệm chứ không phải một tôn giáo. Nhưng chân lí vẫn bất di bất dịch, với sự thật này chúng tôi công nhận triết học và sự cống hiến của họ là tuyệt vời nhất thế giới và trọng yếu nhất trong sự thách thức và đối mặt với những kỉ nguyên về sau của mỗi cá nhân và con người trên hành tinh của chúng ta.”
Khi được hỏi lý do tại sao các cộng đồng Phật giáo Miến Điện từ chối giải thưởng, Sư Bhante Ghurata Hanta cho biết: “Chúng tôi rất biết ơn đối với sự công nhận của quý vị, nhưng chúng tôi nhường giải thưởng này cho tất cả nhân loại, cho Phật tánh nằm trong mỗi người chúng ta.” Groehlichen trân trọng nói thêm: “Chúng tôi sẽ tiếp tục thỉnh cầu cho đến khi chúng tôi tìm thấy một vị trong cộng đồng Phật giáo tiếp nhận giải thưởng. Chúng tôi sẽ cho các bạn biết khi nào chúng tôi hoàn thành.”
Thiện Hữu dịch, từ http://blog.beliefnet.com
Nguồn: http://www.lieuquanhue.com.vn/index.php/1/3461.html

THƠ TẶNG CHÁU NGHĨA CỦA ÔNG



THƠ TẶNG CHÁU NGHĨA CỦA ÔNG

Ông thương cu Nghĩa lắm mà
Từ đâu đi tới ở nhà Như Lai
Đến đây thì phải miệt mài
Học chăm hạnh đức tương lai sáng ngời
GT

Ước gì đệ tử lặng yên
Để cho Sư Phụ khỏi phiền trong tâm
An nhiên niệm Phật thì thầm
Lắng lòng nghe pháp ân thâm đáp đền
GT

Con là cu Nghĩa húi cua
Đêm trăng ai bỏ cổng chùa Bửu Minh
Từ Bi cửa Phật thương tình
Nuôi con khôn lớn thông minh giúp đời
GT

Ông thương con lắm mẹ ơi
Lo con từng chút không lời rên than
Ông luôn thăm viếng hỏi han
Thấy con sựa Ông lại càng lo hơn
Ông đi hái thuốc trên non
Chăm con hết bệnh để còn lớn nhanh
Mười năm nữa mẹ về thăm
Con xinh đẹp như trăng rằm mẹ coi.
GT

Con hiện ra giữa núi đồi
Ngẩng nhìn trăng sáng mỉm cười thế gian
Mẹ con lệ đổ hai hàng
Yêu thương ly biệt khóc khan giọng rồi
Thì thôi để mặc mây trôi
Tháng ngày tịch lặng bên đồi phù vân.
GT.

Ngày Phật sinh con lại về
Biển Hồ vỗ sóng sơn khê bồi hồi
Vang vang chuông mõ núi đồi
Con nghé nhỏ đuổi mặt trời đang lên.
GT

Con về với phố núi cao
Gặp Ông gặp Phật kiếp nào ngóng trông
Biển Hồ sâu thẳm mênh mông
Tình Ông chẳng khác vô cùng bao la
Chắp tay kính lễ Phật Đà
Độ con tu học quét nhà Như Lai
GT.

Lăng xăng chỉ làm phiền nhau
Mình nổi trội gây niềm đau cho người
Thế gian hoa đóm mây trôi
Về nơi tịch lặng ôn lời Phật khuyên.
GT

Thênh thang thiên địa vậy mà
In tuồng giam lỏng quê nhà mù khơi
Đêm đêm khấn nguyện Phật trời
Cầu con thông tuệ giúp đời ngày mai
GT.

Nỗi đau thân phận cười lên
Cho phiền não nhẹ cho quên tháng ngày
Con ơi mẹ dặn câu này
Thân tâm phụng sự ơn Thầy khắc ghi
GT.







Nhớ Thầy - Hoà Thượng Thích Tịch Tràng - Vạn Giã - Nha Trang


NHỚ THẦY


Kính dâng Hoà Thượng Thích Tịch Tràng, để nhớ công ơn giáo dưỡng

Mãn hạ năm ấy, Thầy G. Tuệ an cư ở chùa Linh Sơn (Nha Trang) về. Thầy cho tôi biết: “Chùa Linh Sơn có Thượng tọa trụ trì bao dung đức độ lắm! Và ngoài giờ học phổ thông ra, ở chùa có dạy thêm nội điển nữa, do quý Thầy ở Vịện Cao Đẳng Phật Học về phụ trách. Tôi đã thưa Thượng tọa xin cho chú ở rồi đấy, nếu thích chú xin thầy mình vô đó học”. Nghe sư huynh nói vậy, dòng máu du tử của tôi lại chạy rần rần trong huyết quản. Vả lại, miền thùy dương cát trắng ấy có một sức hấp dẫn lạ kỳ. Nơi có không biết bao nhiêu là cảnh tượng kỳ vĩ: Kim thân Phật Tổ trên đồi Trại Thủy, Tháp Bà với Thiên Y A Na nhiều huyền thoại và bãi biển dài thơ mộng đẹp nhất đất nước…
Tôi từ giã quê hương sương mù, đến miền thùy dương thơ mộng ấy vào một buổi sáng mùa thu, có chú G.Viên đi cùng. Tôi cứ ngỡ chùa Linh Sơn tọa lạc tại thành phố Nha Trang, hóa ra không phải, cách Nha Trang trên sáu mươi cây số, thuộc huyện Vạn Ninh. Chùa nhằm trên bờ sông Hiền Lương (tên thôn cũng là tên của dòng sông) con sông thật hiền lành bình thản y như cái tên đặt cho nó. Mỗi lúc thủy triều dâng, nước sông trong veo in rõ bóng chùa với hàng cây bạch đàn đứng trầm ngâm bên cạnh. Chùa là ngôi tổ đình, do một vị Hòa thượng ngừơi Quảng Nam vào khai sơn, cách đây vào khỏang hai trăm năm, rất cổ kính trang nghiêm. Vườn chùa trồng trên trăm cây dừa đã cho trái. Xoài, cam, ổi, mít, me…mỗi loại khỏang năm mươi gốc. Ruộng chùa trên mười mẫu, cho Phật tử làm rẽ, chùa có máy điện, tóm lại ta có thể xếp vào hàng chùa giàu. Tuy nhiên vì chúng Tăng đông quá, nên cháo rau hai buổi mới đủ ăn. Ngày tôi vào đó Tăng chúng đã trên bốn mươi vị rồi, tấm lòng của Thượng tọa trụ trì thật độ lượng vô biên, ai tới xin ở đều chấp nhận hết, nhưng với điều kiện là phải tu học, không được lơ láo qua ngày đọan tháng. Ngày đó tôi đang sức lớn, mà ăn cháo ngày hai lần, mỗi lần một lưng bát. Buổi trưa được ăn cơm nhưng với tiêu chuẩn, thành thử đói dập dồn, tay chân cứ bủn rủn hoài. Mỗi khi chùa có kỵ giỗ, ngồi nhìn mâm ăn như mèo nhìn mỡ, nuốt nước miếng ừng ực, rồi đến khi ăn, mạnh điệu nào nấy gắp, chỉ tích tắc là xong. Thì ra, đói ra ma no ra Bụt, đừng đòi hỏi ở người, bao tử lúc nào cũng lép xẹp những từ đẹp đẽ thanh cao.
Thượng tọa ăn ngày chỉ có bữa trưa, nhưng không cho dọn riêng. Người ăn chung với quý Thầy Tỳ Kheo, cũng chừng ấy thức ăn. Nhà bếp có dọn thêm đĩa thức ăn nào đặc biệt, thượng tọa cũng chỉ gắp vài miếng rồi chuyển cho quý Thầy. Ăn uống đã ít lại đạm bạc, song Thựơng tọa tụng kinh bái sám suốt ngày. Người tu theo pháp môn Tịnh Độ, lúc nào xâu chuỗi cũng cầm tay, lâm râm niệm danh hiệu Phật A Di Đà một cách miên mật và Ngừơi ngủ nghỉ cũng ít nữa, ba giờ sáng đã thức dậy hành trì. Mỗi lần chúng điệu cãi cọ xích mích nhau, Thượng tọa nghe được đến hòa giải, quở trách nhẹ nhàng: “Sao không niệm Phật đi? Đời người chỉ trong hơi thở, có gì đâu mà tranh cãi hơn thua. Tư lương của các chú đã có gì chưa? Chỉ có sinh tử là việc lớn, ngoài ra mọi việc đều nhỏ nhen. Đừng để tâm trí ta vướng bận vào những chuyện nhỏ nhen trong cuộc sống hằng ngày”, Thượng tọa ăn mặc rất giản dị, và muốn môn đệ cũng giản dị như mình. Một hôm chiếc áo nhật bình màu khói hương của tôi bị vấy mủ chuối, tôi đem ra giếng ngồi tẩy. Thượng tọa đi ngang qua thấy vậy dừng lại hỏi:
- G.Tâm làm cái chi đó?
Tôi trả lời:
- Dạ, bạch Thượng tọa, con tẩy cái áo bị vấy mủ chuối.
- Chi chi kệ nó, tẩy làm gì, mặc vậy quí hơn. Đệ tử Phật vốn xưng là bần đạo mà, mặc đẹp mặc tốt người ta đổi chữ bần thành chữ phú sao?
Thượng tọa nói xong nở nụ cười y hệt Ngài Ca Diếp.
Người luôn lo lắng đến sự học của chúng Tăng, hằng nghĩ đến tương lai đạo pháp, nên sở học của mình có bao nhiêu đem truyền ra trao lại hết. Khi biết đệ tử học đã hết chữ nghĩa của mình rồi thì gởi đến các viện Phật học cao cấp để học thêm. Trước khi đi tu, Thượng tọa là giáo sư dạy Pháp văn nổi tiếng, vậy mà không khi nào nói chuyện xen đệm tiếng Tây vô. Có một lần Thầy Chánh Huệ viết một đọan Pháp văn trên bảng, Thượng tọa thấy vậy đứng xem, biểu thầy Chánh Huệ đưa viên phấn rồi Thượng tọa sửa lại mấy chữ và giảng giải. Mà thầy Chánh Huệ thuộc vào hạng khá môn Pháp văn nhất trong các Thầy ở chùa Linh Sơn, bữa đó ai nấy đều ngạc nhiên thích thú.
Ngoài những giờ dạy cho quý Thầy, quý chú lớn Thượng tọa còn dạy một tuần mấy buổi chữ Hán cho mấy điệu nhỏ. Tóc Thượng tọa bấy giờ đã bạc nhiều, mắt lại yếu phải mang kính lão, ngồi cầm quản bút lông viết thiếp cho mấy điệu đồ, còn điệu nào chưa có thiếp thì lại bàn Thầy chõ mắt vào dòm đợi. Sống vào thời buổi viết tòan bút sắt, mà còn có lớp học bút lông như vậy thấy cũng hay hay, trông giống lớp học thời xưa quá! Có điều lớp học này thỏai mái hơn, Thầy không có roi như cụ đồ và trong lớp cũng không có anh trưởng tràng nào để Thầy sai quất mông mấy chú học dốt cả.
Tiền bạc Phật tử cúng dường hoặc bán trái cây trong vườn chùa, Thượng tọa kéo học bàn bỏ vào không hề biết là bao nhiêu, rồi khi có học Tăng ở nơi xa đi lỡ đường ghé lại, lúc ra đi Thượng tọa đều cầm tiền giúi vào tay, cho mà cứ sợ “Người” không nhận. Lúc nào cũng nhắn nhủ dặn dò: “Ừ, đi học đâu thì đi, học cho giỏi rồi về đây ở với Thầy cho vui”
Ngày cuối cùng của cuộc đời, Thầy biết trước, ân cần phó chúc mọi chuyện xong mỉm cười mà hóa. Tử đệ kéo hộc bàn ra để lấy tiền lo đám, hộc rỗng không chẳng có một đồng. Cuộc đời Thầy thể hiện trọn vẹn nếp sống “bần đạo”, bản thân Thầy thì tam thường bất túc như thế, nhưng tấm lòng vì nhân thế lại hữu dư.
Mùa xuân vừa rồi Sư huynh G.Tuệ và tôi trên đường hành hương có ghé lại Tổ đình Linh Sơn, đảnh lễ giác linh Thượng tọa. Ngôi Tổ đình vừa mới trùng tu thật nguy nga tráng lệ. Tôi có hỏi Thầy trụ trì Thiện Dương: “Tiền ở đâu mà Thầy trùng tu chùa to lớn dữ vậy?”.Thầy mỉm cười trả lời: “Tiền của quý Thầy ngày xưa đã từng học nơi đây, giờ tuy tản lạc khắp nơi, có người ở cách xa trọn nửa trái đất như Canada, Washington, Cali…nhưng vẫn luôn hướng về cái nôi êm ái tình thương “Linh Sơn ngày ấy”, nơi mà một thời đã khai tâm mở trí cho họ”. Tôi ra thắp nhang nơi tháp mộ của Người, ngồi bên tháp rêu phong, vôi vữa đã lở ra từng mảng, đường nét đơn sơ giản dị như cuộc đời giản dị của Thầy, lòng chợt bâng khuâng nhớ thương thầy vô hạn. Tôi tự hỏi: “Động cơ nào đã thôi thúc Thầy nguyên là một vị giáo sư Pháp văn ưu tú con nhà quý tộc ở xứ Quảng, lại cắt ngang con đường công danh sự nghiệp, để vào đây nối bước theo chân Tổ mà nối đuốc đưa mọi người qua khỏi bóng đêm vô minh dày đặc và biến nơi đây thành một quê hương tâm linh cho tất cả ngưỡng vọng hướng về”. Câu hỏi tự nêu chưa có câu trả lời, thì không hiểu sao tự dưng tôi lại nhớ đến bàn tay trái của Thầy chỉ còn bốn ngón, một ngón đã đốt cúng dường mười phương chư Phật trong ngày Thầy thọ đại giới, và rõ thêm một chút nữa là vì sao ngày xưa Thầy hay nhắc đến Hòa thượng Quảng Đức cũng đã có những năm tháng Trụ Trì ở nơi đây.
Hoà thượng Quảng Đức thung dung bất động ngồi trong lửa đỏ như ngồi trên hoa sen (để bảo vệ chân lý). Còn Thầy điềm nhiên khoái hoạt khi đốt tay cúng dường Tam Bảo. Thì ra sức mạnh tinh thần, sự tĩnh tại vô úy ở nội tâm của Người trước đã truyền lại cho Người sau và hốt nhiên tôi tìm ra câu trả lời thích đáng: “Thầy đã nối tiếp một cách rạng rỡ dòng giống của Phật chỉ bằng sức mạnh niềm tin không gì lay chuyển nổi và tình thương vô biên đối với con người – vạn hữu”.



Thích Giác Tâm
Pleiku – Gia Lai




Chữa sỏi mật bằng Đông Y

SỎI MẬT – Viêm túi mật
(Cholecystolithiasis)
Kể bệnh, tư vấn, lấy thuốc
Tự tham khảo cách chữa:
----------------

Đại Cương
Sỏi mật là bệnh đường mật có sỏi, phát sinh ở bất kỳ bộ phận nào ở hệ thống túi mật (túi mật, ống mật).
Bệnh nhân thường từ tuổi trung niên trở lên, phụ nữ bị bệnh nhiều hơn nam giới.
Triệu chứng lâm sàng chủ yếu là đau ở vùng hạ sườn bên phải. Sỏi mật thường kèm theo viêm túi mật hoặc ống mật. Theo y học cổ truyền thì nguyên nhân cơ chế bệnh và biện chứng luận trị cơ bản không khác với Viêm Túi Mật.
Đông y gọi là Đởm Thạch Chứng.
Triệu Chứng
Triệu chứng lâm sàng của sỏi mật tùy thuộc vào vị trí, tính chất, kích thước to nhỏ và biến chứng của bệnh. Có thể do trạng thái tinh thần kích động, chế độ ăn uống (ăn nhiều chất nóng, uống rượu...), thời tiết thay đổi, nóng lạnh thất thường ảnh hưởùng nhiều đến cơn đau tái phát. Diễn tiến bệnh có thể chia làm 2 thời kỳ: phát cơn đau và ổn định.
1-Thời kỳ phát cơn đau: bệnh phát đột ngột, rất đau vù ng hạ sườn phải, cơn đau thắt kéo dài từng cơn nặng lên, đau xuyên lên vùng vai hoặc bả vai bên phải, ấn vào đau nhiều hơn (cự án). Người bệnh sốt cao hoặc vừa hoặc kèm cơn rét, miệng đắng, họng khô, nôn, buồn nôn, hoặc da mắt vàng, nước tiểu vàng, táo bón, lưỡi đỏ, rêu vàng hoặc vàng nhầy, mạch Huyền, Hoạt, Sác, điểm Murphy (+) hoặc cơ vùng bụng trên bên phải căng tức. Gan và túi mật to, đau nhiều sốt cao, hôn mê nói sảng, ngoài da có nốt ứ huyết, chảy máu cam... (thường kèm theo viêm túi mật).
2. Thời kỳ ổn định: vùng hạ sườn phải ấn đau nhẹ, cảm giác đau âm ỉ có thể xuyên lên vai lưng từng cơn nhẹ rồi hết hoặc bụng trên đầy, chán ăn, miệng đắng, sợ mỡ, không sốt, không vàng da, rêu lưỡi mỏng trắng hoặc hơi vàng, mạch Huyền. Thời kỳ này không có triệu chứng viêm nhiễm hoặc tắc mật.
Sỏi mật theo thành phần có thể chia ra sỏi Cholesteron và sỏi Sắc tố mật.
Sỏi Cholesteron thường do ăn nhiều mỡ động vật, nồng độ Cholesteron trong máu cao có quan hệ với sự hình thành sỏi. Sỏi sắc tố mật phần lớn do tế bào thượng bì rơi rụng trong viêm nhiễm đường mật, vi khuẩn, giun đũa hoặc trứng giun hình thành hạch tâm của sỏi.
Chẩn Đoán
Chủ yếu dựa vào:
- Đau tức vùng bụng trên: thời kỳ phát cơn đau dữ dội vùng hạ sườn phải xuyên lên vai hoặc xuống bả vai, cơn đau kéo dài vài giờ đến vài ba ngày và có thể tái phát.
- Đau sườn: Triệu chứng rối loạn tiêu hóa, ăn vào đầy bụng, khó tiêu, ợ hơi, nôn, buồn nôn, nôn ra mật hoặc thức ăn.
- Khám ấn đau vùng túi mật, điểm Murphy dương tính.
- Nếu có tắc nghẽn thì da sẽ vàng, tiểu vàng, nếu nhiễm khuẩn thì sốt cao.
Siêu âm: có giá trị xác định chẩn đoán kích thước túi mật, số lượng sỏi, chính xác trên 90%.
Điều Trị
Về căn bản giống như viêm túi mật cấp và mạn tính.
1. Khí trệ
vùng hạ sườn đau tức âm ỉ hay đau nhiều có lúc không đau, miệng đắng họng khô, không muốn ăn uống không sốt cao, có hoàng đản hay không có hoàng đản, rêu lưỡi trăng mỏng hay vàng, mạch huyền khẩn hay huyền sác
SàI hồ 12 M hương 12 chỉ sác 12
X luyện 12 Huyền hồ 12 đại hoàng
12 H cầm 12
Thanh bì 10 Chỉ thực 8 Trạch tả 40
2. Thấp nhiệt:
Triệu chứng: vùng hạ sườn phải đau tức, miệng đắng họng khô, lượm giọng buồn nôn, sốt sợ lạnh hay sốt sợ rét, mắt vàng, người vàng, nước tiểu đỏ, rêu lưỡi vàng dầy, mạch hồng sác hay hoạt sác
pháp; thanh nhiệt trừ thấp
Hoàng cầm 12 Chi tử 12 Đương qui 12
Sài hồ 12 Mộc thông Cam thảo ` Sinh địa
Trạch tả 40 Sa tiền 16 Kim tiền thảo 40 Nhân trần 40
Long đởm thảo 12 Đại hoàng 4 Uất kim 8 Chỉ sác 8
Nếu thấp nhiệt gây sốt và hoàng đản nhiều thêm Hoàng liên 12; Hoàng bá 12 ; Bồ công anh 40 ; Mộc hương 12
Nếu táo bón thêm : mang tiêu 20
Châm cứu : khi có cơn đau quằn quại châm trước hết châm các huyệt ở xa như đởm nang, túc tam lý, uỷ trungthái xung bên phải rồi đến thiên ứng, nhật nguyệt , chương môn, kì môn,thương quản, đởm du, tam tiêu du, thận du
Đối với sỏi to
pháp trị: nhuyễn kiên bài sỏi
tiêu thạch(hoả tiêu)hoặc huyền minh phấn hoặc mang tiêu ngày dùng 2-3 lần ,uống với nước cháo đại mạch
phàn thạch (lục phàn)
phối hợp với bài Tiêu dao tán

Mang tiêu 10 Hải kim sa 10 Kim tiền thảo 30
Hoạt thạch 12 Trạch tả 10 Sa tiền 15 ý dĩ 20
Xuyên luyện 10 Uất kim 10 Hổ trượng 10 Sài hồ 10
Bạch thược 15
Đối với sỏi nhỏ hơn 1 ly và ống gan có sỏi sau khi mổ sót lại :
pháp trị:thanh nhiệt lợi thấp, hành khí chỉ thống
k t thảo 40 nhân trần 12 uất kim 12
chỉ sác 12 m hương 12 sđ hoàng 12 Trạch tả 40
thuốc tán ngày 2 lần mỗi lần 3g ,thuốc thang chia 2 lần uống
châm cứu: uỷ trung, thừa sơn, thái xung, tam âm giao, huyền chung
3. viêm mật man tinh
Triệu chứng: đầy bụng, có cảm giác khó chịu ở bụng trên hoặc bên phải bụng trên, đau kéo dài, hoặc đau bả vai, có cảm giác nóng ruột, ợ hơi, mỏi mệt nhất là sau khi ăn cơm no hoặc ăn những thứ sào rán, nhiều mỡ
Bột uất kim 3 Một dược 3 Nhân trần 30
Kim tiền 30 Trạch tả 40
Kim tiền, nhân trần sắc nước uống với bột uất kim và Một dược
Xoa 2 bên sườn vào sáng tối
Kiêng: rượu, gia vị đậm đặc, mỡ động vật, ăn no quá, vận động vừa phải

*************************************
*

Năm ngôi chùa lớn,Tỉnh Gia Lai

,

Năm ngôi chùa lớn,Tỉnh Gia Lai


Diện tích: 15.536,9 km²
Dân số: 1.161,7 nghìn người (năm 2006)
Tỉnh lỵ: Thành phố Pleiku
Các huyện:
- Thị xã: An Khê, Ayun Pa
- Huyện: Chư Păh, Chư Prông, Chư Sê, Đức Cơ, la Grai, Kbang, Krông Pa, Kông Chro, Mang Yang, Đắk Đoa, la Pa, Đak Pơ, Phú Thiện.
Dân tộc: Việt (Kinh), Gia Rai, Ba Na, Tày...
Điều kiện tự nhiên
Gia Lai là một tỉnh miền núi - biên giới nằm ở phía bắc Tây Nguyên trên độ cao 600 – 800m so với mặt biển. Phía bắc Gia Lai giáp tỉnh Kon Tum, phía nam giáp tỉnh Đắk Lắk, phía tây giáp Cam-pu-chia với 90km là đường biên giới quốc gia, phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên.
Khí hậu: Gia Lai có khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, chia hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm 21ºC - 25ºC. Vùng tây Trường Sơn có lượng mưa trung bình năm từ 2.200 – 2.500mm, vùng đông Trường Sơn từ 1.200 -1.750mm.
Gia Lai là đầu nguồn của nhiều hệ thống sông đổ về miền duyên hải và Cam-pu-chia như sông Ba, sông Sê San và các con suối khác. Vùng đất Gia Lai có nhiều suối hồ, ghềnh thác, đèo và những cánh rừng nguyên sinh tạo nên những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ thơ mộng, mang đậm nét hoang sơ nguyên thủy của núi rừng Tây Nguyên. Đó là rừng nhiệt đới Kon Ka Kinh và Kon Cha Rang nơi có nhiều động vật quí hiếm; thác Xung Khoeng hoang dã ở huyện Chư Prông; thác Phú Cường thơ mộng ở huyện Chư Sê. Nhiều con suối đẹp như suối Đá Trắng, suối Mơ và các danh thắng khác như bến đò "Mộng" trên sông Pa, Biển Hồ (hồ Tơ Nưng) trên núi mênh mông và phẳng lặng - núi Hàm Rồng cao 1.092m mà đỉnh là miệng của một núi lửa đã tắt.
Gia Lai có truyền thống cách mạng hào hùng, có khu Tây Sơn Thượng, căn cứ địa của vua Quang Trung, là quê hương anh hùng Núp. Nhiều địa danh chiến trường xưa của Gia Lai như Pleime, Cheo Reo, La Răng đã đi vào lịch sử.
Dân tộc, tôn giáo: Tỉnh Gia Lai có cộng đồng nhiều dân tộc chung sống, người Kinh chiếm 52% dân số, còn lại là người Gia Rai (33,5%), Ba Na (13,7%), Giẻ Triêng, Xơ Đăng, Cơ Ho, Nhắng, Thái, Mường...
Gia Lai là một vùng đất có bề dày lịch sử với nền văn hóa cổ xưa mang bản sắc độc đáo của đồng bào các dân tộc, chủ yếu là Gia Rai và Ba Na thể hiện qua kiến trúc nhà rông, nhà sàn, nhà mồ, qua lễ hội truyền thống, qua y phục và nhạc cụ. Các lễ hội đặc sắc ở Gia Lai: lễ Pơ Thi (Bỏ Mả), lễ hội đâm trâu, múa xoang...trang phục ngày hội được trang trí hoa văn nhiều màu sắc thần bí, các điệu múa dân gian và âm thanh vang vọng của các loại nhạc cụ riêng của từng dân tộc như tù và, đàn đá, cồng chiêng... Đến Gia Lai du khách còn được xem những khu nhà mồ dân tộc với những bức tượng đủ loại và những nghi lễ còn rất hoang sơ với tôn giáo đa thần (Tô Tem) còn nhiều nét nguyên thủy.
Giao thông
Tỉnh có trục quốc lộ 14 nối với Quảng Nam và các tỉnh Tây Nguyên, Đông Nam Bộ; trục quốc lộ 19 nối với các tỉnh duyên hải miền Trung từ Quy Nhơn đến Pleiku và đi các tỉnh đông bắc Cam-pu-chia; quốc lộ 25 nối với Phú Yên.
Your browser does not support inline frames or is currently configured not to display inline frames.
01. CHÙA BỬU MINH, HUYỆN CHƯ PĂH, TỈNH GIA LAI
Chùa tọa lạc tại xã Nghĩa Hưng, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. Chùa thường được gọi là chùa Biển Hồ Trà.
Chùa nguyên là chùa Phật học do ông Nguyễn Văn Khanh vận động thành lập và thỉnh Hòa thượng Thích Từ Vân ở Kon Tum xuống khai sơn vào khoảng năm 1935-1936. Năm 1961, chùa được Phật tử địa phương xây dựng lại, mang tên chùa Bửu Minh. Từ năm 2003, TT. Thích Giác Tâm đã tiến hành đại trùng tu ngôi chùa kiến trúc hiện đại, quy mô to lớn, diện tích ngôi chánh điện mới là 520m2, cao 47m25, mái chùa có dáng dấp mái nhà rông cao nguyên.
This Buddhist temple is situated at hamlet 1, Nghĩa Hưng commune, Chư Păh district, Gia Lai province.
This Buddhist temple instructs that formerly it had ever been the Temple of Buddhist Studies set up by Mr. Nguyễn Văn Khanh. He invited Most Venerable Thích Từ Vân in Kon Tum to come to open this Buddhist temple about 1935 – 1936. In 1961, it was reconstructed by local Buddhists and renamed Buu Minh Buddhist temple. Since 2003 Venerable Thích Giác Tâm has carried out the large-scaled restoration of this Buddhist temple with the modern design. The area of the new main hall is 250 square meters and its height is 25m. The roof of the Buddhist temple carries the roof style of Rơng house (commune house) in Highlands.
02. CHÙA BỬU NGHIÊM, TP. PLEIKU, TỈNH GIA LAI
Chùa tọa lạc ở số 04 đường Lý Thái Tổ, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Chùa được xây dựng vào năm 1964. Ngôi chánh điện được trùng tu năm 1978. Đại hồng chung cao 1,60m được đúc tại chùa năm 1974. Thượng tọa Thích Từ Hương đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa quy mô to lớn từ năm 2003, khánh thành năm 2005. Điện Phật được bài trí Trang nghiêm, chính giữa tôn trí bộ tượng Thích Ca Tam Tôn; phía trước, tôn trí bộ tượng Di Đà Tam Tôn.
This Buddhist temple is situated at N°04 Lý Thái Tổ, Pleiku city, Gia Lai province.
It was built in 1964. The main hall was restored in 1978. The 1m60-high great bell was cast on its spot in 1974. Most Venerable Thích Từ Hương carried out its large-scaled restoration in 2003 and it was inaugurated in 2005. The Buddha shrine is solemnly arranged. In the middle are enshrined the statues of Sakyamuni Holy Trinity including the statue of Sakyamuni Buddha in the middle; in front are enshrined the statues of Amitabha Holy Trinity .
03. CHÙA BỬU THẮNG, TP. PLEIKU, TỈNH GIA LAI
Vĩ độ: 15.975000 - Kinh độ: 108.005000 (Nguồn ECAI)
Chùa tọa lạc số 1A đường Sư Vạn Hạnh, phường Hội Thương, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Chùa được xây dựng trong thời kỳ chấn hưng Phật giáo (vào những năm 1930), trên một khu đất 3168m2. Chùa qua các đời trụ trì: Hòa thượng Đức Thiệu, Trí Châu, Thiện Đức, Hạnh Phát, Đổng Quang, Như Kế, Đức Thiện, Như Thiền, Từ Hương, và từ năm 1973 đến nay là Thầy Giác Ngộ. Chùa đã được trùng tu vào các năm 1960, 1964, 1972 và 1992. Chùa đặt văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Gia Lai.
This Buddhist temple is situated at N°1A Sư Vạn Hạnh Street, Hội Thương ward, Pleiku city, Gia Lai province.
It was built during the period of the Buddhist restoration (ín 1930s) in a 3,168-square-meter area. It has undergone thegemerations of following Abbots: Most Venerables Đức Thiệu, Trí Châu, Thiện Đức, Hạnh Phát, Đổng Quang, Như Kế, Đức Thiện, Như Thiền, Từ Hương, and Master Giác Ngộ (from 1973 up to now). It was renovated in the years 1960, 1964, 1972 and 1992. It is now the seat of the provincial Executive Committee of the Buddhist Sangha of Gia Lai province.
04. TỊNH XÁ NGỌC PHÚC, TP. PLEIKU, TỈNH GIA LAI
Tịnh xá tọa lạc ở số 342B đường Phan Đình Phùng, phường Yên Đỗ, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Tịnh xá thuộc hệ phái Khất sĩ.
Tịnh xá do Trưởng lão Giác An xây dựng vào năm 1957, thuộc Giáo đoàn III của Hệ phái Phật giáo Tăng già Khất sĩ Việt Nam. Đến năm 1980, Trưởng lão Giác Phúc tổ chức trùng tu tịnh xá. Tịnh xá đã được kiến thiết quy mô từ năm 1999 đến năm 2002 với nhiều hạng mục như : chánh điện, giảng đường, vườn Lâm Tỳ Ni, tượng đài Thích Ca, bảo tượng Quan Thế Âm … tổng diện tích xây dựng 2.785m2. Trụ trì hiện nay là Thượng tọa Giác Thành.
This monastery is situated at N°342 Phan Đình Phùng, Yên Đỗ Street, Pleiku city, Gia Lai province. It belongs to Vietnamese Buddhist Mendicant (Bhiksu) SanghaSchool.
It was built in 1957 by the Elder Giác An, belonging to the Congragation 3 of the Vietnamese Buddhist Mendicant (Bhiksu) Sangha school. In 1980 Abbot the Elder Giac Phuc organised to restore this monastery. It was renovated on a large scale from 1999 to 2002 with many works such as: the main hall, the auditorium, LumbiniPark, Sakyamuni statue throne, the statue of Avalokitesvara Bodhisattva… The total area of construction is 2,785 squre meters. The present Abbot is Venerable Giac Thanh.
05. CHÙA QUAN ÂM, TP. PLEIKU, TỈNH GIA LAI
Chùa tọa lạc ở số 378 đường Trường Chinh, TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Chùa do Hòa thượng Thích Đổng Quang khai sơn vào năm 1965 mang tên Quan Âm Bảo điện, sau đổi tên thành chùa Quan Âm. Chùa đã được trùng tu vào năm 1971 và năm 1995. Điện Phật được bài trí Trang nghiêm. Án thờ trên cao tôn trí tượng Tam Thế Phật. Đặc biệt, pho tượng lớn thờ ở án giữa là tượng Bồ tát Quán Thế Âm, án hai bên thờ tượng Bồ tát Quán Thế Âm và Bồ tát Địa Tạng.
The Buddhist temple id located at 378 Trường Chinh, Pleiku city, GiaLaiProvince.
The Buddhist temple was founded in 1965 by 1965 by Most Ven Thích Đổng Quang. Its initial name was Quan Âm Bảo Điện (Avalokitesvara holy Shrine) and then was renamed Quan Âm Buddhist temple. The Buddhist temple was restored in 1971 and 1995. The Buddha Shrine is solemnly arranged. On the upper altar, there are statues of Bubbhas of The Three Times. Especially there is a stutue of Bodhisattva Avalokitesvara on the center altar with two statues of Bodhisattva Avalokiteslava and Bodhisattva Ksitigabha ob each side
.


nguồn: www.dichua.com

February 2012
M T W T F S S
January 2012March 2012
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29