TÌM HIỂU THÔNG ĐIỆP “BÁC ÁI TRONG CHÂN LÝ”
Tuesday, March 1, 2011 2:03:58 PM
Bài trình bày của linh mục Antôn Nguyễn Ngọc Sơn
tại Uỷ ban Đoàn Kết Công Giáo TP.HCM
Nhân dịp Mùa Chay năm 2010
Lời mở
- Đã có rất nhiều bài viết về đề tài này của các tác giả trong cũng như ngoài nước.
- Các bạn có thể tìm thấy đặc biệt trong Nguyệt san Công giáo và Dân tộc số 179-180, tháng 12-2009.
- Hôm nay, chúng tôi xin chia sẻ vài cảm nghiệm, suy tư cá nhân trong lĩnh vực xã hội để giúp các bạn tìm hiểu thêm thông điệp “Bác ái trong Chân lý” của Đức Thánh cha Bênêđictô XVI.
tại Uỷ ban Đoàn Kết Công Giáo TP.HCM
Nhân dịp Mùa Chay năm 2010
Lời mở
- Đã có rất nhiều bài viết về đề tài này của các tác giả trong cũng như ngoài nước.
- Các bạn có thể tìm thấy đặc biệt trong Nguyệt san Công giáo và Dân tộc số 179-180, tháng 12-2009.
- Hôm nay, chúng tôi xin chia sẻ vài cảm nghiệm, suy tư cá nhân trong lĩnh vực xã hội để giúp các bạn tìm hiểu thêm thông điệp “Bác ái trong Chân lý” của Đức Thánh cha Bênêđictô XVI.
1. ĐÔI NÉT KHÁI QUÁT VỀ THÔNG ĐIỆP
- Thông điệp có tên gọi bằng tiếng Latinh Caritas in Veritate được Đức Thánh Cha ký ngày 29-6-2009 và chính thức công bố ngày 7-7-2009.
- Thông điệp có tên đầy đủ là “Thông điệp Bác ái trong Chân lý của Đức Giáo Hoàng Bênêđctô XVI gửi các giám mục, linh mục và phó tế những người được thánh hiến, các tín hữu giáo dân và tất cả những người thiện chí.
Về sự phát triển con người toàn diện trong bác ái và trong chân lý
Thông điệp gồm 6 chương với 79 số bàn về các vấn đề xã hội, đặc biệt nhắm đến sự phát triển cho con người và cho các dân tộc.
Thông điệp theo lược đồ sau đây:
Phần mở: Xác định nội dung bác ái và chân lý là gì trong xã hội con người (số 1-9).
Chương I: Sứ điệp Populorum Progressio (số 10-20).
Chương II: Sự phát triển nhân loại ngày nay (số 21-33).
Chương III: Tình huynh đệ, phát triển kinh tế, xã hội dân sự (số 34-42).
Chương IV: Phát triển các dân tộc, quyền lợi và trách nhiệm, môi sinh (số 43-52).
Chương V: Sự hợp tác của gia đình nhân loại (số 53-67).
Chương VI: Sự phát triển các dân tộc và kỹ thuật (số (68-77).
Phần kết: Nền nhân bản Kitô giáo quy hướng sự phát triển về Thiên Chúa (số 78-79).
2. NHỮNG PHẢN ỨNG ĐỐI VỚI THÔNG ĐIỆP
Đã có nhiều lời khen, chê khác nhau ở trong cũng như ngoài Giáo hội Công giáo đối với thông điệp này do các quan điểm khác nhau về các vấn đề xã hội và cách giải quyết các vấn đề đó.
Chúng tôi chỉ xin tóm tắt một số lời phê bình và nhận xét về thông điệp để chúng ta có một cảm nghiệm khởi đầu là: cần phải dành nhiều thời gian để đọc và tìm hiểu sâu xa hơn về thông điệp này. Vì đây là một thông điệp nêu lên những vấn đề cơ bản cho đời sống của con người và xã hội.
2.1. Phản ứng tích cực
Nhiều nhà trí trức, lãnh đạo trong Giáo hội Công giáo nhận định rằng:
• “Đây là một tín thư tuyệt vời về niềm hy vọng gửi đến mọi người thiện chí trong cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay. Thông điệp này mời gọi nhân loại tin tưởng vào Đấng Tuyệt Đối để tiếp tục hành động biến đổi thế giới, phát triển sự công bằng và lòng yêu thương trong các quan hệ giữa con người với con người” (Hồng y Andre Vingt-Trois, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Pháp).
• “Thông điệp này là một món quà quý giá cho dân tộc Ấn Độ. Dù Ấn Độ chiếm vị trí thứ ba trên thế giới về tài nguyên lao động kỹ thuật và khoa học, và cả trong lĩnh vực công nghệ không gian, nhưng khoảng cách giàu nghèo càng ngày càng lớn. Những người nghèo khổ, những bộ tộc thiểu số bị gạt ra ngoài lề cuộc sống và sự phát triển kinh tế. Thế nên, thông điệp này rất cần thiết cho đất nước chúng tôi vì đề cập đến sự phát triển thật sự và toàn diện cho con người” (Đức cha Thomas Dabre, Giám mục Giáo phận Poona, Chủ tịch Ban Thần học Hội đồng Giám mục Ấn Độ, Asia News, 17-7-2009).
• “Đây là một thông điệp nói đến những vấn đề nóng bỏng như toàn cầu hoá, đạo đức môi sinh, bảo vệ lao động cũng như cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay. Thông điệp đáng cho mọi người quan tâm tìm hiểu” (x. Lm. Drew Christian Sen, dòng Tên, Tuần san The America).
2.2. Phản ứng tiêu cực
• Dư luận dửng dưng đối với thông điệp này vì:
+ Nói quá trừu tượng về bác ái và chân lý.
+ Không bàn sâu về những vấn đề của thế giới, của đời sống con người, của cuộc khủng hoảng hiện nay.
+ Phân tích và lên án cách chung chung thì không tác động đến ai, vì ai cũng thấy mình trong đó.
+ “Lên án ngừa thai” có vai trò gì trong vấn đề xã hội trong khi không thấy phê phán về những hoạt động bừa bãi trong lĩnh vực tài chính.
+ Câu nói: “một nền nhân bản loại trừ Thiên Chúa là một nền nhân bản phi nhân” đụng chạm đến nhiều người và ý thức hệ. Có thể có kiểu nói khác hay hơn? (x. Luc Chatel, báo Ténoignage Chrétien Pháp, số 3357, ngày 16-7-2009).
• Thông điệp không nhắc đến từ “chủ nghĩa tư bản” một lần nào. Không biết ĐTC ủng hộ hay công kích chủ nghĩa này (x. Jérome Anciberro, số 3356, ngày 9-7-2009).
• Cả phe tả và phe hữu bất đồng nhiều điểm trong thông điệp nên không muốn lên tiếng. Cuộc đối thoại khó thực hiện giữa các người thiện chí vì Đức Thánh Cha đã kết án: “một nền nhân bản loại trừ Thiên Chúa là một nền nhân bản phi nhân”. Câu này làm tổn thương những ai chưa có đức tin, những người chưa quen tiếp cận với các văn kiện của Giáo Hội. Tuy nhiên, đây là đóng góp có ý nghĩa nhất đối với Học thuyết Xã hội Công giáo (Michael Sean Winters).
3. TÌM HIỂU THÔNG ĐIỆP
Thông điệp này là thông điệp thứ ba sau thông điệp đầu tiên “Thiên Chúa là Tình yêu” (25-12-2005) và thông điệp thứ hai “Được cứu độ trong hy vọng” (30-11-2007).
Có một điểm nối kết cả ba thông điệp này với nhau: Thiên Chúa là tình yêu và chúng ta có thể hy vọng vào tương lai tươi sáng vì Thiên Chúa luôn yêu thương nên đã dựng nên ta và ban Con Một của Ngài để cứu độ ta. Người Con đó cũng là chân lý mà Người đã chứng minh trong cuộc đời tại thế, nhất là qua cái chết và sự phục sinh của Người.
Hy vọng vào tình yêu và chân lý này, nhân loại mới làm việc để phát triển trọn vẹn con người và xã hội.
3.1. Giải thích từ ngữ
Hai từ “Bác ái và chân lý” trong thông điệp không phải là những ý niệm trừu tượng nhưng là những ngôi vị Thiên Chúa sống động (x. 1Ga 4,8.16; Ga 14,6).
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tình yêu và chân lý tuỳ theo sự hiểu biết của mỗi người nên cũng có nhiều thái độ để diễn tả tình yêu và chân lý.
Bác ái ở đây là tình yêu bao la, vĩnh hằng của Thiên Chúa như thông điệp đầu tiên đã định nghĩa. Tình yêu này mở rộng tâm hồn ta cho Đấng Siêu Việt và cho muôn vật muôn loài để thông hiệp trong Thiên Chúa và hợp nhất với nhau.
Chân lý cũng không còn chỉ là sự hoà hợp giữa lý trí và sự vật (Veritas est conformitas cum re) nhưng là mở rộng tâm trí cho Đấng là nguồn của mọi khôn ngoan và tri thức.
Mỗi người chúng ta đều cảm nhận sự thúc đẩy nội tâm để yêu một cách chân thật, vì tình yêu và sự thật không bao giờ hoàn toàn rời bỏ con người (số 1).
Tình yêu và sự thật đều là những ân sủng của Thiên Chúa ban cho con người. Đồng thời tình yêu và sự thật cũng là ơn gọi của Thiên Chúa đặt để trong tâm hồn và tâm trí từng người (số 1).
Vì con người được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa (x. St 1,27; Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo, số 108).
Bác ái còn là tình yêu được đón nhận và trao ban (số 5). Đây là tình yêu được Đức Kitô mạc khải và thực hiện (x. Ga 13,1), mà Thiên Chúa tuôn đổ vào trong tâm hồn chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần (x. Rm 5,5).
Vì Đức Giêsu Kitô là chân lý nên con người được mời gọi loan báo chân lý tình yêu của Đức Kitô trong xã hội bằng những hành động cụ thể: “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.
Chân lý này cần thiết cho sự phát triển, cho công ích xã hội và cho sự kiếm tìm một giải pháp thoả đáng những vấn đề kinh tế xã hội khó khăn đang đè nặng con người (số 5).
Giáo huấn Xã hội của Giáo hội Công giáo đặt nền tảng trên Bác ái trong Chân lý (Caritas in Veritate) vì đây là nguyên lý thể hiện cách cụ thể qua những tiêu chuẩn hướng dẫn hành động luân lý.
Năm 1967, Đức Giáo hoàng Phaolô VI, trong Thông điệp Phát triển các Dân tộc (Populorum Progressio), đã xác định: đời sống trong Chúa Kitô là yếu tố đầu tiên và chính yếu của sự phát triển (Populorum Progressio, số 16) và khuyến khích chúng ta tiến bước trên con đường phát triển này với con tim và lý trí (Populorum Progressio, số 82), nghĩa là với nhiệt tình của bác ái và khôn ngoan của chân lý (số 8).
3.2. Định hướng phát triển: tiến tới nền nhân bản toàn diện
Thông điệp nhắc lại hai chân lý quan trọng (số 10) của Thông điệp Phát triển các Dân tộc: chân lý đầu tiên là toàn thể Giáo Hội khi rao giảng, cử hành bí tích Thánh Thể và hoạt động bác ái trong toàn thể bản chất và hoạt động của mình, phải nhằm vào việc thúc đẩy sự phát triển toàn vẹn con người. Chân lý thứ hai là sự phát triển đích thực của con người phải quan tâm đến sự toàn diện con người trong mọi chiều hướng.
Cho đến nay, nhiều hoạt động của Giáo Hội hình như vẫn chưa quan tâm đến con người mà chỉ tập trung vào những lễ nghi phụng tự nhằm tôn vinh Thiên Chúa. Người ta có thể bỏ ra hàng chục, hàng trăm tỷ đồng cho những cuộc hành hương, cử hành phụng tự và rất ít lưu tâm đến những con người nghèo khổ, bệnh tật trong xã hội hiện nay.
Số 11 của thông điệp giới thiệu nền nhân bản toàn diện. Nhân bản là lấy con người làm gốc vì con người là con đường của Giáo Hội và cũng là con đường của Thiên Chúa khi Ngôi Lời Thiên Chúa làm người.
Nền nhân bản toàn diện bao gồm mọi lĩnh vực của con người như thể chất và tinh thần, cá nhân và tập thể, tự nhiên và siêu nhiên, nội tâm và ngoại giới vì con người thật sự là một mầu nhiệm không thể nào khám phá cho cùng. ĐTC đã khai triển chiều hướng hay tầm nhìn vào đời sống vĩnh cửu vì thiếu vắng chiều hướng này, sự phát triển nhân bản sẽ thiếu vắng sức sống trong thế giới. Con người toàn diện bao gồm mọi mối tương quan nhờ tinh thần mở ra cho Đấng Tuyệt Đối và muôn vật muôn loài: tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân, với vạn vật.
Sự phát triển như thế đòi buộc phải có một cái nhìn siêu nhiên về con người: con người bắt nguồn từ Thiên Chúa và quy hướng về Thiên Chúa là nguồn của chân thiện mỹ, của sự sống vĩnh hằng và hạnh phúc vô biên.
Phủ nhận cái nhìn này, sự phát triển không thể nào toàn diện và sẽ mang tính phi nhân (số 11).
Giống như để bảo vệ sự phát triển cho những vườn trồng cà phê, người ta nuôi một bầy chó dữ và để chó cắn chết người đi mót cà phê như trường hợp đã xảy ra ở Buôn Ma Thuột.
Giáo huấn về sự phát triển này không phải chỉ mới bắt đầu với ĐTC Phaolô VI nhưng đã được xây dựng trên nền tảng các tông đồ và được thể hiện trong suốt đời sống của Giáo hội Công giáo (số 12).
Việc phát triển xã hội theo nghĩa nhân bản cho thấy vai trò quan trọng của Phúc Âm và Giáo huấn Xã hội của Giáo Hội. Bác ái Kitô giáo phải là sức mạnh chính yếu phục vụ cho việc phát triển này (số 13).
Sự phát triển cũng không chỉ phó thác hoàn toàn cho kỹ thuật và kinh tế. Ngày nay người ta thường đánh giá các quốc gia phát triển nhanh hay chậm theo GDP (tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước), trình độ văn hoá, số người sử dụng điện thoại, truyền hình, số bác sĩ so với số dân, tuổi thọ… Tuy nhiên, sự phát triển toàn diện đòi phải quan tâm đến mỗi người và mọi người trong các lĩnh vực khác như chính trị, văn hoá, xã hội và môi trường. Thí dụ: người ta có thể ăn ngon mặc đẹp nhưng lại bị giới hạn về tôn giáo và suy đồi về văn hoá. Người ta có thể tạo công ăn việc làm cho một số công nhân khi thiết lập những nhà máy, xí nghiệp nhưng nhiều người nông dân lại bị mất đất vì không còn ruộng để canh tác.
Sự phát triển toàn diện hiện nay đòi con người phải quan tâm đến những vấn đề xã hội mới mẻ và đi tìm những giải pháp mới so với thời của Đức Phaolô VI như: tính toàn cầu hoá, những cuộc di dân, những tập đoàn sản xuất đa quốc gia, những tập đoàn tài chính lớn, những cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế mang tính toàn cầu.
Sự phát triển cần được nhìn như một ơn gọi (số 16, 17, 18) vì mỗi người được Thiên Chúa kêu gọi để tự phát triển và vì toàn bộ cuộc sống là một ơn gọi (Populorum Progressio, số 15). Do đó, câu trả lời của con người mang tính tự do và có trách nhiệm đối với chính mình và với các dân tộc.
4. SỰ PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM
Sau khi tìm hiểu một vài đặc tính của sự phát triển trong thông điệp, chúng ta được mời gọi để nhìn vào xã hội Việt Nam với những vấn đề mà dân tộc chúng ta đang phải đối mặt để có thể tìm ra những giải pháp cho đời sống cá nhân cũng như cộng đồng theo ánh sáng chân lý Phúc Âm vì tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng ta (x. 2Cr 5,14).
4.1. Tình trạng xã hội Việt Nam
Mối quan tâm của từng cá nhân, của từng dòng tu đối với các vấn đề của Giáo Hội và xã hội. Chúng ta tự hỏi những câu tương tự như:
- Tại sao truyền giáo của Giáo Hội toàn cầu không có kết quả. Số người bỏ đạo mỗi năm mỗi tăng, và chỉ trong vòng 50 năm qua, tỷ lệ số tín hữu từ 18,2% xuống còn 17,2% dân số toàn cầu. Cần phải làm gì để việc rao giảng Tin Mừng có kết quả hơn?
- Tại sao việc truyền giáo ở Việt Nam (VN) cũng không đạt kết quả như lòng mong ước dù số tín hữu đi dự lễ, hành hương các đền thánh rất đông: Từ 120 năm nay, tỷ lệ số tín hữu không tăng được 1% so với dân số trong nước. Cần phải thay đổi cách truyền giáo thế nào?
- Tại sao ở VN có nhiều vấn đề xã hội như tham nhũng, phá thai, nghiện ngập, nghèo đói, khuyết tật, tâm thần đến thế? Chúng bắt nguồn từ đâu và giải quyết chúng như thế nào dưới ánh sáng của Lời Chúa và của Giáo Hội?
- Cá nhân mỗi người chúng ta có thể làm được gì để đổi mới Giáo Hội và xã hội?
Những câu hỏi nghe qua có vẻ như quá lớn lao so với thân phận nhỏ bé của từng người chúng ta và như thể chúng ta đang muốn “ăn cơm nhà, vác tù và hàng tổng” hay muốn “đội đá vá trời”. Nhưng thật ra, với ơn Chúa giúp, chúng ta có thể làm được nhiều việc, nhất là làm cho dân tộc và Giáo Hội VN yêu quý của mình.
4.1.1. Những chỉ số của Việt Nam so với thế giới
• Việt Nam là một nước nghèo và đông dân, được Liên Hiệp Quốc (LHQ) xếp vào khu vực các nước đang phát triển. Tổng dân số thế giới tính đến giữa năm 2008 là 6.750.000.000 người, trong đó Việt Nam có 85.500.000 người, đứng thứ 12 trên thế giới.
• Theo báo cáo của Chương trình Phát triển LHQ, năm 2008, Chỉ số phát triển con người (HDI: Human Development Index): Việt Nam xếp hạng 106/182. Đây là chỉ số tổng hợp gồm 3 thành phần: tuổi thọ, mức độ phổ cập giáo dục và thu nhập bình quân đầu người.
• Xét về Tổng Sản lượng Nội địa (GDP: Gross Domestic Product): Việt Nam xếp hạng 122/177 nước (723 USD, năm 2007) (x. Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống kê 2007, NXB Thống Kê, tr. 687-688).
• Chỉ số Nghèo đói (HPI: Human Poverty Index): Việt Nam cũng đang ở mức 45/90 nước đang phát triển.
• Chỉ số Phát triển Giới (GDI: Gender related Development Index): phản ánh sự bất bình đẳng giữa nam và nữ theo 3 khía cạnh: tuổi thọ, kiến thức, mức sống: Việt Nam xếp thứ 91/157 nước.
• Chỉ số Ghi nhận Tham nhũng (CPI: Corruption Perceptions Index): Việt Nam xếp thứ 121/180 nước.
* Cơ cấu dân số Việt Nam
• Việt Nam có cơ cấu dân số trẻ. Theo thống kê 2006, độ tuổi của dân số Việt Nam như sau: từ 0-4 tuổi chiếm 7,45% dân số; từ 5-9 tuổi, 8,18%; từ 10-14 tuổi, 10,65%; từ 15-19 tuổi, 10,80%; từ 20-24 tuổi, 8,79%; từ 25-29 tuổi, 7,79%; từ 30-34 tuổi, 7,72%; từ 35-39 tuổi, 7,62%; từ 40-44 tuổi, 7,30%; từ 45-49 tuổi, 6,37%; từ 50-54 tuổi, 4,80%; từ 55-59 tuổi, 3,30%; từ 60-64 tuổi, 2,19%; từ 65 tuổi trở lên, 7,03% (x. Tạp chí Dân số và Phát triển, số 4, 2008).
• Dân số Việt Nam, năm 2008: 86.210.800 người, tăng 1,22% so với năm trước.
- Trong đó, nam: 42.384.500, chiếm 49,16% dân số; nữ: 43.826.300, chiếm 50,84% dân số.
Số chênh lệch nam nữ, 1.441.800 người, cũng liên quan đến các vấn đề xã hội như: vấn đề bình đẳng giới, mại dâm, lấy chồng nước ngoài…
- Trong đó, người sống ở thành thị: 24.233.000, chiếm 28,11% dân số; người sống ở nông thôn: 61.977.000, chiếm 71,89% dân số.
Tình trạng đô thị hoá tương đối chậm, nếu so sánh vào năm 1995: tỷ lệ người dân thành thị/nông thôn là 20,75%/79,25%. Tình trạng này liên quan đến nhiều vấn đề như di dân, y tế, thất nghiệp, giáo dục (x. Niên giám Thống kê 2008, tr. 39).
• Quy mô hộ: Hộ trung bình hiện nay là 4,1 người, ở thành thị là 3,9 người, nông thôn là 4,1 người. Quy mô hộ của dân số Việt Nam trong mấy năm vừa qua liên tục giảm: từ 4,5 người (2001) xuống còn 4,1 người (2006). Số người bình quân một hộ thấp nhất trong cả nước là đồng bằng Sông Hồng (3,7 người), cao nhất là Tây Bắc (4,6 người).
• Cả nước còn tới 11.058 hộ không có nhà ở; gần 23% số hộ ở nhà tạm, đơn sơ; 22% số hộ chưa được dùng điện; mới chỉ có 12,7% số hộ được dùng nước máy; 16,5% số hộ ở nông thôn có phương tiện sản xuất.
• Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, Việt Nam có khoảng trên 5 triệu người khuyết tật, chiếm khoảng 6,3% dân số. Tỷ lệ dân số bị thiểu năng về thể lực và trí tuệ chiếm khoảng 1,5%. Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn ở mức 25,2% dân số, vào năm 2005 (x. Tổng cục Thống kê, Điều tra biến động dân số, nguồn lao động và kế hoạch hoá gia đình, ngày 1-4-2006, NXB Thống Kê, Hà Nội, 2007).
• Theo báo cáo của Trung tâm Tâm thần Quốc gia, cứ 100 người Việt Nam thì có 10 người bị tâm thần nhẹ và 1 người bị tâm thần nặng, tỷ lệ này mỗi năm một gia tăng phản ánh tình trạng căng thẳng và bất ổn trong đời sống xã hội.
4.1.2. Một vài lĩnh vực đặc biệt
* Giới trẻ và vấn đề giáo dục
Dân số Việt Nam dưới 35 tuổi là 63,42%, tính theo cơ cấu dân số năm 2006. Tính đến thời điểm 30-9-2007, cả nước có 15.686.200 học sinh đang theo học 3 cấp phổ thông. Trong tổng số trẻ em ở độ tuổi nhập học tiểu học (6 tuổi) ở Việt Nam chỉ có 93,5% học lớp 1; và 6,5% không đi học. Tỷ lệ học sinh giảm dần qua mỗi lớp hay cấp: từ 6.860.300 học sinh học cấp I, đến cấp II còn 5.803.300 học sinh (84,6%), lên cấp III chỉ còn 3.021.600 học sinh (tức 44%) (x. Tạp chí Dân số và Phát triển, số 10, 2007). Số học sinh bỏ học tương đối cao do nhiều nguyên nhân và hoàn cảnh: khó khăn về kinh tế gia đình, học phí cao, phải lao động sớm, thiếu trường lớp, thiếu giáo viên tận tâm, nhất là thiếu chương trình nhất quán…
Năm học 2007-2008, số sinh viên là 1.928.400, trong đó: trường công lập là 1.622.500 và ngoài công lập là 265.900 trong tổng số 345 trường trên toàn quốc. Về giáo dục trung học chuyên nghiệp, có 273 trường với 621.000.100 học sinh. Nói chung, trình độ giáo dục trên đại học ở Việt Nam tương đối thấp so với các nước trong khu vực và các nước trên thế giới (x. Niên giám Thống kê 2007, tr. 523tt).
Hầu hết phụ nữ ở lứa tuổi từ 15-24 ở thành thị biết chữ (99%), trong khi ở nông thôn là 90%. Phụ nữ dân tộc ít người có tỷ lệ thấp hơn (dưới 70%). Tình trạng mù chữ có tương quan chặt chẽ với chỉ số giàu nghèo của hộ gia đình (x. Tạp chí Dân số và Phát triển, số 11, 2007).
Kết quả giáo dục còn là điều đáng quan tâm hơn nữa khi một bộ phận lớn người trẻ sống buông thả để hưởng thụ vật chất, chiều theo những dục vọng thấp hèn qua số sách báo, phim ảnh đồi truỵ nhan nhãn khắp nơi, qua những quán bar, bia ôm, massage trá hình mọc lên khắp nơi trong các thành phố và đô thị, qua số trẻ vị thành niên phá thai càng ngày càng tăng (mỗi năm có từ 1,4-2 triệu ca phá thai trong cả nước), số người nhiễm HIV (300.000 người), số người nghiện ma tuý (tính đến tháng 5-2008 là hơn 200.000 người).
* Lao động
Năm 2007, trong tổng số 85.154.900 người dân, có 44.171.900 người lao động (chiếm 51,87% dân số). Người lao động được tính từ tuổi 15 đến 60. Trong số người lao động có 22.176.400 người thuộc ngành nông và lâm nghiệp (chiếm 50,20% tổng số), thuỷ sản 1.634.400 người (3,70%), công nghiệp chế biến 5.963.100 người (13,50%), xây dựng 2.267.700 người (5,13%), thương nghiệp 5.291.700 người (11,98%), đảng và công đoàn 192.900 người (0,44%), còn lại là các ngành khác (x. Niên giám Thống kê 2007, tr. 51-54).
Điều đáng lưu ý trong lĩnh vực lao động là trong số hơn 44 triệu người, có 3.974.600 người làm trong lĩnh vực kinh tế Nhà Nước (chiếm 9%), trong khi số người làm ở lĩnh vực ngoài Nhà Nước là 38.657.700 (chiếm 87,51%), và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 1.539.600 người (chiếm 3,49%) (x. Niên giám Thống kê 2007, tr. 51-54).
Số người thất nghiệp trong cả nước, năm 2007, tương đối lớn (4,64%) và thời gian làm việc cả nước, năm 2006, là 81,79%; số người nhàn rỗi khi không có việc tương đối cao. Người nông dân chỉ làm khoảng 80% ngày công (x. Niên giám Thống kê 2007, tr. 61-62). Trong tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay, đã có thêm hơn 500.000 người thất nghiệp, tính đến thời điểm tháng 3-2009.
Trong tổng số trẻ em từ 5-14 tuổi, có 16% phải tham gia lao động, hầu hết trong số này tham gia vào các kinh tế hộ gia đình (13%), 2,4% làm các công việc nội trợ trong gia đình, ít nhất 28 giờ/tuần nên không thể học hành dễ dàng như các em khác (x. Tạp chí Dân số và Phát triển, số 10, 2007).
* Thu nhập
Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá thực tế trong cả nước là 636,000 đồng (2006), trong đó: thành thị là 1.058.000 đồng và nông thôn là 506.000 đồng (x. Niên giám Thống kê 2007, tr. 607).
Tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm từ 15,47% (2006) xuống còn 14,75% (2007). Tuy nhiên, một số tỉnh miền núi tại những vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người, số hộ nghèo vẫn còn chiếm tỷ trọng cao: Lai Châu 55,32%, Điện Biên 40,77%, Hà Giang 39,44% và Bắc Cạn 37,8% (x. Tạp chí Dân số và Phát triển, số 11, 2007).
Tình trạng thiếu đói vẫn xảy ra ở một số vùng bị thiên tai. Năm 2007, cả nước có 723.900 hộ với 3.034.500 nhân khẩu bị thiếu đói giáp hạt, giảm 6% hộ và 11,6% nhân khẩu so với năm 2006 (x. Tạp chí Dân số và Phát triển, số 4, 2008).
* Thiên tai và môi trường
Hằng năm Việt Nam chịu khoảng 10 cơn bão lớn và nhiều thiên tai khác như lũ lụt, hạn hán. Mỗi thiên tai đều gây ra những thiệt hại lớn lao về người và của mà cộng đồng xã hội chúng ta chưa biết cách phòng chống. Các nước châu Á đã tìm hiểu về vấn đề này để lập nên những hệ thống cảnh báo thiên tai và giáo dục cộng đồng về những phương pháp phòng chống để giảm thiểu thiệt hại.
Năm 2007 đã xảy ra 7 cơn bão và lũ lụt tại 50 tỉnh thành trực thuộc Trung ương với 435 người chết và mất tích, 850 người bị thương, trên 1.300 công trình bị phá huỷ, khoảng 460 km đê kè và 1.176 km kênh mương bị sạt lở, vỡ và cuốn trôi; làm ngập úng, hư hại 113.800 ha lúa; 6.900 ngôi nhà và 921 phòng học bị sập; 920.900 ngôi nhà bị ngập, tốc mái và nhiều công trình kinh tế-xã hội khác bị ảnh hưởng. Thiệt hại ước tính trên 11.600 tỷ đồng (x. Tạp chí Dân số và Phát triển, số 4, 2008).
Hội nghị Quốc tế về Môi trường ở Hà Nội, tháng 2-2008, đã chỉ rõ cho ta thấy Afganistan và Việt Nam là hai quốc gia sẽ chịu nhiều thiệt thòi nhất về việc thay đổi khí hậu toàn cầu. Nhiều vùng ven biển và các vùng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long sẽ chìm dưới mực nước biển và 17 triệu người dân sẽ trực tiếp bị ảnh hưởng.
Theo báo cáo kết quả tình hình thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn, năm 2007, có 69% dân số khu vực nông thôn được sử dụng nước sạch, 51% hộ nông thôn có hố xí hợp vệ sinh.
Mức độ ô nhiễm về bụi và khói xe trong các thành phố lớn gấp hàng chục lần so với mức độ cho phép, sẽ dẫn đến nhiều bệnh tật về đường hô hấp. Các nguồn nước bị huỷ hoại hay bị ô nhiễm do chất thải từ các nhà máy, xí nghiệp tham lợi không có hệ thống lọc nước thải. Nhiều người dân đã bị những bệnh nguy hiểm vì thiếu nước sạch (x. Tạp chí Dân số và Phát triển, số 4, 2008).
* Phuï nöõ
Gần 51% dân số là phụ nữ nhưng nhiều người còn bị bạo hành trong gia đình, chưa được hưởng sự bình đẳng giới, chưa biết bảo vệ sức khoẻ sinh sản. Tuổi trung bình kết hôn ở Việt Nam từ 26,6 (nam) và 23,2 (nữ). Tuy nhiên, có sự chênh lệch đôi chút giữa khu vực thành thị và nông thôn. Tỷ suất ly hôn và kết hôn tính theo phần ngàn là 0,2 so với 6,3 vào năm 2004 (x. Tạp chí Dân số và Phát triển, số 11, 2007).
Tỷ lệ kết hôn sớm, trước 15 và 18 tuổi, tương đối cao ở các vùng được coi là nghèo nhất bao gồm vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Đông Bắc và đồng bằng sông Cửu Long, cũng có sự khác biệt lớn giữa khu vực thành thị và nông thôn (x. Tạp chí Dân số và Phát triển, số 11, 2007).
Hiện tại có 75,7% phụ nữ đang có chồng hoặc đang sống chung như vợ chồng sử dụng biện pháp tránh thai. Biện pháp được sử dụng phổ biến nhất là vòng tránh thai được 35,9% phụ nữ áp dụng.
Việt Nam được xếp vào nhóm nước có mức nạo phá thai cao nhất thế giới, đặc biệt là số ca nạo phá thai ở tuổi vị thành niên và thanh niên trẻ. Năm 2003 là 1,7%, năm 2004 còn 1,2%. Các chuyên gia ước tính mỗi năm có từ 1,4-2 triệu ca nạo phá thai (x. Nguyễn Thiện Trưởng, Dân số và Phát triển Bền vững ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 23).
Tại Việt Nam chưa có số thống kê chính xác về số lượng, tính chất và mức độ của bạo hành trong gia đình. Theo số liệu của Bộ Công an, cứ 2 đến 3 ngày có 1 người chết vì liên quan đến bạo hành gia đình. Theo báo cáo của Bộ Y tế, năm 2005, ở đồng bằng sông Cửu Long có 1.011 người tự tử, ở Tây Nguyên có 715 người tự tử vì bạo hành trong gia đình. Toà án Nhân dân Tối cao chỉ rõ, từ năm 2000-2005, toà án các cấp đã xử 186.954 vụ ly hôn do bạo hành gia đình (x. Uỷ ban các Vấn đề Xã hội của Quốc hội, 2006). Theo các cuộc khảo sát được tiến hành trên một số vùng của Việt Nam, có tới 60-75% phụ nữ đã từng bị các dạng bạo hành gia đình, bao gồm: bạo hành thể xác, bạo hành tinh thần, bạo hành tình dục (x. Tạp chí Dân số và Phát triển, số 11, 2007).
Nhiều miền cao, vùng sâu vùng xa, nhất là đồng bằng sông Cửu Long có đến 60%-80% phụ nữ mắc bệnh phụ khoa vì thiếu nước sạch. Gần 3 triệu người goá bụa sống nghèo khổ, trong đó hơn 2 triệu là phụ nữ. Do tình trạng nghèo khổ, nhiều phụ nữ bị lạm dụng tình dục, phải lấy chồng nước ngoài, thậm chí phải bán cả thân xác. Theo Cục Phòng chống Tệ nạn Xã hội của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, 6 tháng đầu năm 2007, cả nước có 55.000 người hành nghề mại dâm, nhưng đó chỉ là con số kê khai hành chính, số người thực tế chắc chắn còn cao hơn nhiều.
* Y tế và sức khoẻ cộng đồng
Tính đến 31-8-2007, số người nhiễm HIV ước tính khoảng 293.000 người. HIV có mặt trong tất cả 64 tỉnh thành, 96% trong tổng số 659 quận huyện và 66% trong số 10.732 phường xã. Số người nhiễm HIV trong độ tuổi từ 20-39 là 78,9% và 85,2% là nam giới (x. Báo cáo của Nhà nước Việt Nam về Cam kết Phòng chống HIV/AIDS, Hà Nội, 1-2008, tr. 6). Cứ mỗi một ngày qua đi, có thêm 100 người nhiễm HIV mới và 40 người qua đời vì AIDS. Các tổ chức quốc tế đã trợ giúp hàng trăm tỷ đồng Việt Nam mỗi năm nhưng số người nhiễm HIV vẫn không giảm bớt do nhiều nguyên nhân. Các tổ chức đó đang thiết tha kêu gọi Giáo hội Công giáo cộng tác vào hoạt động xã hội này để ngăn chặn hiểm hoạ.
Ngành Y tế đã tập trung chỉ đạo việc phòng chống dịch bệnh, ứng cứu khi thiên tai, vệ sinh an toàn thực phẩm, sử dụng nước sạch. Tuy nhiên, trong ít năm gần đây, một số bệnh gây dịch thông thường như sốt xuất huyết, viêm gan siêu vi, sốt rét, dịch tiêu chảy, cúm gia cầm vẫn tiếp tục xảy ra trên nhiều địa phương. Điều này cần đến việc gây ý thức quần chúng về các dịch bệnh.
Tình hình ngộ độc thực phẩm chưa được cải thiện. Trên cả nước liên tiếp xảy ra các vụ ngộ độc tập thể với số lượng và quy mô ngày càng tăng. Trong năm 2007, cả nước có 6.800 trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó có 53 người đã chết. Tình trạng thực phẩm không an toàn như rượu có nồng độ Methanol quá cao, các sản phẩm sữa có chất Melamin, các thực phẩm có chất Formon đang là những vấn đề thời sự hiện nay. Chúng ta cần gây ý thức quần chúng để chỉ mua bán những thực phẩm an toàn.
1.1.3. Sự quan tâm của các giáo phận đối với các vấn đề xã hội
UBBAXH đã nhận được một số báo cáo của các giáo phận gửi về để biết những vấn đề xã hội ưu tiên. Chúng tôi xin liệt kê các vấn đề xã hội được quan tâm nhiều nhất (x. Bảng Thống kê những Vấn đề Xã hội tại 26 Giáo phận).
Tính đến ngày 12-3-2008, những vấn đề xã hội được quan tâm nhiều nhất là:
• Nghèo đói: 23
• Thất nghiệp: 19
• Giáo dục: 16
• HIV/AIDS, Ma tuý, Di dân:12
• Nước sạch: 11
• Ô nhiễm môi trường: 10
• Khuyết tật: 10
• Thiên tai: 9
• Nạo phá thai: 9
• Mại dâm: 7
• Nghiện rượư: 6
• Y tế: 6
Chúng tôi cũng liệt kê số liệu những đối tượng nghèo tại các giáo phận trên. Các đối tượng này đang được quan tâm săn sóc. Chúng tôi chia đối tượng thành hai loại: người lớn và trẻ em theo thống kê sau: (x. Bảng Thống kê Xã hội 26 Giáo phận)
Trẻ em
* Nghèo: 112.500
* Thất học: 72.830
* Khuyết tật: 8.221
* Mồ côi: 5.189
* Nhiễm HIV: 5.241
* Bị lạm dụng lao động: 3.364
* Trẻ đường phố: 546
* Bị lạm dụng tình dục: 411
* Phạm pháp: 337
Người lớn
Chúng tôi cũng thấy một số vấn đề xã hội đang được các giáo phận quan tâm như:
- Vấn đề di dân (620.700 người): các giáo phận Phát Diệm, Vinh, Long Xuyên, Phú Cường, Xuân Lộc quan tâm, không kể TP.HCM.
- Vấn đề giúp các dân tộc thiểu số (2.091.538 người): được các giáo phận Phát Diệm, Thanh Hoá, Vinh, Nha Trang, Đà Lạt, Long Xuyên, Phú Cường, Xuân Lộc quan tâm.
- Vấn đề giúp phụ nữ nghèo (161.795 người): được các giáo phận Thái Bình, Vinh, Cần Thơ, Long Xuyên quan tâm.
- Vấn đề giúp các người nhiễm HIV (14.539 người): được các giáo phận Thái Bình, Phát Diệm, Nha Trang, Cần Thơ, Đà Lạt, Long Xuyên, Xuân Lộc quan tâm (không kể TP.HCM có riêng một ban mục vụ về vấn đề này).
- Vấn đề giúp người nghiện ma tuý (8.227 người): được các giáo phận Thái Bình, Vinh, Nha Trang, Cần Thơ, Đà Lạt, Long Xuyên, Xuân Lộc quan tâm.
- Vấn đề giúp các bệnh nhân phong (3.277 người): được các giáo phận Thái Bình, Thanh Hoá, Vinh, Nha Trang, Vĩnh Long, Đà Lạt, Long Xuyên, Phú Cường, Xuân Lộc quan tâm.
- Vấn đề giúp các sinh viên nghèo (2.380 sinh viên): được các giáo phận Thái Bình, Phát Diệm, Vinh, Long Xuyên, Xuân Lộc quan tâm.
Trước tình trạng xã hội Việt Nam hiện nay, với nhiều vấn đề đáng quan tâm, chúng ta sẽ tìm hiểu GHVN đang có những hoạt động nào để đáp ứng nhu cầu khẩn thiết của đất nước.
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ NHÂN SINH RÚT RA TỪ HIỆN TRẠNG XÃ HỘI
1.2.1. Nhận định tổng hợp về tình trạng xã hội Việt Nam có giá trị hơn cả được trình bày trong bản Dự thảo Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X, được phổ biến trên các báo đài ngày 3-2-2006 và đã xin ý kiến đóng góp của nhân dân. Chúng tôi xin trích nguyên văn trong phần kiểm điểm 5 năm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội (2001-2005) và tổng kết 20 năm đổi mới (1985-2005), (x. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2006, Tr. 140-259).
“Năm năm qua, bên cạnh những thuận lợi cơ bản do tiến trình đổi mới tạo ra, nước ta cũng gặp không ít khó khăn, thách thức… (x. Bản Dự thảo, phần I, điểm 1) cũng như khuyết điểm và yếu kém sau đây:
+ Nhịp độ tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với khả năng… Trình độ khoa học, công nghệ, năng suất lao động còn thấp, giá thành nhiều sản phẩm cao hơn so với khu vực và thế giới. Nhiều nguồn lực và tiềm năng trong nước chưa được huy động và khai thác tốt. Đầu tư của Nhà Nước dàn trải, bị thất thoát nhiều. Một số công trình xây dựng lớn, quan trọng của quốc gia không hoàn thành theo kế hoạch, lãng phí trong chi tiêu ngân sách Nhà Nước và tiêu dùng xã hội còn nghiêm trọng. Môi trường sinh thái ở nhiều nơi ô nhiễm nặng. Việc khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nhìn chung chưa hợp lý.
+ Cơ chế, chính sách về văn hoá - xã hội chậm đổi mới, nhiều vấn đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết tốt.
Thành tựu xoá đói giảm nghèo chưa thật vững chắc, nguy cơ tái nghèo còn lớn. Chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa các tầng lớp nhân dân, giữa các vùng có xu hướng tăng. Nhu cầu bức xúc về việc làm ở các thành thị và nông thôn chưa được đáp ứng tốt. Nhiều vấn đề xã hội quan trọng chưa được giải quyết thoả đáng.
+ Giáo dục và đào tạo chất lượng còn thấp, cơ cấu chưa hợp lý… Xu hướng xa rời tôn chỉ, mục đích, chạy theo thị hiếu thấp kém vì lợi ích vật chất đơn thuần, vì lợi ích cục bộ cá nhân… chưa được khắc phục có hiệu quả. Tệ quan liêu tham nhũng lãng phí vẫn nghiêm trọng. Tội phạm và một số tệ nạn xã hội có chiều hướng tăng. Tai nạn giao thông gây ra nhiều thiệt hại về người và của” (x. Bản Dự thảo, phần I, điểm 2).
+ “Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở nhiều nơi còn thụ động, mang tính hành chính, hình thức. Dân chủ trong xã hội còn bị vi phạm. Kỷ cương, kỷ luật ở một số cấp và lĩnh vực không nghiêm.
+ Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, thiếu trung thực và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng.
+ Tình trạng nói nhiều làm ít, làm không đến nơi đến chốn hoặc không làm còn diễn ra ở nhiều nơi…” (x. Bản Dự thảo, phần I, điểm 4).
Khi trích dẫn nhiều điểm tiêu cực trong hiện tình đất nước, chúng tôi muốn mời gọi mọi người nhìn thẳng vào thực tế để nhìn ra nguyên nhân sâu xa của chúng. Nếu chúng ta chỉ nhìn gần để thấy ngôi nhà của mình 20 năm trước là túp lều tranh rách nát bây giờ đã là nhà gạch mái ngói, ta có thể tự hào về sự phát triển và tiến bộ này. Nhưng nếu chúng ta nhìn xa trông rộng, so sánh ngôi nhà của mình hiện nay với các nước trong khu vực ta mới thấy bàng hoàng, e ngại về sự chậm tiến của dân tộc. Cách đây 30 năm, các nước như Thái Lan, Hàn Quốc, Philippines chỉ ngang tầm với Miền Nam Việt Nam, còn Malaysia, Indonesia, ta vẫn cho là thấp kém hơn mình. Bây giờ các nước ấy đã vượt xa mình về rất nhiều mặt. Nếu chúng ta không khám phá được nguyên nhân sâu xa nằm trong chính con người Việt Nam mà chỉ đi tìm các giải pháp kinh tế, khoa học, chính trị thì sợ rằng khoảng cách này sẽ còn xa hơn nữa.
4.1.2. Nhận định của một vài viện nghiên cứu xã hội về con người Việt Nam
Muốn thay đổi và phát triển xã hội Việt Nam, chúng ta phải quan tâm nghiên cứu kỹ lưỡng con người Việt Nam hiện đại để thấy rõ những mặt mạnh và yếu. Nhà Nước đã giao cho Viện Khoa học Xã hội Việt Nam nghiên cứu một chương trình trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2006-2010 là: “Xây dựng con người và phát triển văn hoá Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế”. Chủ nhiệm chương trình: GS.TS. Dương Phú Hiệp. Mã số: KX.03/06-10. Viện Triết học thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam cũng đang nghiên cứu chương trình này với đề tài: “Đặc điểm tư duy và lối sống của con người Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế”. Chủ nhiệm đề tài là PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hà. Mã số: KX.03.07/06-10.
Ngay từ năm 2007, UBBAXH đã quan tâm và nghiên cứu về con người Việt Nam trong hoàn cảnh hiện tại. Linh mục Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Tổng Thư ký UBBAXH, cũng đã trình bày đề tài: “Cấu trúc tâm lý và văn hoá của người Việt Nam đối với các vấn đề xã hội” trong Hội nghị Quốc tế được tổ chức tại Hà Nội, từ 15 đến 19-10-2007, và trình bày đề tài “Trách nhiệm xã hội của UBBAXH-Caritas Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường” trong Hội nghị Quốc tế được tổ chức tại Đồ Sơn, Hải Phòng, từ 12 đến 15-2-2009. UBBAXH-Caritas Việt Nam đang tiếp tục nghiên cứu đề tài này để đưa vào chương trình hành động của UBBAXH-Caritas Việt Nam trong tương lai.
Khi nghiên cứu hiện trạng xã hội, chúng ta thấy con người Việt Nam, giống như bất cứ dân tộc nào, bị tác động bởi những yếu tố địa lý, lịch sử, văn hoá nên đã kết thành một thực thể phức tạp với nhiều đức tính và khuyết điểm. Chỉ khi hiểu rõ thật sự con người, ta mới có thể giải quyết được những vấn đề của con người, cá nhân, gia đình và xã hội.
Nói đến con người Việt Nam, chúng ta có thể nhắc đến bao điều kỳ diệu, bao đặc tính tốt đẹp mà nhiều người đã không ngớt lời ca tụng như Toan Ánh trong bộ Nếp Cũ - Con người VN, Sơn Nam trong Người Sài Gòn, Vương Hồng Sển trong Sài Gòn năm xưa... nhất là Vũ Hạnh (A. Pazzi) trong Người Việt kỳ diệu. Những lời ca tụng đó có thể ru ta vào giấc mộng đẹp đã qua mà không dám nhìn thẳng vào thực tế để giải quyết những vấn đề hiện nay.
Có lẽ chúng ta cần nhìn rõ con người VN để nhận ra cả hai mặt tốt xấu, nhất là mặt xấu mà ít người dám nói vì sợ bị kết tội “vạch áo cho người xem lưng”. Nhà văn Bá Dương đã dám viết Người Trung Hoa xấu xí, được Nguyễn Hồi Thủ dịch sang tiếng Việt. Những bài viết này tác động mạnh đến dân tộc ông cũng như đóng góp nhiều cho công cuộc phát triển đất nước Trung Hoa. Chỉ trong vòng 50 năm qua, từ một dân tộc lạc hậu, chậm phát triển, nước Trung Hoa đã tiến lên địa vị của một cường quốc, và nhiều lĩnh vực vượt cả Anh, Pháp, Đức.
Đã có những nghiên cứu lớn về con người Việt Nam, thí dụ như của Viện Nghiên cứu Xã hội Hoa Kỳ, kết quả rất đáng cho chúng ta lưu ý. Viện này đã đưa ra 10 đặc điểm của người Việt Nam như sau:
- Cần cù lao động, song dễ thoả mãn, nặng tâm lý hưởng thụ.
- Thông minh, sáng tạo, song chỉ có tính chất đối phó, thiếu tư duy dài hạn nên ít chủ động.
- Khéo léo, song không duy trì đến cùng (ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng của sản phẩm).
- Vừa thực tế, vừa mơ mộng nên không có ý thức nâng lên thành lý luận.
- Ham học hỏi, có khả năng tiếp thu nhanh, song ít khi chịu học từ đầu đến đuôi nên không hệ thống hoá được kiến thức, mất căn bản. Ngoài ra, học tập không phải vì tự thân của mỗi người (nhỏ học vì gia đình, lớn học vì sĩ diện, vì cần kiếm công ăn việc làm, ít khi học vì thú vui được khám phá và hiểu biết những điều mới lạ).
- Xởi lởi, chiều khách, song không bền.
- Tiết kiệm, song nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô bổ (sĩ diện, khoe khoang, thích hơn đời).
- Có tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, song hầu như chỉ trong những hoàn cảnh, những trường hợp khó khăn, bần hàn; còn trong điều kiện sống tốt hơn, giàu có hơn thì tinh thần này ít xuất hiện.
- Có tính hiếu hoà, nhẫn nhịn, nhưng nhiều khi lại hiếu chiến, hiếu thắng vì những tự ái vặt, đánh mất đại cuộc.
- Thích hợp quần, tụ tập, nhưng lại thiếu khả năng liên kết để tạo ra sức mạnh: cùng một việc, một người làm thì tốt, ba người làm thì kém, bảy người làm thì hỏng.
Thạc sĩ Nguyễn Lê Minh Tiến, trong bài phát biểu tại cuộc Hội thảo Khoa học về “Đặc điểm Tư duy và Lối sống của người Việt trước yêu cầu hội nhập quốc tế”, ngày 20-3-2009, tại CLB Nguyễn Văn Bình, TP.HCM, cũng đã kể thêm một số khuyết điểm của người Việt hiện nay như:
+ Giờ cao su: không tuân thủ chặt chẽ yếu tố thời gian trong hoạt động của mình bắt nguồn từ lối sống nông nghiệp.
+ Tình lý lẫn lộn: xét đoán mọi việc dựa trên tình cảm chứ không phải lý trí do xuất thân từ mô hình xã hội cộng đồng.
+ Trách nhiệm tập thể lấn át trách nhiệm cá nhân: ít dám nhận trách nhiệm về mình.
+ Tư duy “ăn xổi”: Chỉ thấy cái lợi thiết thực trước mắt hơn lợi ích lâu dài.
+ Thích làm theo hơn là sáng tạo: do thiếu tự tin và óc phê phán.
+ Trọng hình thức hơn chất lượng: chú ý đến bằng cấp, điểm số hơn là khả năng thật sự.
Những nhận định trên đây và những kết quả nghiên cứu khác có thể giúp ích nhiều cho những ai quan tâm đến những vấn đề xã hội. Nhưng những vấn đề xã hội chỉ có thể được giải quyết một cách hiệu quả nếu chúng ta tìm ra nguồn gốc những đức tính và khuyết điểm trong cấu trúc tâm lý và văn hoá của người Việt Nam, cũng như tìm ra được đường hướng sửa chữa những khuyết điểm. Điều này cần đến sự nghiên cứu và làm việc lâu dài của các nhà giáo dục, tâm lý, xã hội học.
Con đường hình thành nên cấu trúc tâm lý xã hội của người VN đi từ những nhận thức, diễn tả ra hành động, rồi những hành động được lặp đi lặp lại tạo thành thói quen để lâu dài thành đặc tính cá nhân, rồi nhiều cá nhân tạo nên bản sắc dân tộc. Vì thế, muốn sửa đổi những khuyết điểm trong đặc tính này, chúng ta cũng phải bắt đầu từ việc gây ý thức xã hội, rồi tạo nên những thói quen cho tập thể và sau một vài thế hệ mới có thể tạo nên những yếu tố mới trong bản sắc dân tộc. Do đó, chúng ta cần quan tâm đến lĩnh vực đào tạo lương tâm ngay chính, công lý, trách nhiệm và liên đới xã hội cho các công dân, nhất là những người trẻ trong đất nước hiện nay. Sau đó, phải tìm được những biện pháp hay đường hướng thích hợp để hoàn thiện nhân cách theo từng độ tuổi hay môi trường sống. Những công việc này đòi hỏi sự cộng tác chặt chẽ của các nhà tâm lý, khoa học, giáo dục, xã hội cũng như các văn nghệ sĩ, những nhà truyền thông xã hội và cả những người hoạt động trong lĩnh vực tôn giáo…
Riêng đối với người tín hữu Công giáo, chúng ta càng phải tích cực cũng như chủ động trong việc xây dựng và hoàn thiện giá trị con người VN theo Tin Mừng vì con người là đối tượng chính yếu trong công trình tạo dựng của Thiên Chúa và là đích điểm cứu độ của Đức Giêsu Kitô. “Không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng người môn đệ Đức Kitô” (Công đồng Vatican II, Gaudium et Spes, số 1). Chúng ta lại có một lợi điểm lớn là cuốn Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo với những đường hướng tích cực và những nguyên tắc rõ ràng để giải quyết các vấn đề xã hội cũng như cổ vũ cho công lý, hoà bình (x. Nguyễn Ngọc Sơn, Bài phát biểu tại Hội nghị Quốc tế về “Công bằng, Trách nhiệm và Liên đới Xã hội” từ ngày 15 đến 19-10-2007, tại Hà Nội, Việt Nam, tr. 980-992).
Chính vì thế, UBBAXH sẽ quan tâm nhiều đến việc hoạch định đường hướng để đào tạo con người Việt Nam mà chúng ta sẽ khai triển sau đây.
4.2. ĐI TÌM NGUYÊN NHÂN SÂU XA CỦA TÌNH TRẠNG XÃ HỘI CŨNG NHƯ CỦA CÁC VẤN ĐỀ NHÂN SINH
4.2.1. Cấu trúc tâm lý xã hội của người VN
Về mặt địa lý
* Nước VN là một dải đất hình chữ S, nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, phía Đông bán đảo Đông Dương. Dù cùng một nguồn gốc, nhưng người VN lại rất khác với người Trung Hoa ở phía Bắc, với người Lào và Cambodia ở phía Tây, vì những rặng núi hình rẻ quạt ở phía Bắc và dãy Trường Sơn hùng vĩ ở phía Tây đã ngăn cách các dân tộc đó với người VN, ngăn cản phần nào sự hoà nhập của các nền văn hoá khác nhau. Phía Đông, Nam và Tây Nam của đất nước là Biển Đông và Vịnh Thái Lan. Nền văn hoá dân tộc được xây dựng theo truyền thuyết những người con theo mẹ lên núi hái thuốc thành tiên và theo cha xuống biển vượt khó thành rồng. VN có 2.860 con sông có chiều dài từ 10km trở lên (x. Tổng Cục Du lịch, Non nước VN, Hà Nội, 2000, tr. 9), trong đó có nhiều hệ thống sông lớn như sông Mêkông, sông Hồng.
Gắn bó với núi cao, biển rộng, sông dài nên người VN thường có nhiều tình cảm cao thượng, biết nhìn xa trông rộng và gần gũi với thiên nhiên. Những tâm tình tốt đẹp này hình như đang bị sói mòn và biến chất, đặc biệt với làn sóng đô thị hoá hiện nay, nơi những cư dân thành thị sống trong những toà nhà cao tầng, những căn phòng nhỏ hẹp che chắn tầm mắt con người. Vì thế trong việc đào tạo con người Việt Nam chúng ta nên lưu tâm đến bản sắc này để thúc đẩy việc bảo vệ môi trường sinh thái và sống hòa hợp với thiên nhiên.
* Hướng tiến bị bên núi, bên biển ngăn cản buộc dân tộc phải hướng về phía Nam từ đồng bằng châu thổ sông Hồng ở miền Bắc vượt qua các đồng bằng nhỏ hẹp ở miền Trung để vào tới đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam. Bước chân khai phá của người Việt chỉ dừng lại trước biển cả ở cực Nam đất nước. Nhưng thiên nhiên vẫn ưu đãi cho dân Việt nên bờ cõi tiếp tục mở rộng về phương Nam vì hằng năm đồng bằng Nam Bộ vẫn trải rộng lấn về phía biển từ 60-80m, do phù sa của sông Cửu Long bồi đắp. Người Việt, với tâm hồn của những người tiên phong khai hoang dựng nước, đã không sợ hiểm nguy, dám đối đầu với những thử thách, bất trắc của cuộc sống, đã viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc. Vì thế, càng tiến vào niềm Nam, người Việt càng hành động phóng khoáng, cởi mở và liều lĩnh hơn.
* Khí hậu cũng ảnh hưởng khá nhiều đến tâm tính con người, tình trạng gia đình và hoạt động xã hội. VN nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới của nửa cầu Bắc, nghiêng về chí tuyến hơn là xích đạo nên có nhiệt độ cao, trung bình từ 220C-270C. Hằng năm, có khoảng 100 ngày mưa với lượng mưa trung bình từ 1.500 -2.000ml/cm2, độ ẩm khoảng 80%, số giờ nắng khoảng 1.500-2.000 giờ/năm. Do ảnh hưởng của gió mùa và địa hình phức tạp, nên khí hậu VN luôn thay đổi trong năm, giữa năm này với năm khác, giữa nơi này với nơi kia, từ Bắc xuống Nam và từ thấp lên cao. Nhìn chung, VN có một mùa nóng mưa nhiều và một mùa tương đối lạnh ít mưa. Nhưng khí hậu các tỉnh ở phía Bắc, từ đèo Hải Vân trở ra, thay đổi theo 4 mùa khá rõ rệt với xuân, hạ, thu, đông. Khí hậu này cũng tạo ra những bất lợi về thời tiết vì Việt Nam bị bão tố, lũ lụt, hạn hán thường xuyên đe doạ (x. Tổng Cục Du lịch, Non nước VN, Hà Nội, 2000, tr. 11-12).
Do đó, tâm tính người VN có thể nói dễ thay đổi theo kiểu "sáng nắng chiều mưa" hơn những dân tộc sống trong các vùng khí hậu ổn định, ôn hoà. Gia đình từ đó cũng chịu những hậu quả của sự thay đổi thất thường này như: có nhiều cãi vã, xung đột. Hoạt động kinh tế xã hội cũng chịu sự thay đổi thường xuyên do các quyết định bất nhất của người lãnh đạo. Nhận ra sự tác động của thời tiết, ta sẽ thấy người Việt cần tập tính kiên nhẫn, ôn hoà, ý chí vững mạnh thì mới có thể thực hiện những kế hoạch xã hội lâu dài.
Về mặt lịch sử
Tiếp đến, chúng ta chú ý hơn về con người VN qua các giai đoạn lịch sử hình thành dân tộc, tức là chú ý đến khía cạnh văn hoá xã hội của người Việt.
* Giai đoạn tiền sử: Người VN có nguồn gốc dân tộc trong khối các chủng Đông Nam Á (Austro-asiatique) hình thành từ 2 đại chủng Á (Mongoloid) và chủng phương Nam (Australoid): vào khoảng 10.000-8.000 năm trước Công nguyên (TCN). Sau đó từ 5.000 năm TCN, chủng Cổ Mã Lai (Indonesian) ở miền Đông Nam Á, phối hợp với các chủng Nam đảo, Nam Á để hình thành nên các nhóm Chàm - Môn Khmer - Việt Mường - Tày Thái - Mèo Dao - Tiền Thái - Tạng Miến - Hán: tạo nên 54 dân tộc trong đại gia đình Việt Nam (x. Lê Văn Chưởng, Cơ sở Văn hoá Việt Nam, NXB Trẻ, 1999, tr. 24-27; Trần Ngọc Thêm, Cơ sở Văn hoá Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999; NN, Niên giám GHCGVN 2005, NXB Tôn giáo, tr. 454-466). Không gian văn hoá gốc VN thời tiền sử là không gian của các dân tộc có nền văn minh nông nghiệp lúa nước, văn minh đồ đồng và ngôn ngữ đơn lập. Sau đó đến một vài thế kỷ trước Công nguyên, không gian gốc này bị thu hẹp vì các dân tộc ở vùng Nam sông Dương Tử bị người Trung Hoa bành trướng và đồng hoá.
Người Việt có những nét đặc thù của nền văn hoá nông nghiệp: tôn trọng và hoà hợp với thiên nhiên, có lối sống định canh, định cư và nền kinh tế tự cung, tự cấp. Trong mối quan hệ với gia đình, người Việt trọng nữ và nhiều cộng đồng xã hội còn bị ảnh hưởng theo chế độ mẫu hệ. Đời sống nông nghiệp gắn bó chặt chẽ với gia tộc và xóm làng, trọng tình hơn trọng lý, trọng đức hơn trọng tài, trọng văn hơn trọng võ. Lối nhận thức tư duy thiên về tổng hợp, mang tính chủ quan, theo cảm tính và kinh nghiệm hơn là mang tính phân tích khách quan và hợp lý theo một hệ thống suy tư rõ ràng.
* Trong cách ứng xử với môi trường xã hội, người Việt dễ dung hợp trong tiếp nhận, ngay cả trong tín ngưỡng. Ngoài tín ngưỡng bái vật, đa thần, người Việt đón nhận tam giáo Đông Phương: Nho - Phật - Lão, và sau này cả Thiên Chúa giáo. Niềm tin vào một chủ thể tối cao, gọi là Trời mà sau này các tôn giáo khác có thể xác định rõ hơn là Thiên, Chúa Trời, Đức Thượng Đế, Đấng Cao Đài, Đức Allah, Thiên Chúa,.. lúc nào cũng bàng bạc trong tâm hồn người Việt để thúc đẩy họ tin tưởng và sống theo lương tâm ngay chính của mình. Chính niềm tin ấy giúp cho đời sống họ được an vui như câu đồng dao: “Lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm, lấy rơm đun bếp…”, xã hội được ổn định “trời cao có mắt”, ngăn ngừa những hành động ác đức “thiên bất dung gian”.
Trong hoàn cảnh xã hội hiện nay, các tôn giáo có thể đóng góp rất nhiều cho công lý, trách nhiệm và liên đới xã hội. Nhờ niềm tin vào Đấng Tối Cao thúc đẩy, người ta dễ lắng nghe tiếng lương tâm ngay chính để vượt qua những cơn cám dỗ của tiền bạc, của danh lợi, giúp họ sống liêm khiết thay vì tham nhũng, vượt qua cơn cám dỗ của quyền lực, của dục vọng để coi những người cấp dưới như những người anh em trong đại gia đình nhân loại và dám chia sẻ những của cải mình có cho những người nghèo, để không coi người khác như nhưng phương tiện giải trí của mình. Điều đáng lưu ý là hiện nay nhiều người trong xã hội chúng ta đánh mất niềm tin tôn giáo dù trước đây họ đã có hoặc không có một niềm tin tưởng nào đối với Đấng Linh Thiêng do được giáo dục trong một môi trường không tín ngưỡng. Vấn đề đặt ra cho chúng ta là làm sao xây dựng một nền đạo đức xã hội tôn trọng tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của mọi người thay vì mất nhiều sức lực cho những tranh cãi về ý thức hệ.
* Giai đoạn thống trị của các đế chế Trung Hoa kéo dài trong 11 thế kỷ ảnh hưởng không ít tới con người cũng như gia đình và xã hội VN. Năm 179 TCN, nước Âu Lạc do An Dương Vương Thục Phán (257-208 TCN) lập nên với thành Cổ Loa bị Triệu Đà, vua của nước Nam Việt chiếm. Năm 111 TCN, nước Nam Việt bị chuyển sang tay nhà Hán rồi trải qua nhiều đời vua Trung Hoa cho đến năm 938, khi Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán, trên sông Bạch Đằng, mới khôi phục được nền độc lập cho đất nước.
Dù sống dưới chế độ bóc lột hà khắc với chính sách “chia để trị” của ngoại xâm, người Việt vẫn kiên nhẫn chịu đựng gian khổ, biết chờ thời cơ trỗi dậy với cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40-43), Bà Triệu (248), Lý Bí (thế kỷ VI), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (766-791). Tuy nhiên, vì sống quá lâu dưới ách thống trị, người Việt có đặc tính thường nhút nhát, sợ sệt, không dám bày tỏ trực tiếp ý kiến của mình, nhất là trước mặt người lạ. Họ hay giấu giếm tình cảm của mình, chỉ thân thiện vồn vã bên ngoài để tránh cho quân thù khỏi chú ý, làm hại. Họ dễ nghi ngờ vì nghĩ rằng ai cũng có thể là kẻ thù, thiếu tin tưởng và ít cộng tác với người khác, ngay cả với người thân.
Những đặc tính này tạo ra nhiều điểm bất lợi cho đời sống gia đình và xã hội vì gia đình cũng như xã hội là những cộng đồng đòi hỏi sự hiệp thông trọn vẹn, sự cởi mở chân thành, tin tưởng, lo lắng cho nhau giữa các thành viên và cùng phục vụ cho công ích.
Hiện nay, chúng ta có thể nhận thấy sự chia rẽ, thiếu đoàn kết diễn ra khắp nơi, trong mọi ngành nghề, tổ chức xã hội và cả trong các tổ chức tôn giáo, vì tận trong tiềm thức hay vô thức, người ta vẫn nghi kỵ và coi nhau như kẻ thù. Dù thời Bắc thuộc đã qua nhưng những di chứng tiêu cực dường như vẫn còn ăn sâu trong tâm hồn người Việt! Điểm quan trọng là phải nêu cao sự đoàn kết dân tộc và tình liên đới nhân loại trong việc đào tạo con người Việt Nam để vượt qua những di chứng đó.
* Hơn nữa, người Việt yêu mến quê hương và chống lại kẻ ngoại xâm. Để biểu thị sự bất hợp tác, họ chỉ làm việc cầm chừng và ra vẻ chăm chỉ dưới ánh mắt theo dõi hay dưới làn roi hành hạ của quân thù. Do làm mãi dưới chế độ này, người Việt dễ trở thành người làm việc nửa vời, chỉ cố gắng khi có sự quan sát hay theo dõi của người khác thay vì làm việc với sự đam mê hay ý thức trách nhiệm. Ngoài ra, vì quan niệm tất cả những gì công cộng như vườn cây, đường xá, cầu cống... đều là của chung, do kẻ thù quản lý, nên họ chẳng thiết tha gìn giữ. Hơn nữa, những thứ chung đó cũng là do sưu cao thuế nặng của họ đóng cho Nhà nước đô hộ nên họ nghĩ có lấy cắp của công cũng chỉ là hoàn trả cho mình, thậm chí có người còn cho rằng: "Ăn cắp của công là không có tội". Thái độ này dễ dẫn đến tệ nạn tham ô, lãng phí của công.
Ngày nay, chúng ta vẫn thấy tồn tại cách làm việc cầm chừng, thái độ lãng phí và coi thường này trong những












