My Opera is closing 3rd of March

A-to-Z

Subscribe to RSS feed

Sơ lược về lịch sử cách tiếp cận hiện tượng Ẩn dụ

, , ,

Ẩn dụ (metaphor) vốn vẫn được hiểu như một hiện tượng tu từ, mang tính ngôn ngữ thuần túy. Theo các nhà Từ nguyên học, metaphor có gốc từ metapherin, một từ Hi Lạp mang nghĩa "phép chuyển nghĩa tu từ" (rhetorical trope).

Từ thế kỉ IV trước Công nguyên, Aristotle đã phát hiện ra cách sử dụng ngôn ngữ hình tượng (Figura) như so sánh, ẩn dụ, tương phản, hoán dụ, khoa trương, trong đó, ông đặc biệt chú ý đến ẩn dụ. Theo Aristotle, ẩn dụ là một từ với một nghĩa nào đó khác nó, có thể chuyển sang nghĩa này hay một nghĩa khác, từ một loài sang một giống hoặc từ một giống sang một loài, hoặc từ một loài sang một loài khác hoặc được dùng theo kiểu đồng dạng (Thi pháp, chương 21). Khi trình bày phần Tu từ học, nhà Triết học và Mỹ học này cũng nhấn mạnh thêm rằng ẩn dụ có tính sáng sủa, và tác động mạnh. Mọi từ đều có thể dùng chung hoặc dùng làm ẩn dụ, hoặc dùng làm cái tu sức, hoặc dùng làm cái kích thích, hay cái biến đổi. Nói cách khác, ẩn dụ là một sự chuyển dạng. Phát hiện ra ẩn dụ như một biện pháp tu từ là một đóng góp ý nghĩa lớn của Tu từ học cổ đại.

Sau Aristotle, Cicero (106-43 TCN) đặc biệt chú ý đến cấu tạo hình thức của ẩn dụ và coi đó là phép so sánh bớt đi một từ.

Đến thế kỉ XVIII, ẩn dụ được César Chesneau Dumarsais xem xét dưới ánh sáng Tu từ học. Quan điểm của ông được một người Pháp khác là Pierre Fontanier tiếp nối vào thế kỉ XIX. Khi nghiên cứu sâu về phép chuyển nghĩa, hai người Pháp này đã nhìn ẩn dụ từ quan điểm Tu từ học.
Thế kỉ XX mở ra rất nhiều kiến giải khác nhau về ẩn dụ. Đầu tiên phải kể đến Roman Jakobson, một nhà Ngôn ngữ học, Kí hiệu học, Thi pháp học người Mỹ. Ông cho rằng ẩn dụ là kết quả của sự tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng, là hình ảnh ngôn từ mang tính chất nước đôi, tức là cùng một lúc mang hai nghĩa. Ngoài ra, ẩn dụ cũng chính là dùng kí hiệu này để thay thế cho một kí hiệu khác.
Ẩn dụ và phép chuyển nghĩa tiếp tục được nghiên cứu bởi Gerard Genette và Paul Ricoeur. Paul Ricoeur nổi lên với tác phẩm La Métaphore vive xuất bản năm 1975 (Ẩn dụ sống) mà bản tiếng Anh chuyển dịch thành Qui luật của ẩn dụ (The rule of metaphor). Trong cuốn sách này, ông chỉ trích một số điểm trong lí thuyết của Aristotle và Tu từ học truyền thống cũng như đề ra Thuyết minh học, chủ trương nghiên cứu về cách lĩnh hội một văn bản dùng ngôn ngữ tự nhiên. Theo Paul Ricoeur:
[…] ẩn dụ là quá trình tu từ qua đó diễn ngôn, nhờ những hư cấu nào đó, mở ra những sức mạnh nhằm tái hiện hiện thực […] tạo phẩm ngôn ngữ là sự tác hợp của những huyễn tưởng và mô phỏng […] (dẫn theo François Blumenfeld-Kouchner)
Từ quan điểm tương tác (interaction view), Max Black cố vượt lên cách lí giải quá giản đơn rằng ẩn dụ chỉ là một phép so sánh tỉnh lược. Ông cho rằng một ẩn dụ sẽ gồm hai chủ thể chính và thứ. Ví dụ như, trong câu nói: “Juliet is the sun” , chủ thể chính (principal subject) là “Juliet” và chủ thể thứ (subsidiary subject) là “mặt trời”. Theo ông, ẩn dụ có được là nhờ sự tương tác giữa hai chủ thể. Theo ông, ẩn dụ xảy ra khi nó:
[...] lựa chọn, tô đậm, thanh lọc, dàn xếp những nét đặc trưng của chủ thể chính thông qua việc hàm ngụ những nhận định thường được áp dụng vào chủ thể thứ nhưng lại nhằm nói về chủ thể chính ấy [...] (Max Black, "Metaphor," tr. 25-47, Models and Metaphors, Ithaca, Cornell University Press, 1962 – dẫn theo [41])
Ngoài ra, điểm nổi bật của Max Black là nhìn ra được rằng:
[...] ngoài nghĩa gốc, một ẩn dụ có thể còn ẩn chứa một nội dung tri nhận xác thực (positive cognitive content) mà người ta không thể hiểu được một cách ngọn nguồn nếu chỉ dựa vào việc diễn giải chữ nghĩa. [...] (dẫn theo [41])
Tuy nhiên, đến năm 1980, khi tác phẩm Metaphor we live by của G. Lakoff và M. Johnson ra đời, một hướng tiếp cận mới về ẩn dụ mới thực sự được chú tâm. Lakoff và Johnson đã nêu lên và phân tích đầy hấp dẫn cũng như thuyết phục những dẫn chứng nói lên rằng ẩn dụ không chỉ là một hiện tượng ngôn ngữ mà hơn thế, là một hiện tượng của tư duy. Điều đáng nói là cách tiếp cận của hai tác giả không phải là cách tiếp cận của tâm lí học, mà vẫn là cách tiếp cận đứng trên địa hạt ngôn ngữ học: từ những dẫn chứng sinh động về ẩn dụ trong ngôn ngữ, hai tác giả cho chúng ta thấy được một trong những con đường mà chúng ta trải qua để nhận thức thế giới, đó là cách nhận thức những hiện tượng, sự vật mới lạ qua những hiện tượng, sự vật đã biết, dựa trên sự tương đồng.
Như vậy, có thể nói, khái niệm ẩn dụ thường được tiếp cận từ những hướng chính sau đây: một là theo quan điểm truyền thống, coi ẩn dụ là một biện pháp tu từ mang lại vẻ đẹp, độ sâu sắc cho câu văn, lời nói; hai là theo quan điểm của từ vựng ngữ nghĩa, coi ẩn dụ là một phương pháp tạo nghĩa mới; ba là quan điểm hiện đại, coi ẩn dụ là một hiện tượng phản ánh sự tri nhận thế giới của con người.

(Trích Khóa luận tốt nghiệp Khảo sát một vài ẩn dụ định hướng chứa các từ định hướng không gian trong "Truyện Kiều" (theo quan điểm của Ngôn ngữ học tri nhận), Nguyễn Hoàng An, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, 2007)
[/ALIGN]