My Opera is closing 3rd of March

A-to-Z

Ẩn dụ theo quan điểm của Ngôn ngữ học tri nhận

, , ,

Có thể không phải là những người đầu tiên đặt ẩn dụ trong mối quan hệ với tư duy mà cụ thể là khả năng tri nhận của con người nhưng mốc quan trọng trong sự phát triển của lý thuyết hiện đại của tri nhận luận về ẩn dụ phải là 1980, khi công trình Metaphor we live by của G. Lakoff và M. Johnson ra đời.
Trước đó, Black (1962) đã cho rằng ẩn dụ chứa một "nội dung tri nhận xác thực" (positive cognitive content), Michael Reddy, người được Lakoff coi là "thực ra đã có những đóng góp vượt lên cả những điều mình khiêm nhường đề ra" đã cho rằng ẩn dụ là một quĩ tích của những suy nghĩ chứ không phải của ngôn ngữ và nó là một phần đáng kể và thiết yếu của phương cách ước định tri nhận thế giới (theo Lakoff, 1993).

Lakoff và Johnson (1980) cho rằng: “hệ thống ý niệm đời thường của chúng ta, mà trong khuôn khổ của nó chúng ta suy nghĩ và hành động, về bản chất là ẩn dụ”. Chúng ta không chỉ dùng các ẩn dụ được quy ước hoá và từ vựng hoá và nhất là những ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) một cách thuần tuý ngôn ngữ học mà sự thực là chúng ta có suy nghĩ hay ý niệm hoá phạm trù “đích” thông qua phạm trù “nguồn”.
Bởi hiện nay, tư liệu dịch thuật cũng như nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận ở nước ta chưa nhiều nên chúng tôi xin trích dịch nguyên một đoạn trong tài liệu mang tên "Lý luận mới về ẩn dụ" (Lakoff, 1993) khi bàn về khái niệm ẩn dụ dưới quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận. Lakoff lí luận rằng:

[...] Trong lý thuyết ngôn ngữ học cổ điển, ẩn dụ được coi là một vấn đề thuộc ngôn ngữ chứ không phải là vấn đề của tư duy. Lối nói ẩn dụ được cho là không có trong ngôn ngữ thông tục hàng ngày và ngôn ngữ hằng ngày không có ẩn dụ. Nói cách khác, ẩn dụ chỉ được dùng trong các địa hạt bên ngoài ngôn ngữ đời thường. Trong nhiều thế kỷ, người ta đã quá tin vào lý thuyết cổ điển, tới mức, chẳng hề nhận ra được rằng chẳng qua nó cũng chỉ là lý thuyết mà thôi. Người ta không chỉ tin lý thuyết đó là thật, mà còn lấy nó để làm định nghĩa. Chữ phép ẩn dụ (metaphor) được định nghĩa là cách biểu đạt ngôn ngữ của tiểu thuyết hoặc thi ca trong khi chỉ có một hay vài từ chỉ một khái niệm nào đó được dùng vượt ra ngoài ý nghĩa thông thường của nó để diễn đạt một khái niệm tương tự. Nhưng đây lại không phải là vấn đề định nghĩa, mà là vấn đề kinh nghiệm. Với tư cách là một người làm khoa học thực chứng và là một nhà ngôn ngữ học, người ta có thể hỏi: Sự khái quát nào khiến cho những diễn đạt ngôn ngữ trở nên cái mà các nhà nghiên cứu cổ điển gọi là ẩn dụ thi ca? Khi vấn đề này được tra xét kỹ lường thì người ta sẽ thấy sự sai lầm của ngôn ngữ học kinh điển. Sự khái quát thể hiện thành cách diễn đạt ẩn dụ có tính thi ca diễn ra không phải ở trong ngôn ngữ, mà ở trong tư duy: nó là những liên tưởng khái quát vượt qua ranh giới khái niệm. Hơn nữa, những nguyên tắc chung quy định những định dạng ý niệm này không chỉ áp dụng vào những hình thức diễn đạt trong thi ca và tiểu thuyết mà còn xuất hiện vô số trong ngôn ngữ thông tục hàng ngày. Tóm lại, chỗ của ẩn dụ không hề là ở trong ngôn ngữ mà là ở trong cái cách chúng ta khái quát hóa một hiện tượng tinh thần này bằng một hiện tượng tinh thần khác. Lý thuyết chung của ẩn dụ nằm trong những đặc điểm của sự xác lập khái quát có tính liên tưởng. Trong quá trình đó, những khái niệm trừu tượng hàng ngày như thời gian, trạng thái, thay đổi, nguyên nhân kết quả hoặc mục đích ... đều trở nên có tính ẩn dụ. Hệ quả là ẩn dụ (tức là khái quát có tính liên tưởng) chính là tâm điểm tuyệt đối của ngữ nghĩa học trong ngôn ngữ thông tục tự nhiên, và việc nghiên cứu ẩn dụ văn học là một sự mở rộng của việc nghiên cứu ẩn dụ trong ngôn ngữ hàng ngày. Phép ẩn dụ được dùng đến hàng ngày (trong ngôn ngữ thường nhật) là một hệ thống khổng lồ gồm vô số những khái quát liên tưởng, và hệ thống này được sử dụng trong ẩn dụ văn học. Nhờ những kết quả thực chứng này, chữ ẩn dụ đã được dùng theo một cách khác trong những nghiên cứu về ẩn dụ hiện thời. Chữ ẩn dụ lúc này có nghĩa là một khái quát có tính liên tưởng trong hệ thống khái niệm. Khái niệm sự diễn đạt có tính ẩn dụ được dùng để chỉ một biểu đạt ngôn ngữ (một chữ, một cụm từ, hoặc một câu) thực hiện được sự khái quát có tính liên tưởng đó. [...] Khác với ẩn dụ tu từ và ẩn dụ từ vựng, ẩn dụ ý niệm (hay tri nhận), ngoài chức năng quy ước hóa và từ vựng hóa còn có chức năng ý niệm hóa, thể hiện cách tư duy, tri nhận về sự vật của người bản ngữ theo những phương thức nhất định.

Như vậy, từ góc nhìn tri nhận luận, ẩn dụ ý niệm là một sự “chuyển di” (transfer) hay một sự “đồ hoạ” (mapping) cấu trúc và các quan hệ nội tại của một lĩnh vực hay mô hình tri nhận nguồn (source) sang một lĩnh vực hay mô hình tri nhận đích (target) (Lý Toàn Thắng, 2005). Thường thì các phạm trù ở mô hình đích trừu tượng hơn, các phạm trù ở mô hình nguồn thì cụ thể hơn, nghĩa là chúng ta thường dựa vào kinh nghiệm của mình về những con người, những sự vật và hiện tượng cụ thể thường nhật để ý niệm hoá các phạm trù trừu tượng.
Để tiện bề hiểu hơn về đồ chiếu trong hệ thống ý niệm, Lakoff và Johnson đã áp dụng một chiến lược đặt tên cho những đồ chiếu như vậy, dùng trí nhớ đề nghị ra đồ chiếu này, theo hình thức: Target domain is source domain hay có thể là Target domain as source domain.
Ví dụ như khi nói Love is a journey (tạm dịch: Tình yêu là một cuộc hành trình), ta sẽ dùng trí nhớ để nêu lên đặc điểm của các đồ chiếu (mapping) gọi là The love-as-journey mapping:
- Người tình nhân tương ứng với người lữ khách
- Mối quan hệ yêu đương tương ứng với một phương tiện đi lại
- Mục đích chung của hai người yêu nhau tương ứng với điểm đến chung trong chuyến hành trình.
- Những khó khăn trong quan hệ giữa họ tương ứng với những trở ngại trên đường đi.
Điều cần lưu ý là không nên nhầm lẫn tên đồ chiếu Love is a journey với bản thân đồ chiếu. Đồ chiếu tạo nên các sự tương ứng nên khi nói đến một ẩn dụ, ta nghĩ đến một loạt các tương ứng.

Bản thân thuật ngữ ẩn dụ ý niệm đã bao hàm rằng ẩn dụ nằm ngay ở tư duy của con người và biểu hiện lên bề mặt ngôn ngữ. Tư duy và sau đó là ngôn ngữ về cơ bản là các quá trình ẩn dụ gắn liền với kinh nghiệm cá nhân và các nền văn hóa. Một số lý thuyết thỏa đáng về hệ thống ý niệm của con người là phải giải thích được các ý niệm: (1)căn cứ vào đâu, (2)cấu trúc như thế nào, (3)có quan hệ với nhau như thế nào, (4)và được định nghĩa như thế nào.
Cái tạo nên một mệnh đề ẩn dụ Tình yêu là một cuộc hành trình không phải là các từ hay cụm từ cụ thể. Đó chính là một đồ chiếu xuyên suốt các phạm vi ý niệm, từ phạm vi nguồn của các cuộc hành trình cho tới phạm vi đích của tình yêu. Ẩn dụ không phải chỉ là vấn đề của ngôn ngữ mà còn là của tư duy và lý luận. Ngôn ngữ chỉ là thứ yếu, đồ chiếu mới chính là quan yếu vì nó chi phối việc sử dụng ngôn ngữ source domain và các cấu trúc suy ra về các khái niệm target domain. Đồ chiếu mang tính chất quy ước, là một phần của hệ thống ý niệm của chúng ta.

Đồ chiếu cho phép chúng ta nhìn thấy chính xác tình yêu ở đấy được ý niệm hóa thành một cuộc hành trình.Và các ý niệm hóa ẩn dụ (metaphor) để nói về một đồ chiếu ý niệm, và thuật ngữ biểu đạt ẩn dụ (metaphorical expression) được dùng nói tới một biểu đạt ngôn ngữ cá nhân, nghĩa là đồ chiếu quy định.
Như vậy, theo Lakoff, ẩn dụ, với tư cách là một hiện tượng, có liên quan đến các đồ chiếu ý niệm và các biểu đạt ngôn ngữ cá nhân. Một điều hết sức quan trọng là cần phải để cho các đồ chiếu và biểu đạt đó trở nên độc đáo. Vì đồ chiếu đóng vai trò chính yếu và mang nghĩa khái quát hóa, cần giữ thuật ngữ ẩn dụ dùng cho đồ chiếu hơn là dùng cho biểu đạt ngôn ngữ.

Về mặt nghĩa văn học, những mệnh đề nhỏ kiểu Love is a journey được dùng theo kiểu thuật nhớ để đặt tên cho các đồ chiếu. Do vậy, khi chúng ta nói về ẩn dụ Love is a journey, chúng ta nhắc tới những khái niệm tương ứng vừa đề cập. Trong tiếng Anh, mệnh đề Love is a journey là một biểu đạt ẩn dụ được hiểu thông qua những tập hợp tương ứng (set of correspondence). Ẩn dụ Love is a journey là một đồ chiếu ý niệm có các đặc điểm khái quát hóa thành hai loại : Thứ nhất là khái quát hóa đa nghĩa (polysemy generalization) - một sự khái quát quan hệ với nghĩa của các biểu đạt ngôn ngữ; Thứ hai là khái quát hóa suy luận (inferential generalization): một sự khái quát hóa về các suy luận qua các domain ý niệm khác nhau - sự tồn tại của đồ chiếu mang lại một sự trả lời khái quát cho hai câu hỏi: Tại sao các từ dùng để nói về hành trình được dùng để miêu tả mối quan hệ? Tại sao các mẩu suy luận được dùng để lý giải về hành trình được dùng để lý giải quan hệ tình ái ?
Việc đồ chiếu Love is a journey là một phần ấn định của hệ thống ý niệm giải thích tại sao các cách dùng tưởng tượng và mới lạ của đồ chiếu lại có thể được hiểu nhanh chóng, dựa trên những sự tương thích bản chất và các kiến thức khác về các cuộc hành trình.
Ví dụ trong lời một bài hát:
We’re driving in the fast lane on the freeway of love.
Tri thức về hành trình đã gợi ra: Khi chúng ta lái xe trên mặt đường cao tốc, chúng ta sẽ đi rất nhanh nhưng cũng hết sức nguy hiểm và đầy phấn khích. Đồ chiếu ẩn dụ chung đã vạch ra tri thức nền về lái xe với tri thức về mối quan hệ tình yêu. Sự nguy hiểm có thể xảy ra với phương tiện (tình yêu có thể không bền lâu) hay hành khách (những kẻ tình nhân co thể bị thương, về mặt tinh thần). Sự hào hứng phấn khích của tình yêu – cuộc hành trình của sự ái ân. Sự hiểu biết về lời bài hát là kết quả của sự tương thích ẩn dụ đã có từ trước về ẩn dụ Love-as-journey. Lời bài do vậy cũng không làm khó người nghe tiếng Anh vì những sự tương thích ẩn dụ đã là một phần của hệ thống ý niệm. Ẩn dụ Love as Journey là một ví dụ cho ta thấy đó không phải là một lối nói hình tượng (figure of speech), mà là một hình thức tư duy (mode of thought), được quy định bởi một đồ chiếu hệ thống từ phạm vi nguồn cho tới phạm vi đích.
Mỗi một ẩn dụ, hay một đồ chiếu là một phần ấn định của những tương thích ý niệm qua các phạm vi ý niệm. Do vậy mỗi một đồ chiếu ấn định một loại mở của các tương thích tiềm năng qua các mô thức suy luận và phải được coi là một mẫu cố định về sự tương thích bản thể qua các miền (domain).

Lí thuyết ẩn dụ của ngôn ngữ học tri nhận cũng đã mở ra cách tiếp cận hoàn toàn mới mẻ và hé lộ cho việc nghiên cứu thành ngữ. Theo cách hiểu truyền thống, thành ngữ (idiom) mang tính võ đoán nhưng theo cách hiểu của ngôn ngữ học tri nhận, thì hoàn toàn khác. Chúng không hoàn toàn võ đoán mà là có nguyên do. Nghĩa là, thành ngữ xuất hiện tự nhiên theo các quy tắc sản sinh (producetive rule), nhưng lại chỉ có thể phù hợp với một hay hơn một mô thức hiện hữu trong hệ thống ý niệm. Một thành ngữ như spinning one’s wheel theo nghĩa tinh thần truyền thống là bánh xe của xe hơi bị kẹt trong các vật liệu nào đó như bùn, cát, hay tuyết nên xe không thể nào chuyển động dù máy đã khởi động và bánh vẫn quay. Một phần tri trức của chúng ta về hình ảnh này là tốn kếm rất nhiều sinh lực, năng lượng mà không mang lại kết quả, tiến bộ nào, rằng tình hình sẽ vẫn không thay đổi hiện trạng, và rằng sẽ phải mất rất nhiều công sức mới làm cho xe khởi động và chuyển động được, và rằng điều đó là hầu như không thể. Ẩn dụ Love-as-Journey áp dụng vào trong tri thức về hình ảnh này. Ẩn dụ này vạch ra đồ chiếu về tri thức phương tiện với tri thức về quan hệ tình yêu: Tốn công phí sức nhưng thể nào đạt được đến được mục đích chung, sẽ không thể nào thay đổi được hiện trạng, sẽ phải tốn rất nhiều công sức để cả hai cùng nhìn về một hướng v.v... Tóm lại, khi thành ngữ có liên hệ với các hình ảnh quy ước, thì tất yếu sẽ phải có những ẩn dụ ý niệm mang tính nguyên nhân gắn kết, phụ thuộc để vạch ra đồ chiếu tri thức từ nguồn tới đích.
Thật thú vị khi thấy những khái niệm về tình cảm như tình yêu và sự giận dữ được biểu đạt qua rất nhiều ẩn dụ cũng như rất nhiều trong số những khái niệm cơ bản thuộc các hệ thống ý niệm cũng được hiểu thông thường qua các khái niệm ẩn dụ như thời gian, chất lượng, tình trạng, sự thay đổi, hành động, nguyên nhân, mục đích, phương tiện, tình thái và thậm chí là các khái niệm về một phạm trù lớn...

Trong ẩn dụ ý niệm, Lakoff và đồng sự của mình bàn đến những loại ẩn dụ khác nhau như ẩn dụ bản thể (ontological metaphor) là loại ẩn dụ định hình sự vật và và biến chúng thành thực thể (entities) và chất thể (substances) để từ đó nói đến chúng, phạm trù hóa, phân loại và định lượng chúng. Hoặc như ẩn dụ cấu trúc (structural metaphor) với việc sử dụng một ý niệm nguồn có cấu trúc tổ chức cao và rõ ràng để tri nhận một ý niệm đích, ẩn dụ hình ảnh (image metaphor) - đồ chiếu một hình ảnh lên một hình ảnh khác hay ẩn dụ định hướng (orientational metaphor) với các từ định hướng không gian... Riêng về ẩn dụ định hướng, chúng tôi xin trình bày cụ thể vào chương sau bởi ẩn dụ định hướng không gian là vấn đề cơ bản mà khóa luận sẽ đề cập.

Cũng không nên nhầm tưởng rằng lí thuyết về ẩn dụ của ngôn ngữ học tri nhận chính là và chỉ là ẩn dụ ý niệm. Bên cạnh ẩn dụ ý niệm do Lakoff và Johnson khởi xướng, hiện nay, khái niệm ẩn dụ pha trộn (Blending metaphor) do Fauconnier and Turner đề ra cũng thu hút được rất nhiều mối quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như mang lại rất nhiều ứng dụng. Ẩn dụ ý niệm ấn định mối quan hệ giữa những cặp tái hiện về mặt tinh thần (mental representations) trong khi ẩn dụ pha trộn cho rằng có thể tồn tại vô số các tái hiện chứ không nhất thiết là theo cặp; lí thuyết ẩn dụ ý niệm cho rằng ẩn dụ là hiện tượng được định hướng nghiêm ngặt trong khi lí thuyết ẩn dụ pha trộn thì không; ngoài ra, những ẩn dụ ý niệm tập trung phân tích mối quan hệ ý niệm nội tại (entrenched conceptual relationships) và cách chúng được gọt giũa, lựa chọn còn ẩn dụ pha trộn tập trung vào những ý niệm hóa văn chương có thể chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn.

Tóm lại, có thể thấy rằng trong cách nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ có vai trò vô cùng quan trọng trong ngôn ngữ đời thường hàng ngày và đặc biệt nó là một công cụ tri nhận mạnh mẽ để ý niệm hoá các phạm trù trừu tượng.
Nếu trước đây ngôn ngữ học truyền thống quan niệm rằng ngôn ngữ mở cánh cửa đi vào thế giới khách quan quanh ta thì nay, với sự xuất hiện và phát triển của ngôn ngữ học tri nhận, ngôn ngữ giờ được coi là cánh cửa bước vào thế giới tinh thần cũng như trí tuệ của con người cũng như là phương tiện nhằm khám phá ra những bí mật của quá trình tư duy mà trước đây bị coi là không thể thấu đạt được của con người.
Ý nghĩa của ngôn ngữ không hạn chế trong nội bộ hệ thống ngôn ngữ mà nó có nguồn gốc sâu xa từ kinh nghiệm được hình thành trong quá trình con người và thế giới tương tác với nhau. Bởi thế, nhờ ngôn ngữ học tri nhận, người ta hiểu rõ hơn, nắm bắt rõ hơn về quá trình ẩn dụ, nhờ đó, hé mở cánh cửa nhằm hiểu sâu sắc hơn các tầng bậc ngôn ngữ cũng như chính bản thân mình.

(Trích Khóa luận tốt nghiệp "Khảo sát một vài ẩn dụ dịnh hướng không gian chứa từ định hướng không gian trong Truyện Kiều" 2007 - Nguyễn Hoàng An)
[/ALIGN]

Sơ lược về lịch sử cách tiếp cận hiện tượng Ẩn dụPRAAT

Comments

Unregistered user Friday, July 9, 2010 1:54:13 AM

Anonymous writes: Loi font, toan hinh vuong nen ko doc dc bai viet, tiec qua. Chi co the gui bai viet vao dc email ngocdiemvn@gmail.com ko? Toi rat quan tam den van de nay. Cam on nhieu.

Write a comment

New comments have been disabled for this post.