Skip navigation.

Chia sẻ kiến thức tin học

Công Nghệ Thông Tin

Posts tagged with "thủ thuật"

MathType v6.0 Full , Dùng tốt cho Office 2007

MathType là một công cụ tương tác mạnh dành cho Windows và Macintosh cho phép bạn tạo ra những ký hiệu toán học trong soạn thảo word processing, trang web , xuất ra desktop, thuyết trình, và cho TeX, LaTeX, và tài liệu MathML .

Read more...

Cách nhập công thức phức tạp trong Words

Microsoft Office là công cụ soạn thảo văn bản, bảng tính hỗ trợ công việc văn phòng rất phổ biến và được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, mặc dù Word, Excel, Powerpoint hay Access hỗ trợ kiểu thiết kế WYSIWYG (*) nhưng đôi khi nó cũng khó lòng thể hiện hết được ý muốn người dùng, nhất là khi soạn thảo các công thức phức tạp.

Thủ thuật hay kinh nghiệm sử dụng kèm theo công cụ hỗ trợ vẫn là phương thức chính để bạn làm chủ được những phần mềm mình đang dùng, ở đây là bộ công cụ văn phòng Microsoft Office.

Read more...

Phim hướng dẫn xem phụ đề

, ,

Phim hướng dẫn xem phim với phụ đề của chương trình Window Media Player va KMPlayer
Bạn download phim ở trên mạng về , không có phụ đề hay lồng tiếng nên bạn buộc lòng phải tìm file phụ đề cho nó , vậy làm thế nào để xem được phim cùng với file phụ đề , mời bạn xem phim sau

http://files.myopera.com/hautp/labvbb/sub.swf

Bạn có thể chọn bất cứ loại phụ đề gì chứ không nhất thiết phải là file .smi
Các này cũng giúp bạn có thể xem phim với phụ đề trên trang ephim.com

9 mẹo nhỏ cho laptop "rùa"

Hầu như người sử dụng laptop nào cũng đều thừa nhận, chiếc máy khởi động ngày càng ì ạch đến khó hiểu và thường xuyên treo máy. Mặc dù đã tải nhiều chương trình diệt virus, tình cảnh cũng không khá lên chút nào.

Nguyên nhân không chỉ do virus, còn "hàng tá" các nguyên nhân có thể bạn chưa biết và cách khắc phục hiệu quả.

Sau đây là một số thủ thuật để laptop của bạn chạy nhanh hơn.

1. Đơn giản nhất, chọn 1 hình nền có kích thước và dung lượng tương đối hoặc không dùng. Ảnh lớn sẽ làm chậm quá trình khởi động máy. Tiếp đến, dọn dẹp ngăn nắp các icon (biểu tượng chương trình) trên destop, giấu bớt hoặc xóa những thứ mà chẳng khi nào dùng đến. Đừng quên vào Control Panel, chọn Add hoặc Remove Programs để di dời những chương trình không quan trọng.

2. Có 1 nguyên nhân nữa nhưng rất ít người chú ý đó là Font chữ. Thật ra, quá nhiều Font chữ cũng là yếu tố khiến hoạt động của Win chậm chạp. Nếu không phải là dân chuyên thiết kế, bạn chỉ nên chọn những Font chuẩn thường dùng như Unicode, Vni.

3. Dùng Quick Launch (QL) thay cho Microsoft Office Shortcut bar (MOS) (nằm góc phải màn hình Windows). Trước hết, tắt MOS bằng cách nhấn chuột phải vào nút đầu tiên, chọn Exit -> No. Kích hoạt QL lên bằng trỏ chuột trên đầu thanh Taskbar, giữ và kéo chuột để thanh Taskbar cao thêm 1 khoảng. Phía trên là QL và ở dưới là các ứng dụng thu nhỏ rất tiện. ứng dụng này giúp tiết kiệm thêm 2 giây nữa.

4. Nên chạy chương trình diệt virus định kỳ vào thời gian nghỉ trong ngày (buổi trưa, chiều). Tránh để chương trình tự quét mỗi khi máy khởi động. Nguyên nhân khiến máy lề rề từ 2- 3 giây.

5. Nhớ lấy đĩa CD ra khỏi ổ sau khi sử dụng. Khi máy khởi động sẽ tự kích hoạt kiểm tra tổng thể những thứ có trong máy. Do vậy mất nhiều thời gian, nhất là với đĩa trầy xước. Đồng thời nhớ chỉnh thiết bị khởi động đầu tiên là ổ cứng để máy khỏi tốn thời gian kiểm tra đĩa CD, mạng, USB.

6. Tắt chức năng Error Report tự thông báo lỗi cho nhà sản xuất và chẳng mang lại ích lợi gì cho người dùng. Bấm chuột phải tại My Computer -> Properties -> Advanced -> Error Reporting -> Disable Error Reporting, kích bỏ hộp kiểm But notify me when critical error occur.

7. Nhấp Start -> Run trong hộp Open và gõ vào lệnh msconfig để mở cửa sổ System Configuration Unility. Trên thẻ Startup, đánh dấu bỏ hết hoặc từng phần chương trình không cần thiết: ICQ, Winzap, Winampa, msmgs, Ghost... thường khởi động cùng lúc với Win. Mỗi thứ chậm 1 ít, cộng lại cũng đủ khiên bạn phát cáu.

8. Với máy liên tục chép, xóa các chương trình, thao tác sau không thể bỏ qua. Vào Start -> All programs -> Accessories-> System Tools -> Disk cleanup, xóa hết các file Temp... Cũng trong mục System Tools, chọn Disk Defragmenter dồn đĩa để tránh việc phân mảnh quá nhiều trong ổ cứng để truy xuất dữ liệu nhanh hơn. Thời gian dồn đĩa có thể khá lâu nên tranh thủ những giờ nghỉ ngơi để thực hiện cho hiệu quả.

9. Laptop của bạn thường la cà ở cafe Wi-Fi hay lướt net mỗi ngày cũng nên tổng vệ sinh các file dữ liệu truy cập sau khi dùng. Nhấp chuột phải tại thanh công cụ. Vào Explore -> Local settings -> Histrory (xóa), Temp (xóa), Temporary Internet (xóa). Cũng tại thanh công cụ chọn Properties -> Start Menu -> Customize -> Advanced -> Clear list -> Ok để xóa các địa chỉ đã truy cập. Tốc độ sẽ được cải thiện rất đáng kể.

Các thao tác trên nhằm giúp cho Win nhẹ gánh và sẽ hoạt động rất nhanh. Trường hợp bạn mua lại máy cũ thì tốt nhất là cài lại Win mới. Máy đã qua sử dụng, Win thường mắc rất nhiều lỗi: ứng dụng, virus...

Khởi chạy an toàn chương trình đáng ngờ

Chắc chắn hầu hết người dùng máy tính đều hiểu rõ sự cần thiết của việc thường xuyên cập nhật chương trình phòng chống virus cũng như đề cao cảnh giác khi tải về các phần mềm từ internet. Tuy nhiên, phải làm sao nếu bạn không thể chắc chắn về tính an toàn của phần mềm mà mình muốn thực thi hay cài đặt? Thật đơn giản, bạn có thể thiết lập khả năng cài đặt "có hạn chế" cho bất kỳ phần mềm đáng ngờ nào bằng cách sử dụng một tính năng hữu ích trong Windows XP.
Để khởi chạy an toàn một chương trình, hãy nhấn phải chuột lên biểu tượng (hay shortcut) của chương trình đó và chọn Run as



Lưu ý, trong vài trường hợp, bạn cần ấn và giữ phím <Shift> để thấy tùy chọn Run As khi mở trình đơn nhấn phải. Trong hộp thoại Run As, bạn chọn Current user và đảm bảo rằng tùy chọn Protect my computer and data from unauthorized program activity được đánh dấu . Sau đó nhấn OK.



Khi được thực thi trong chế độ này, chương trình có thể đọc các thông số cài đặt Registry, nhưng không thể thay đổi chúng. Ngoài ra, nếu đĩa cứng máy tính được định dạng theo NTFS thì chương trình này sẽ không thể thay đổi bất kỳ tập tin nào gắn với tài khoản người dùng (profile) hiện tại,


bao gồm các cookie và tập tin tạm của trình duyệt, màn hình nền và thư mục My Documents. Bên cạnh khả năng bảo vệ máy tính trước các chương trình nguy hại được thực thi trong hệ thống thì tùy chọn này chắc chắn sẽ ngăn cản vài ứng dụng "nghiêm túc" khi có nhu cầu lưu lại cài đặt hay tập tin vào những thư mục nêu trên. Do đó, chỉ nên áp dụng tùy chọn này cho các phần mềm với lai lịch không rõ ràng hay bạn chưa từng sử dụng.

Không những thế, khi bạn khởi chạy trình duyệt Internet Explorer với tùy chọn Run as, các website sẽ bị vô hiệu hóa khả năng ghi lại dữ liệu trên đĩa cứng nên máy tính cũng sẽ an toàn hơn. Cũng cần lưu ý, ở chế độ này, bạn không thể sử dụng IE để truy xuất đến bất kỳ website được bảo mật nào (bắt đầu bằng "https://"). Tương tự, một vài lệnh (chẳng hạn như "Open Link in New Windows" trong trình đơn ngữ cảnh) cũng sẽ không hoạt động.

Tạo đĩa khôi phục Recovery Console trong Windows XP

Cách duy nhất để có được phiên bản nhỏ gọn của Windows XP Recovery Console trên một đĩa CD là copy các file cần thiết từ đĩa cài vào phương tiện cứu nguy nào đó của bạn.

Dù sớm hay muộn bất kỳ người nào dùng Windows XP cũng phải đối mặt với vấn đề trục trặc của Windows như mất mật khẩu, lỗi hệ điều hành do virus, hacker gây ra…

Có thể hệ thống khởi động bị lỗi, hay đơn giản chỉ là khôi phục lại một file hệ thống không hoạt động, hoặc vô hiệu hoá dịch vụ hệ thống là nguyên nhân gây ra các vấn đề trong Windows.

Trong các trường hợp đó bạn chỉ cần thiết lập lại một số chế độ hoạt động nguyên gốc như ban đầu mà không cần thao tác trên toàn bộ hệ điều hành.

May mắn thay, Microsoft cũng cung cấp một chức năng nhỏ gọn, gọi là Recovery Console trên đĩa cài hệ thống để giải quyết các vấn đề này. Chỉ cần cho đĩa vào, khởi động hệ thống, nhấn phím “R” khi được nhắc và chức năng khôi phục sẽ cố gắng xác định vị trí chương trình cài đặt Windows hiện thời. Nếu tìm ra, bạn sẽ được nhắc đăng nhập vào hệ thống trong vai trò là người quản trị. Sau đó chương trình đưa ra các mức độ khôi phục hệ thống khác nhau trên màn hình nền command prompt cho bạn lựa chọn. Bạn phải sử dụng chức năng chế độ ký tự của Windows.

Recovery Console cũng có thể cài đặt bên trong ổ cứng của bạn, song song với hệ điều hành mà không phải dùng đến đĩa CD. Một cách khác bạn có thể làm là ghi chương trình Recovery Console vào cùng một đĩa CD khởi động (CD Boot).

Cách làm dễ nhất để tạo một đĩa CD Windows XP Recovery Console rất đơn giản là chỉ cần copy toàn bộ nội dung đĩa cài Windows sang một đĩa CD khác. Nhưng từ Windows XP trở đi, kích thước đĩa cài là khoảng 600 MB. Không phải lúc nào chúng ta cũng có đủ khả năng để sao chép. Tuy nhiên, bạn có thể lược bỏ bớt những file cài đặt chỉ giữ lại các thành phần cơ bản cần thiết cho chương trình Recovery Console có thể chạy được , khi đó dung lượng lưu trữ chỉ còn nhỏ hơn 10 Mb.

Trước khi đi sâu hơn, chúng ta cũng cần chú ý một số vấn đề kỹ thuật quan trọng. Chẳng hạn quá trình boot bằng đĩa CD trong Windows XP hơi khác một chút và hoàn toàn không tương thích với boot trong ổ cứng hay boot bằng đĩa mềm.

Ví dụ, bộ nạp khởi động XP “thông thường” nằm trong boot sector của ổ cứng hoặc đĩa mềm, bắt đầu hoạt động bằng việc tìm kiếm một file gọi là ntldr trong thư mục gốc của hệ thống file hiện thời. Sau đó nó đọc nội dung của file điều khiển menu boot boot.ini và thực hiện các hoạt động theo tiến trình mà người sử dụng đã lựa chọn.

Tuy nhiên, Windows XP thường sử dụng một kiểu đọc khởi động khác cho các đĩa CD Media cái mà không sử dụng ntldr hoặc boot.ini. Thay vì các đĩa CD khởi động thường tìm 1 file gọi là setupdr.bin bên trong thư mục phụ i386 và setupldr.bin là một phiên bản đặc biệt của hệ thống chương trình cài đặt. Nhưng quan trọng hơn cả là ntldr không có bất kỳ một phương thức nào hỗ trợ cho hệ thống file ISO 9660 vì vậy mà nó không thể sử dụng cho các đĩa CD Media

Tất cả điều này có nghĩa là bạn không thể chỉ copy nội dung cài của Recovery Console từ ổ cứng sang đĩa CD mà khiến nó hoạt động được. Một vấn đề là ntldr không được dùng trên đĩa CD, trong khi khởi động duy nhất của Windows XP có thể nhận được từ đĩa CD nằm trong chương trình cài đặt hệ thống.

Bạn cần những gì?

Cách thức cơ bản ở đây là copy số lượng nhỏ nhất các tệp cơ bản của file cài Windows XP sang ổ cứng, và sau là copy sang một đĩa CD hay đĩa cứng. Phương thức dễ nhất là yêu cầu Windows cài đặt lại hệ điều hành, khi đó chỉ có các file cài cơ bản mới được copy sang ổ cứng. Nhưng không may việc tái cài đặt làm cho file boot.ini của hệ thống cập nhật chương trình và ép buộc hệ thống phải khởi động lại ngay lập tức.

Chúng ta sẽ phải cố gắng tránh việc khởi động lại máy. Sau đó đơn giản chỉ là copy các file cần vào hệ thống file trên đĩa CD. Cuối cùng là xoá sạch toàn bộ.

Để thực hiện được điều này, bạn cần một nguồn cài đặt phù hợp với phiên bản và gói dịch vụ trong hệ điều hành của bạn. Ví dụ nếu bạn đang dùng Windows Server 2003 Enterprise Edition với SP1, bạn sẽ cần file cài đặt có cùng phiên bản với gói dịch vụ đặt trong các phương tiện cài đặt.

Bạn cũng cần một chức năng có thể giải nén bộ nạp khởi động từ đĩa CD Windows XP. Hoặc bạn có thể dùng một trong các phần khởi động của Windows 2000, Windows XP lấy từ trên mạng internet. Bạn cũng sẽ cần một số loại chương trình master trên CD để tạo ra một đĩa khởi động hoặc tạo ra hệ thống đa khởi động menu.

Bạn cũng nên dùng một số phần mềm máy ảo cho quá trình cài đặt và giải nén. Nếu không bạn sẽ bị lẫn lộn với các file boot hệ thống và rất mạo hiểm khi dùng một hệ thống kiểu này. Vì rất có khả năng bạn sẽ tình cờ làm cho hệ thống không thể boot được. Hãy chú ý điểm này.

Có một số Recovery Console ISO được làm trước đó đang trôi nổi trên internet. Các bạn không nên dùng chúng bởi vì, có thể chúng không tương thích với phiên bản và gói dịch vụ trong hệ điều hành của bạn. Trong khi không có lý do gì để nghi ngờ đòi hỏi toàn vẹn của tác giả và các file trong Recovery Console. Hơn nữa các chương trình đó cũng không đáng tin.

Thật tệ là Microsoft không cung cấp các gói có sẵn các file tiêu chuẩn Recovery Console như là một ưu đãi cho khách hàng. Mặc dù Microsoft có cung cấp các phần mềm download từ website, nhưng các file này không phù hợp với Recovery Console xây dựng trên nền đĩa CD.

Cài đặt file Setup

Khi đã có đủ các thành phần cần thiết, bước đầu tiên là bạn cài đặt hệ điều hành lên ổ cứng, dùng bất cứ phương tiện cài đặt nào mà bạn có (có thể là đĩa CD, hay cài đặt từ mạng hoặc bất cứ nguồn nào khác).

Bạn có thể cập nhật và áp dụng các bản vá lỗi, nhưng đừng cho phép Windows Update áp dụng bất cứ gói dịch vụ bổ sung nào. Hệ điều hành cài đặt và phương tiện cài đặt phải có cùng mức service pack. Nếu không thì các bước tiếp theo sẽ bị lỗi. Do đó nếu bạn dùng các gói dịch vụ, bạn sẽ cần quay lại và cài đặt dùng thử.

Khi hệ thống tương đối ổn định, mở cửa sổ lệnh command prompt và điều hướng cho phương tiện cài đặt tìm chương trình thực thi wint32.exe (nằm trong thư mục con i386). Sau đó chạy câu lệnh ".\winnt32.exe /noreboot" từ cửa sổ lệnh. Câu lệnh này thực hiện việc copy các file cài chủ chốt sang ổ cứng của hệ thống. Đối số "/noreboot" lệnh với chương trình là không bắt buộc khởi động lại máy ngay lập tức sau khi cài như bình thường.

Màn hình "Welcome to Windows Setup" sẽ xuất hiện như trong hình sau:

Trong hộp thoại sổ xuống chọn kiểu cài đặt "New Installation (Advanced)". Sau đó xuất hiện thỏa thuận về bản quyền sử dụng, có thể bạn sẽ phải nhập các mã số bản quyền.

Tiếp theo bạn được nhắc định dạng lại ổ theo kiểu NTFS, hãy chọn “No” để dùng lại được các file cài đặt cho Recovery Console, tối thiểu hoá biến và có thể định dạng lại ổ hệ thống chúng ta muốn sửa chữa sau này.

Sau đó bạn sẽ được hỏi liệu có muốn cập nhật các file cài đặt này hay không. Chọn “No” để tiến trình cài đặt xem xét các file update trong ổ cứng cục bộ của bạn khi tiếp tục. Các file này không thể nằm trong các hệ thống khác.

Cuối cùng chương trình sẽ bắt đầu sao chép các file cài vào thư mục gốc trong ổ cứng của bạn và kết thúc tốt đẹp quá trình cài đặt.

Lấy những gì chúng ta cần

Trong phần này, bạn nên có một thư mục gọi là $WIN_NT$.~BT trong thư mục gốc ở ổ C, cùng với một số file thông thường dùng trong quá trình cài đặt khác khi khởi động lại hệ thống. Chúng ta sẽ lấy các file này và một số file từ phương tiện cài đặt. Sau đó xoá tất cả các phần không cần thiết còn lại

Xác định vị trí cho thư mục $WIN_NT$.~BT, và xoá các file bootsect.dat, migrate.inf, winnt.sif trong đó file bootsect.dat chứa thông tin tham số ổ cứng của bạn. Sự hiện diện của file này có thể là nguyên nhân tiềm ẩn của các vấn đề không mong đợi với các hệ thống khác. Hai file còn lại có thể là nguyên nhân nhầm lẫn cho quá trình cài đặt.

Xác định lại vị trí cho thư mục gốc trong ổ C và đặt lại tên thư mục $WIN_NT$.~BT là i386.

Tạo một thư mục khác trong thư mục gốc của ổ C, gọi là rcfiles. Chuyển thư mục i386 vào rcfiles để có đường dẫn c:\rcfiles\i386 và chuyển txtsetup.sif từ thư mục gốc của ổ C vào thư mục mới c:\rcfiles\i386.

Định vị lại vị trí phương tiện cài: Trong thư mục gốc của cây cài đặt sẽ có hai hay nhiều file bắt đầu với các ký tự: WIN51. Các tên file là quan trọng. Ví dụ Windows XP Professional SP2 có các file WIN51, WIN51P, WIN51P.SP1, và WIN51.SP2. Windows Server 2003 Enterprise Edition SP1 có các file WIN51, WIN51I, và WIN51I.SP1. Bạn cần sao chép tất cả các file WIN51* vào thư mục gốc của rcfiles được tạo ra trong bước trước.

Bây giờ chuyển toàn bộ thư mục rcfiles vào hệ thống CD điều khiển phần mềm.

Tại thời điểm này bạn đã làm việc với hệ thống cài đặt. Để bắt đầu, trước hết xoá file có tên $ldr$ trong C:\ directory. Nếu có thư mục $WIN_NT$.~LS trong thư mục gốc ở ổ C bạn cũng có thể xoá.

Bạn cũng cần sửa file boot.ini Windows để quá trình khởi động Windows trở lại bình thường. Đầu tiên dùng câu lệnh attrib để xoá sạch các thuộc tính hệ thống ẩn và chỉ đọc trong file boot.ini. Sau đó copy file boot.bak vào boot.ini (boot.bak được chương trình cài đặt tự động tạo ra). Sau đó lại dùng câu lệnh attib để có thể đánh giấu các file system, hidden và read-only trong file boot.ini mới.

C:\> attrib boot.ini "s "h "r
C:\> copy boot.bak boot.ini 1 file(s) copied
C:\> attrib boot.ini +s +h +r

Đó là các câu lệnh đã miêu tả. Bạn nên trở lại hệ thống cài đặt thông thường.

Xây dựng đĩa CD

Dùng phần mềm điều khiển CD, tạo một đĩa boot mới và thêm nội dung thư mục rcfiles vào gốc của hệ thống file CD. Không được thêm bản thân thư mục rcfiles mà là nội dung của nó.

Giống như trước, bạn phải dùng sector khởi động CD của Windows 2000 hoặc Windows XP cho sector khởi động

Nếu bạn tạo một đĩa CD Recovery Console độc lập, bạn sẽ cần phần mềm điều khiển CD tới file trên sector khởi động. Phần mềm điều khiển nên được thiết lập theo chế độ “no emulation” và nên có 2 sector định phần tới boot. Màn hình đưới thể hiện điều này trong Nero Burning ROM.



Bây giờ tạo một CD hay file ISO và sau đó đưa sản phẩm tạo thành trở lại máy kiểm tra.

Chúng ta có thể boot từ CD. Nó sẽ tự động bắt đầu quá trình bài đặt. Ấn phím “R” khi được nhắc, bạn sẽ vào chương trình Recovery Console. (Bạn cũng có thể ấn phím “F10” trong màn hình đầu tiên để trực tiếp vào phần giao tiếp người - máy).



Quá trình trên trả ra kết quả trong một CD cài đặt cơ bản khoảng 7MB. CD này chỉ chạy được chương trình Recovery Console và chỉ chạy được những dạng cơ bản nhất. Bạn không thể cài đặt được Windows với đĩa CD này. Và bạn cũng có thể gặp một số vấn đề khi dùng Recovery Console trên máy khác, có kiểu phần cứng kkác.

Ví dụ, nếu bạn đã từng phải ấn giữ phím F6 trong suốt quá trình cài đặt thông thường để nạp một ổ lưu trữ, bạn cũng cần làm như vậy với quá trình Recovery Console. Tuy nhiên, bạn có thể phân dòng các ổ đó vào Recovery Console của bạn để chúng được nạp bằng setupldr.bin khi đĩa CD bắt đầu hoạt động.

Quá trình này được mô tả trong http://www.jsifaq.com/SF/Tips/Tip.aspx?id=6575http://gosh.msfnhosting.com/txtsetup.htm. Một bản sao mới của txtsetup.inf được đặt trong thư mục gốc ở ổ C trong suốt quá trình cài đặt. Bạn đã phải đặt nó vào thư mục i386 trong phần trước. Bạn có thể tìm nó tại đó khi cần.

Một vấn đề khác có thể phát sinh với các hệ thống dùng các tầng cứng ảo hay các bộ vi xử lý khác nhau. Ví dụ nếu hệ thống kiểm tra của bạn dùng bộ vi xử lý đơn HAL, bạn sẽ có vấn đề với các hệ thống dùng vi HAL đa xử lý. v.v.. Bạn có thể giải quyết vấn đề này bằng cách lặp lại quá trình cài đặt trên các hệ thống đa kiểu và hợp nhất quá trình cài đặt cuối cùng.

Một vấn đề khác là bạn chỉ có thể tạo ra một loại Recovery Console trên một đĩa CD. Bạn không thể có các loại khác nhau cho Windows XP Professional và Windows Server 2003, hoặc cùng một phiên bản Windows nhưng gói dữ liệu khác nhau. Đó là do tất cả các hệ điều hành Recoverty Console sẽ tìm file setup trong thư mục i386 của đĩa CD. Nhưng mỗi file trong một phiên bản khác nhau một chút. Vì thế chúng không thể cùng dùng một loại đĩa CD Recovery Console.

Một số người giải quyết vấn đề này bằng cách thiết lập cho mỗi console đặc trưng trong từng phiên bản một thư mục riêng. Và sau đó dùng một trình soạn thảo để thay đổi nơi sector boot của CD và setupldr.bin tìm kiếm các file của chúng.

Một điều cần xem xét khác là Recovery Console được giới hạn mặc định. Tuy nhiên bạn có thể loại bỏ một số thành phần nâng cao bằng cách chỉnh sửa một số thanh ghi trong máy của bạn.

Hãy nhớ rằng Recovery Console cố gắng truy cập các file cài đặt hệ điều hành khi nó nạp. Điều đó có nghĩa là bao gồm cả việc đọc và ghi. Vì thế phương thức này làm việc thậm chí ngay cả khi bạn boot Recovery Console từ một đĩa CD.

Khắc phục lỗi "dumping physical memory" của Windows XP

Trong Windows XP, lỗi “Dumping Physical Memory” thường xuất hiện khi bạn thực hiện lệnh Shutdown hệ thống, nhưng thay vì máy tính sẽ tắt như bình thường thì nó lại hiện ra “màn hình xanh chết chóc” và sau đó tự khởi động lại.

Nhìn thông báo lỗi thì có vẻ như thanh RAM (bộ nhớ) của máy tính có vấn đề nhưng thực ra có thể không phải là như vậy. Sau đây là một số cách khắc phục lỗi này, trong trường hợp hư hỏng do lỗi phần mềm:

Gỡ bỏ phần mềm vừa được cài đặt

Những xung đột giữa phần mềm mới cài đặt với các phần mềm cũ hoặc với các thiết lập của hệ thống thường là nguyên nhân xuất hiện lỗi trên. Trước tiên, bạn hãy thử gở bỏ phần mềm được cài đặt gần nhất so với thời điểm bắt đầu xuất hiện lỗi Dumping Physical Memory. Sau đó, thử tắt máy xem còn bị lỗi như vậy nữa không. Nếu vẫn còn, bạn hãy tiếp tục các bước sau.

Tăng kích thước cho bộ nhớ ảo

Bộ nhớ ảo quá nhỏ cũng có thể là nguyên nhân gây ra lỗi trên, bạn hãy tăng kích thước cho nó bằng cách truy cập vào hộp thoại Virtual memory (chuột phải My computer\Properties\Advanced, trong khung Performance chọn Settings\Advanced\Change). Bạn nên thiết lập hai thông số Initial size và Maximum size bằng nhau để cố định bộ nhớ ảo, kích thước bộ nhớ ảo chỉ nên gấp 1,5 đến 2 lần so với dung lượng RAM hiện hành. Xong bạn nhấn OK ba lần.

Vô hiệu hoá hệ thống tự khởi động lại và memory dump

Bạn hay truy cập vào hộp thoại Startup and Recovery (chuột phải My computer\Properties\Advanced, trong khung Startup and Recovery, nhấn chọn Settings). Trong khung Systems failure, bỏ chọn mục Automatically restart. Trong khung Write debugging information, mở menu sổ xuống và chọn None. Xong bạn nhấn OK hai lần để thoát ra ngoài.

Bạn hãy khởi động lại máy nếu hệ thống yêu cầu để các thiết lập có hiệu lực.

Biện pháp để tránh 5 lỗi phổ biến khi ghi đĩa

Vào thời điểm hiện tại, đầu ghi CD/DVD và đĩa quang đều là những sản phẩm trưởng thành và ổn định nhưng nếu bạn không cẩn thận thì việc ghi đĩa vẫn có thể xảy ra trục trặc. Dưới đây là 5 lỗi ghi đĩa phổ biến nhất và cách phòng tránh chúng.

1. Bạn không kiểm tra



Nếu có một nguyên tắc vàng cho việc ghi đĩa thì đó là "Phải luôn kiểm tra". Việc sử dụng tính năng kiểm tra (hay đánh giá) của phần mềm ghi đĩa để so sánh những gì đã được ghi với những gì đã được đọc chính là rào cản tốt nhất để ngăn chặn những trục trặc bất ngờ xảy ra trong quá trình thực hiện (Hình 1). Tính năng kiểm tra không tăng cơ hội thành công cho việc ghi đĩa nhưng sẽ thông báo cho bạn biết về một trục trặc đúng lúc để tiến hành ghi một đĩa khác. Nhiều tác vụ ghi có vẻ như đã thành công nhưng lại phát sinh lỗi ngay khi thực hiện - không phải do đĩa hư mà do dữ liệu ghi không tốt để bắt đầu.

2. Đĩa không phù hợp

Trong điều kiện lý tưởng, chọn đúng chủng loại đĩa không phải là một vấn đề khó. Hãy tưởng tượng xem nếu bạn cùng bạn bè muốn xem bộ sưu tập ảnh chụp của gia đình được lưu trên đĩa DVD nhưng đầu phát DVD của người bạn mình lại không đọc được loại đĩa này, thật khó xử! Ví dụ này cho thấy bạn nên chọn đúng loại đĩa mà bạn biết chắc cả máy của bạn và người khác đều hỗ trợ.

Nếu mua đĩa CD/DVD trắng loại không có thương hiệu , bạn nên tuân theo quy tắc vàng nêu ở mục 1 (kiểm tra) và chuẩn bị đón nhận vài chiếc đĩa hỏng. Theo kinh nghiệm của nhiều người dùng, đĩa DVD trắng thường đáng tin cậy hơn so với đĩa CD trắng, nhưng nói chung giá đĩa càng rẻ, đĩa càng dễ hỏng.
3. Tốc độ ghi quá cao


Không ai thích chờ đợi quá lâu để ghi một chiếc đĩa. Tuy nhiên, việc chọn tốc độ ghi nhanh nhất không phải lúc nào cũng là một chiến lược tốt nhất. Vài đĩa CD-R và DVD – R có thể ghi dữ liệu ở đúng tốc độ cao nhất trong khi nhiều loại đĩa khác không thể. Một khi đã quyết định dành thời gian để xem xét trục trặc gì xảy ra thì tốt nhất bạn nên giảm tốc độ ghi xuống một bậc (Hình 2). Trừ khi sử dụng đồng hồ bấm giờ, còn nói chung bạn không bao giờ nhận thấy được sự khác nhau giữa các tốc độ ghi, ví dụ giữa 18x và 16x.



4. Sử dụng không đúng phần mềm

Với áp lực cạnh tranh ngày càng khốc liệt, firmware hay phần mềm đi kèm đầu ghi đĩa có thể không thật hoàn hảo. Hầu hết chúng nhất định sẽ được nâng cấp (hoặc sẽ sớm), cho nên nếu không hài lòng với hiệu quả của phần mềm ghi đĩa đang sử dụng, bạn có thể tự tiến hành cập nhật bằng cách tìm kiếm trên website của hãng sản xuất. Ngoài ra, cũng có một chân lý khác: "Nếu không hỏng, thì đừng sửa" vì chính các bản cập nhật cũng thường gây ra trục trặc. Nếu đầu đọc của bạn vẫn ghi đĩa tốt, cứ giữ nguyên phần mềm ghi đĩa đang sử dụng. (ngay cả các hãng sản xuất cũng sẽ khuyên bạn như vậy). Nhưng nếu trục trặc thường xảy ra khi chuyển sang sử dụng một nhãn hiệu đĩa khác thì nhiều khả năng một firmware hay phần mền mới sẽ giúp ích được cho bạn.

5. Chạy quá nhiều ứng dụng cùng lúc

Hiện nay, đa số máy tính đều "thừa sức" để thực hiện cùng lúc nhiều tác vụ khác trong khi ghi đĩa. Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, người dùng sẽ có lúc gặp phải những ngày làm việc đen tối, chẳng hạn như phần mềm ghi đĩa đột ngột "ngã ngựa" vào đúng lúc sắp kết thúc. Bạn sẽ tăng cơ hội thành công của mình lên nếu giảm đến mức tối đa số lượng các ứng dụng đang chạy khi bạn đang thực hiện ghi đĩa. Điều này không có nghĩa là bạn phải tránh để hệ thống xử lý đa nhiệm (multitasking) hoặc yêu cầu chương trình ghi đĩa hoạt động ở chế độ hoạt động nền.

Xóa sạch dữ liệu riêng tư trên đĩa cứng bỏ đi

Ngày nay, tin tặc (hacker) không còn phải tốn nhiều công sức để lập trình ra những đoạn mã tinh vi có khả năng đánh cắp thông tin cá nhân của bạn. Chúng chỉ cần dạo quanh khu vực chợ trời để mua về những đĩa cứng đã qua sử dụng và từ đó cũng có thể thu thập được nhiều thông tin cá nhân quan trọng do người dùng vô tình để lại trên những đĩa cứng bỏ đi này. Thực tế cho thấy các hành động như định dạng lại hay phân vùng lại cho đĩa cứng không thể “nhổ cỏ tận gốc” những thông tin ghi trên đĩa cứng. Tương tự, thao tác xóa hay di chuyển tập tin vào thư mục Recycle Bin thực ra chỉ là một cách quản lý tập tin khác của Windows. Do vậy, để đảm bảo tất cả thông tin quan trọng của mình trên đĩa cứng được xóa bỏ hoàn toàn, bạn nên sử dụng một công cụ chuyên dùng hay thủ thuật được đề cập sau đây:

Một tiện ích rất tốt dùng để xóa trắng dữ liệu trên đĩa cứng là DBAN (tải về miễn phí tại find.pcworld.com/54672). Tiện ích này sẽ thực hiện “xóa dữ liệu theo dạng khối” (block-eraser), ghi đè nhiều lần những dữ liệu “ngẫu nhiên” lên mỗi khối của đĩa cứng. DBAN có thể tạo đĩa mềm khởi động máy tính hay tập tin ISO dùng để tạo đĩa CD khởi động.
Trong khi đó, tiện ích Secure Erase (find.pcworld.com/54638) sử dụng lệnh Disk Drive Secure Erase có sẵn trong firmware của những đĩa cứng đời mới. Secure Erase hoàn tất toàn bộ tác vụ xóa sạch đĩa cứng trong thời gian chỉ bằng một nửa so với các ứng dụng có tính năng tương tự.

Mã hóa trước khi xóa

Mã hóa tập tin trên đĩa cứng là biện pháp ngăn chặn các hành động truy xuất bất hợp pháp đến những thông tin quan trọng, nhưng bạn cũng có thể lợi dụng tính năng này để chắc chắn các tập tin mà mình đã xóa không thể được “khôi phục” lại nguyên bản. Nếu bạn mã hóa một tập tin trước khi xóa thì ai đó với tiện ích khôi phục dữ liệu vẫn có thể cứu lại phiên bản mã hóa này nhưng không thể giải mã chúng. Không có khóa giải mã, dữ liệu của bạn sẽ luôn an toàn.

Để sử dụng tiện ích mã hóa trong Windows XP, bạn nhấn chuột phải vào tập tin hay thư mục muốn mã hóa, chọn Properties, sau đó trong cửa sổ Properties bạn nhấn Advanced, đánh dấu chọn mục Encrypt contents to secure data, cuối cùng là nhấn OK . Bạn có thể mã hóa bất cứ tập tin nào, trừ các tập tin hệ thống (system file). Khi một thư mục nào đó đã được mã hóa thì không chỉ tất cả tập tin và thư mục con hiện có được mã hóa mà những tập tin mới tạo ra sau này cũng sẽ được mã hóa.



Windows XP tự động tạo ra một khóa giải mã duy nhất nếu bạn sử dụng tính năng này. Tuy nhiên, nếu bạn gỡ bỏ cài đặt Windows XP mà không sao lưu các khóa này, cũng như không để lộ chúng thì không ai (kể cả chính bạn) không thể giải mã những tập tin trên. Nếu mã hóa dữ liệu theo cách này, bạn không cần sử dụng một công cụ xóa an toàn nữa, tất cả những gì cần làm là ném đĩa cứng vào sọt rác.

Tiện ích tăng tốc Windows XP

Sau một thời gian sử dụng, hệ điều hành Windows có thể bị chạy chậm lại bởi nhiều lý do như các thư viện liên kết file động DLL bị lỗi hay do các loại phần mềm gián điệp cài lén vào hệ thống khi bạn lướt web .

Trong tình trạng đó, rất có thể bạn muốn cài lại hệ điều hành, tuy nhiên bạn hãy thử sử dụng Process Explorer một tiện ích của Microsoft phát hành cho mục đích sửa lỗi hệ thống một cách nhanh chóng hơn. Tải về tại đây và giải nén, tiện ích này có khả năng thiết lập lại cấu hình gốc của hệ thống cũng như tìm và diệt các phần mềm nhỏ ăn mòn bộ nhớ, một nguyên nhân làm chậm máy tính.



Giao diện của tiện ích được phân chia thành các cột với các nhóm như bộ nhớ hay bộ xử lý, qua hình thức trực quan đó bạn có thể chọn lựa để kiểm tra các chương trình chạy thường trực trong bộ nhớ bằng thao tác click phải chuột. Qua đó bạn có thể loại bỏ những file không cần thiết bằng phím bấm Del, tuy nhiên bạn phải cẩn thận trước khi xoá bởi nếu đó là file cần thiết cho Windows, sau khi xoá hệ thống sẽ ngưng chạy.